Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ QUẾ VÕ

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2025/DS-ST

Ngày 04 tháng 4 năm 2025

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên

Các hội thẩm nhân dân: 1. Nguyễn Thị Phú

2. Bà Ngô Thùy Phương

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nụ - Thư ký TAND thị xã Quế Võ

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” thụ lý số 36/2024/TLST- DS ngày 18 tháng 10 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐST- DS ngày 12/3/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 23B ngày 25/3/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Đức Đ, sinh năm 1981

Địa chỉ: Tổ A, T, quận L, thành phố Hà Nội

Người đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Trọng N, sinh năm 1981

Địa chỉ: Thôn M, xã M, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh (Có mặt)

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1967 (Vắng mặt)

Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1968 (Vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Khu phố B, phường B, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1992 (Vắng mặt)
  2. Chị Vũ Thị H, sinh năm 1996 (Vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Khu phố B, phường B, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Năm 2012, nguyên đơn nhận chuyển nhượng từ hộ ông Nguyễn Thế T ở khu phố T, phường B 01 thửa đất có diện tích 623m², thửa đất có vị trí như sau:

Phía Đông giáp đất nhà bà N1 – Xuất; Phía Bắc giáp đường; Phía Tây giáp nhà ông Đ1; Phía nam giáp đất nhà bà P – Mến.

Thời điểm nguyên đơn nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hiện trạng thửa đất lúc đó một phần là đất liền thổ và một phần là ao thùng. Các hộ giáp ranh sử dụng đất ổn định. Đối với phần vị trí đất giáp ranh với đất nhà ông X thì một phần được gia đình ông X xây dựng công trình phụ còn một phần là bờ đất. Ngày 12/12/2011, nguyên đơn đã được UBND huyện Q (nay là thị xã Q) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đố với thửa đất số 157, tờ bản đồ số 22, diện tích 623m² ở thôn T, xã B, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh theo đúng quy định của pháp luật. Sau khi mua đất, do chưa có nhu cầu sử dụng nên nguyên đơn vẫn giữ nguyên hiện trạng thửa đất trên.

Ngày 29/10/2020, nguyên đơn đã làm thủ tục tách thửa để thực hiện việc chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Thế T1 và bà Nguyễn Thị B. Do thời điểm đó chưa tách được thửa ngay nên nguyên đơn đã ủy quyền cho ông T1 đi làm một số thủ tục liên quan tại V đăng ký đất đai về vấn đề xác định ranh giới thửa đất mà ông T1 dự kiến mua của nguyên đơn lúc bất giờ. Sau khi hoàn tất thủ tục tách thửa thì đến ngày 09/9/2021 giữa nguyên đơn và vợ chồng ông T1 đã ký hợp đồng chuyển nhượng một phần thửa đất cho ông Nguyễn Thế T1 và bà Nguyễn Thị B ở xã V, huyện G, tỉnh Bắc Ninh với diện tích 107.1m². Ngày 20/9/2021, nguyên đơn đã được Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh B chấp nhận đăng ký biến động và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 561, tờ bản đồ số 22, diện tích 515.9m². Vợ chồng ông T1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 107,1m² tại thửa đất số 560, tờ bản đồ số 22.

Năm 2021, khi làm thủ tục đăng ký biến động là tách thửa thì nguyên đơn đã cùng cơ quan chức năng tiến hành lập biên bản mô tả ranh giới đối với thửa đất số 561, tờ bản đồ số 22, diện tích 515.9m² xác định thửa đất có vị trí giáp các nhà ông Nguyễn Văn X, ông Trần Văn P, ông Nguyễn Thế T1, ông Nguyễn Thế Q và giáp đường giao thông. Tại biên bản này thì các hộ liền kề đã ký giáp ranh trong đó có ông X.

