|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 23/2025/DS-ST Ngày: 05/3/2025 Về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI - TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Tuấn Khanh.
Ông Đặng Hoàng Mích.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Duy Thức – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thảo Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 61/2016/TLST-DS ngày 04 tháng 3 năm 2016 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 361/2024/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2025/QĐST-DS ngày 06 tháng 01 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2025/QĐST-DS ngày 06 tháng 02 năm 2025 giữa:
* Nguyên đơn: Ông Dương Hồng P, sinh ngày 27/10/1964. (Có mặt)
Bà Phạm Thị L, sinh ngày 29/6/1968. (Có mặt)
Cùng địa chỉ: ấp D C, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre.
* Bị đơn: Ông Phạm Văn Q, sinh năm 1946. (Vắng mặt).
Bà Nguyễn Thị Kim L1, sinh năm 1951. (Vắng mặt).
Cùng địa chỉ: ấp D, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Phạm Văn T, sinh năm 1975. (Vắng mặt).
- Phạm Thị Trúc M, sinh năm 1978. (Vắng mặt).
- Phạm Thị Cẩm L2, sinh năm 1981. (Vắng mặt).
- Phạm Thị Cẩm N, sinh năm 1983. (Vắng mặt).
- Phạm Thị Bảo T1, sinh năm 1987. (Vắng mặt).
Cùng địa chỉ: ấp D, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn trình bày:
Nguyên vào năm 2004, ông P và bà L có mua phần đất thuộc thửa 807, 808, tờ bản đồ số 01, diện tích 730m², tọa lạc tại ấp D, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre từ bà Nguyễn Thị L3 là dì ruột của bà Phạm Thị L (vợ ông Dương Hồng P). Trên phần đất có 19 cây dừa và một ngôi nhà cột bê tông, mái tole.
Ngày 25/12/2004, Ủy ban nhân dân huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 807 diện tích 300m² ONT, thửa 808 diện tích 430m² cùng tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp D, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre cho ông Dương Hồng P và bà Phạm Thị L.
Vợ chồng ông P và bà L canh tác đến ngày 25/9/2008 thì vợ chồng ông Phạm Văn Q có đào đất khóa đường đi vào nhà ông Dương Hồng P và rào kẽm gai không cho vợ chồng ông P và bà L vào phần đất để canh tác và ông Q chiếm đoạt và canh tác hoàn toàn diện tích 730m² thuộc thửa 807, 808, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp D, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre. Phía bị đơn đã làm chết 08 cây dừa, hiện tại còn 11 cây dừa đang cho trái.
Nay ông P và bà L yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Phạm Văn Q, bà Nguyễn Thị L1 cùng những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phạm Văn T, Phạm Thị Trúc M, Phạm Thị Cẩm L2, Phạm Thị Cẩm N, Phạm Thị Bảo T1 trả cho ông P, bà L phần đất diện tích 730m² thuộc thửa 807, 808, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp D, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre, 01 căn nhà trên thửa đất và 11 cây dừa do ông Dương Hồng P và bà Phạm Thị L đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ông P, bà L xin rút lại yêu cầu ông Q bà L1 phải trả cho ông bà số tiền dừa mà vợ chồng ông Q, bà L1 thu hoạch của 19 cây dừa đang cho trái tên phần đất đó. Mỗi tháng là 80 trái, 1 năm cho trái 10 tháng, 1 năm và 800 trái ông thu hoạch suốt 8 năm nay nên 800 trái x 80 tháng = 64.000 trái với giá 5.000₫ một trái, tổng số tiền là 32.000.000 đồng.
Do phía bị đơn chống đối nên Tòa án không thể tiến hành xem xét, thẩm định đo đạc, định giá được nên nguyên đơn không yêu cầu tiến hành xem xét, thẩm định đo đạc, định giá mà yêu cầu Tòa án sử dụng trích lục bản đồ ngày 16/4/2024 làm cơ sở giải quyết vụ án.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, phía bị đơn trình bày:
Không đồng ý theo yêu cầu của bên nguyên đơn, bởi vì đất tranh chấp thửa 807, 808 là của gia đình ông Q. Sau đó gia đình ông Q là ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị N1 cho bà L3 ở nhờ. Sau đó bà L3 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là sai quy tắc, do đó bà L3 bán đất cho bên bà L, ông P là sai. Bản án Tòa án nhân dân huyện Bình Đại số 21 và bản án Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre số 287 là không đúng.