Năm 2022 – 2023, nguyên đơn muốn tách ra để bán một phần thửa đất này nhưng phát hiện bị thiếu một phần đất giáp với đất nhà ông X – bà N1. Nguyên đơn đã trao đổi, nói chuyện với vợ chồng ông X nhưng không thành nên nguyên đơn đã làm đơn khởi kiện ra Tòa án. Quá trình giải quyết trước đây, ông X và bà N1 đã thống nhất trả nguyên đơn phần diện tích theo hiện trạng bản đồ địa chính và hiện trạng sử dụng. Hai bên đã tiến hành cắm cọc để nguyên đơn xây dựng mốc giới. Tuy nhiên, đến ngày hôm sau nguyên đơn đưa người đến để xây dựng mốc giới như đã thỏa thuận thì phát hiện mốc giới hôm trước hai bên thống nhất không còn mà lại bị lệnh về phía đất của nguyên đơn.

Do hai bên không thống nhất được quan điểm giải quyết vụ án nên nguyên đơn làm đơn này đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ giải quyết buộc ông X và bà N1 phải trả lại nguyên đơn diện tích đất theo hiện trạng mốc giới tranh chấp (căn cứ theo sơ đồ hiện trạng được đo tại buổi thẩm định) là 10.3 m² nằm ở phía Đông thửa đất của nguyên đơn. Trên phần đất tranh chấp chưa xây dựng công trình nào. Hiện gia đình ông X đã phá bờ đất và đổ đất lấp thùng, ao của gia đình.

Về giá trị đất: Tại buổi thẩm định và định giá thì giữa nguyên đơn và bị đơn đã thống nhất về giá đất là 6.000.000đ/1m². Đến nay, nguyên đơn vẫn giữ nguyên giá trị về tài sản tranh chấp như nội dung biên bản định giá.

Đối với phần diện tích đất 107.1m² mà nguyên đơn đã bán cho ông Nguyễn Thế T1 thì đã hoàn thiện về mặt hồ sơ và hai bên không phát sinh tranh chấp. Đối với phần diện tích giáp với đất nhà ông P, bà M (thửa đất số 205) và một phần giáp với thửa 199 cùng tờ bản đồ số 22 thì khi đo đạc do đất nhà họ đổ cao có trồng sang đất của nguyên đơn. Do hai bên chưa kiểm tra, thống nhất về mốc giới nên hiện tại hai bên không có tranh chấp gì. Sau này nếu phát sinh tranh chấp thì nguyên đơn sẽ đề nghị giải quyết trong vụ án khác.

Trong phạm vi vụ án này, nguyên đơn đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ giải quyết xác định mốc giới theo bản đồ địa chính và yêu cầu ông X và bà N1 phải trả lại cho nguyên đơn diện tích đất mà hiện ông X, bà N1 đang sử dụng.

- Về án phí và chi phí tố tụng: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 04/12/2024, bà Nguyễn Thị N1 trình bày:

Nguồn gốc đất của gia đình bà đang sử dụng là của bố mẹ chồng bà để lại cho vợ chồng bà có tứ cận như sau:

  • Phía Bắc giáp đường liên thôn;
  • Phía Đông giáp nhà ông Nguyễn Văn M1;
  • Phía Nam giáp nhà Hiền X1 và nhà ông U;
  • Phía Tây giáp đất nhà anh Đ;

Tổng diện tích gia đình bà được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng là 599m². Tài sản trên đất có 01 ngôi nhà 02 tầng và công trình phụ. Vị trí giáp đất nhà bà U và anh Đ là thùng vũng. Giáp ranh với đất nhà anh Đ không có bờ. Hiện trạng đất của anh Đ là đất ao chưa có công trình xây trên đất. Phần đất giáp đường tiếp giáp với đất nhà anh Đ bà đã xây công trình phụ từ lâu. Trước đây anh Đ khởi kiện và được Tòa án giải quyết hòa giải là hai bên xác định được mốc giới, nhưng không biết vì sao đến nay anh Đ lại khởi kiện tiếp và cho rằng gia đình bà sử dụng chồng lấn sang đất nhà anh Đ.

Quan điểm của bà là không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì đất nhà bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sử dụng ổn định.