Tại bản án sơ thẩm của tòa án nhân dân huyện Bình Đại đưa ra tứ cận là không đúng đối với thửa đất mà bên P, bà L tranh chấp, đồng thời bên ông P bà L chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà L3 là không đúng. Tại thời điểm chưa chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ bà L3 sang ông P bà L thì ông Q có khiếu nại. Tuy nhiên sự việc chưa giải quyết xong thì Ủy ban nhân dân huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bên ông P, bà L. Phía bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Văn T, Phạm Thị Trúc M, Phạm Thị Cẩm L2, Phạm Thị Cẩm N, Phạm Thị Bảo T1 không đến Tòa án tham gia tố tụng và trình bày ý kiến hay quan điểm của mình về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý xác định đây là vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” là chưa chính xác. Quan hệ tranh chấp trong vụ án này phải xác định là “Đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại”. Quan hệ pháp luật này thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án nhân dân huyện Bình Đại theo qui định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Sau khi thụ lý vụ án, Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về: xác định đúng tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng; lấy lời khai đương sự; yêu cầu đương sự cung cấp chứng cứ; tổ chức phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải giữa các đương sự. Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và việc xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại các điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại các điều 70, 72, 73 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng Điều 26, 27 Luật đất đai năm 2024; Điều 158, 163, 164, 166, 169 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 244 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015:
Chấp nhận yêu cầu của ông Dương Hồng P và bà Phạm Thị L đối với ông Phạm Văn Q, bà Nguyễn Thị Kim L1 và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phạm Văn T, Phạm Thị Trúc M, Phạm Thị Cẩm L2, Phạm Thị Cẩm N, Phạm Thị Bảo T1 về việc “Đòi lại tài sản là Quyền sử dụng đất”.
Buộc ông Phạm Văn Q, bà Nguyễn Thị Kim L1 và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phạm Văn T, Phạm Thị Trúc M, Phạm Thị Cẩm L2, Phạm Thị Cẩm N, Phạm Thị Bảo T1 phải trả lại cho ông Dương Hồng P và bà Phạm Thị L phần đất có diện tích 730 m², thuộc thửa 807, 808 tờ bản đồ số 1, tọa lạc ấp D xã B do Dương Hồng P và Phạm Thị L đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, căn nhà trên đất và 11 cây dừa đang cho trái trên đất.
Đình chỉ đối với yêu cầu về việc yêu cầu ông Q, bà L1 bồi thường số tiền thu hoạch dừa trên đất (19 cây dừa đang cho trái) là 32.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, HĐXX nhận định:
- [1] Về tố tụng: Tòa án tống đạt văn bản tố tụng cho bị đơn, người có quyền, lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định pháp luật nhưng bị đơn, người có quyền, lợi, nghĩa vụ liên quan nhiều lần vắng mặt không lý do. Căn cứ các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn và người có quyền, lợi, nghĩa vụ liên quan.
- [2] Về nội dung: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn cùng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trả lại cho nguyên đơn phần đất có diện tích 730 m², thuộc thửa 807, 808 tờ bản đồ số 1, tọa lạc ấp D xã B, huyện B do Dương Hồng P và Phạm Thị L đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, căn nhà trên đất và 11 cây dừa đang cho trái trên đất. Ông Phạm Văn Q và bà Nguyễn Thị Kim L1 không đồng ý yêu cầu của nguyên đơn.
- [2.1] Xét nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp: Theo Bản án Dân sự sơ thẩm số 21/2005/DSST ngày 21/12/2005 của Tòa án nhân dân huyện Bình Đại và Bản án dân sự phúc thẩm số 287/2006/DS-PT ngày 17/3/2006 của Tòa án nhân dân Tỉnh Bến Tre thì thửa đất số 807, 808 tờ bản đồ số 1, xã B. Diện tích đất tranh chấp là 730 m² đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp cho bà Nguyễn Thị L3 vào ngày 10/9/1996. Năm 2004, bà L3 chuyển nhượng Quyền sử dụng đất cho ông Dương Hồng P và bà Phạm Thị L. Ông P và bà L được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 28/12/2004. Ông P, bà L quản lý sử dụng phần đất tranh chấp kể từ tháng 10/2004, đến tháng 7/2008 thì bên gia đình ông Q, bà L1 tranh chấp. Căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng ông P và bà L được cấp ngày 28/12/2004 đã đủ cơ sở chứng cứ để xác định thửa đất 807, 808 tờ bản đồ số 1, xã B thuộc quyền sử dụng của ông P và bà L. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của ông P, bà L là có cơ sở nên được HĐXX chấp nhận.