Ông Nguyễn Văn X trình bày:

Gia đình ông hiện đang quản lý và sử dụng thửa đất số 158, tờ bản đồ số 22 có diện tích 599m². Nguồn gốc đất là do bố mẹ ông được cấp sử dụng do gia đình có 02 con dâu.

Quá trình sử dụng đất, gia đình ông sử dụng ổn định, đúng mục đích và thực hiện nghĩa vụ nộp thuế theo quy định.

Phía Tây thửa đất của gia đình ông giáp đất của anh Đ. Trước đây hiện trạng đất của hai nhà đều là ao, thùng nhưng hiện tại hai bên đều đổ đất nhưng chưa xây dựng tường xác định ranh giới.

Tuy nhiên, gần đây anh Đ có đơn yêu cầu vợ chồng ông phải trả lại đất vì cho rằng gia đình ông sử dụng đất lấn chiếm của anh Đ. Với ý kiến và yêu cầu của anh Đ là không chính xác vì gia đình ông sử dụng đất đúng hiện trạng, không lấn chiếm nên ông không đồng ý với ý kiến của anh Đ.

Ông xác nhận, vợ chồng ông đã nhận thông báo của Tòa án nhiều lần đề nghị xuống Tòa án làm việc nhưng do công việc của ông bận và ông không có tranh chấp gì nên ông không đồng ý đến Tòa án làm việc theo yêu cầu của Tòa án. Đồng thời, ông cũng đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đối với yêu cầu khởi kiện của anh Đ, ông không nhất trí.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn, người có quyền, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn X và bà Nguyễn Thị N1 cùng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trả lại nguyên đơn 10.3m² đất lấn chiếm được mô tả tại các điểm 2-3-3'-4'-4-2 (theo hồ sơ đo đạc).

Đại diện VKSND thị xã Quế Võ tham gia phiên toà nhận xét:

Về tố tụng: Thẩm phán chủ toạ đã chấp hành đúng các quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án đã khách quan, đảm bảo trình tự thủ tục tố tụng dân sự.

Tại phiên toà HĐXX đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo nguyên tắc xét xử công khai bằng lời nói và liên tục.

Nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, 71, 86 và Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 72, 86 và Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 158,163, 164, 175, 176, 221 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 26, Điều 31, Điều 236 Luật đất đai năm 2024.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Đức Đ.

Buộc ông Nguyễn Văn X, bà Nguyễn Thị N1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn C và chị Vi Thị H1 trả lại anh Nguyễn Đức Đ diện tích 10.3m² đất nằm tại vị trí phía Đông thửa đất số 561, tờ bản đồ số 22, diện tích 515.9m² được Sở tài nguyên và Môi trường cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 130711, số vào sổ cấp GCN: CS 01014 ngày 20/9/2021 cho anh Nguyễn Đức Đ được xác định từ điểm 2-3-3'-4'-4-2 (Có sơ đồ đo vẽ kèm theo).

Về án phí và chi phí tố tụng: Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Đức Đ khởi kiện vụ án dân sự yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn X và bà Nguyễn Thị N1 phải trả lại 10.3 m² đất tại thửa đất số 561 tờ bản đồ số 22 ở thôn T, xã B, thị xã Q (nay là khu phố T, phường B, thị xã Q), đây là tranh chấp dân sự; Ông Nguyễn Văn X, bà Nguyễn Thị N1 là bị đơn có địa chỉ thường trú tại khu phố B, phường B, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. Do đó, theo quy định tại khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

[2] Về việc vắng mặt người tham gia tố tụng:

Tại phiên toà hôm nay, tòa án đã tống đạt hợp lệ các quyết định tố tụng lần 2 nhưng bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt không có lý do. Do đó, cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án giải quyết vắng mặt bị đơn và người có quyền, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung:

[1] Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất thửa đất số 157 tờ bản đồ số 22 thôn T, xã B:

Thửa đất số 157, tờ bản đồ số 22, diện tích 623m² ở khu phố T, phường B có nguồn gốc là của hộ ông Nguyễn Thế T. Năm 2011, vợ chồng ông T thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất trên cho anh Nguyễn Đức Đ theo quy định. Ngày 12/12/2011, anh Nguyễn Đức Đ được Ủy ban nhân dân huyện Q, tỉnh Bắc Ninh đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên theo quy định.