- [2.2] Phía ông Q không đồng ý yêu cầu của nguyên đơn và cho rằng đất đang tranh chấp là của gia đình ông Q nhưng ông Q không có chứng cứ để chứng minh. Ông Q không đồng ý với Bản án Dân sự sơ thẩm số 21/2005/DSST ngày 21/12/2005 của Tòa án nhân dân huyện Bình Đại và Bản án dân sự phúc thẩm số 287/2006/DS-PT ngày 17/3/2006 của Tòa án nhân dân Tỉnh Bến Tre, ông Q cho rằng hai bản án này không đúng. Tuy nhiên, theo công văn số 2278/DS ngày 28/9/2006 của Tòa Dân Sự Tòa án nhân đân tối cao trả lời khiếu nại cho ông Nguyễn Văn H (cha ông Q) thì hai Bản án này là có căn cứ nên không chấp nhận yêu cầu của ông H nêu trong đơn khiếu nại. Vì vậy, lời trình bày của ông Nguyễn Văn Q1 là không có cơ sở để HĐXX chấp nhận.
- [2.3] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xem xét, thẩm định đo đạc, định giá phần đất tranh chấp nhưng phía gia đình ông Q1 đã chống đối không cho cán bộ Tòa án phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành xem xét, thẩm định đo đạc, định giá phần đất tranh chấp. Nay, phía nguyên đơn yêu cầu Tòa án căn cứ vào trích lục họa đồ thửa đất số 807, 808 tờ bản đồ số 1 và cung cấp thông tin hiện trạng trên thửa đất có 01 căn nhà và còn 11 cây dừa của nguyên đơn. Vì vậy, HĐXX căn cứ vào trích lục họa đồ thửa đất số 807, 808 tờ bản đồ số 1 và mô tả tài sản của nguyên đơn làm cơ sở giải quyết vụ án.
- [3] Tại phiên tòa, nguyên đơn xin rút lại dối với yêu cầu ông Q1, bà L1 bồi thường số tiền thu hoạch dừa trên đất (19 cây dừa đang cho trái) là 32.000.000 đồng. Xét đây là sự tự nguyện của nguyên đơn và phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX đình chỉ yêu cầu này của nguyên đơn.
- [4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
- [5] Về chi phí tố tụng: Chi phí tố tụng nguyên đơn tự nguyện nộp và đã thanh toán xong.
- [6] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí. Tuy nhiên, Ông Phạm Văn Q và bà Nguyễn Thị Kim L1 là người cao tuổi nên được miễn nộp án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 35, 147, 227, 228, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 158, 163, 164, 166, 169 của Bộ luật dân sự 2015;
Căn cứ Điều 26, 27, 28, 135 của Luật Đất đai 2024.
Căn cứ các Điều 12, 26, 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Phạm Văn Q, bà Nguyễn Thị Kim L1 và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phạm Văn T, Phạm Thị Trúc M, Phạm Thị Cẩm L2, Phạm Thị Cẩm N, Phạm Thị Bảo T1 có nghĩa vụ di dời các tài sản và cây trồng của mình để trả lại cho ông Dương Hồng P và bà Phạm Thị L phần đất có diện tích 730 m², thuộc thửa 807, 808 tờ bản đồ số 1, tọa lạc ấp D xã B cùng căn nhà trên đất và 11 cây dừa đang cho trái trên đất do Dương Hồng P và Phạm Thị L đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. (có trích lục bản đồ kèm theo).
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu ông Q, bà L1 bồi thường số tiền thu hoạch dừa trên đất (19 cây dừa đang cho trái) là 32.000.000 đồng.
- Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn tự nguyện chịu và đã thanh toán xong.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp 800.000 (Tám trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001693 ngày 06/6/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại.
- - Hoàn trả cho bà Phạm Thị L số tiền tạm ứng án phí đã nộp 5.300.000 (Năm triệu ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001265 ngày 04/3/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại.
- - Hoàn trả cho ông Dương Văn P1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp 5.300.000 (Năm triệu ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001265 ngày 04/3/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại.
- - Ông Phạm Văn Q và bà Nguyễn Thị Kim L1 là người cao tuổi nên được miễn nộp án phí.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7 b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thanh Tùng |
Bản án số 23/2025/DS-ST ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI TỈNH BẾN TRE về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 23/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Dương Hồng P yêu cầu ông Phạm Văn Q và vợ, con trả lại cho ông phần đất đã chiếm