Ngày 29/10/2020, nguyên đơn làm thủ tục tách thửa đất số 157 tờ bản đồ số 22 để thực hiện việc chuyển nhượng một phần đất với diện tích 107.1m² cho ông Nguyễn Thế T1 và bà Nguyễn Thị B. Ngày 09/9/2021, giữa nguyên đơn và vợ chồng ông T1 đã ký hợp đồng chuyển nhượng một phần đất cho ông T1 với diện tích 107.1m². Ngày 20/9/2021, nguyên đơn đã được Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với số thửa 561, tờ bản đồ số 22, diện tích 515.9m²; Vợ chồng ông T1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 560, tờ bản đồ số 22, diện tích 107.1m².

Về quá trình sử dụng đất và thủ tục tách thửa, hội đồng xét xử nhận thấy:

Anh Đ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của vợ chồng ông T từ năm 2011. Hiện trạng thửa đất ban đầu có một phần là đất liền thổ, một phần là đất ao. Do chưa có nhu cầu sử dụng nên anh Đ vẫn giữ nguyên hiện trạng đất. Đến năm 2020, anh Đ làm thủ tục đăng ký biến động và thực hiện biến động năm 2021. Khi thực hiện đăng ký biến động thì Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã Q đã tiến hành xác định ranh giới, mốc giới đất tại thực địa thì đại diện các hộ giáp ranh đã ký vào biên bản xác định nội dung đo đạc về ranh giới, trong đó có ông X.

Qua xác minh, từ thời điểm sử dụng đất, khảo sát ranh giới, mốc giới theo hiện trạng để lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2000, đo vẽ hồ sơ kỹ thuật thửa đất năm 2003 cho đến năm 2011, ông T sử dụng đất ổn định, không phát sinh tranh chấp các các hộ liền kề. Sau khi thực hiện việc chuyển nhượng cho anh Đ thì anh Đ sử dụng đất ổn định, không chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, tách, nhập thửa cho đến năm 2021 thực hiện đăng ký biến động. Tuy nhiên việc đăng ký biến động được thực hiện đúng trong phạm vi quyền sử dụng đất tại thửa đất số 157 tờ bản đồ số 22, diện tích 623m² ở đúng vị trí và diện tích.

Đối với diện tích đất của hộ ông X và bà N1 được xác định là do cha ông để lại.

Ngày 05/10/2000, ông X đã có đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất với diện tích 593m² có tứ cận như sau:

  • Phía Đông giáp hộ ông M2, Phía Tây giáp đất hộ ông T; Phía Nam giáp đất hộ bà U; Phía Bắc giáp ngõ xóm.

Tại đơn đăng ký quyền sử dụng đất, ông X đã cam đoan nội dung kê khai là đúng. Đơn của ông X đã được trưởng thôn và đại diện UBND xã B xác nhận. Tại quyết định số 383/UB ngày 29/12/2000, UBND huyện Q đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Văn X ở thôn B với diện tích 593m².

Năm 2003, xí nghiệp T2 bản đồ 103 là cơ quan được Sở địa chính ủy quyền đã phối hợp cùng với địa phương tiến hành đo đạc hiện trạng sử dụng đất, lập hồ sơ địa chính đã xác nhận hộ ông X sử dụng đất có diện tích 599m² tại thửa đất số 158 tờ bản đồ số 22. Tại biên bản xác định ranh giới mốc giới thì thửa đất của hộ ông X đã được ông T ký xác nhận vào biên bản xác định ranh giới, thửa đất của hộ ông Nguyễn Thế T đã được bà N1 ký xác nhận và biên bản xác định ranh giới thửa đất. Như vậy, về hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2000, hồ sơ đo đạc, xác định hiện trạng, diện tích đất của hộ ông X, hộ ông T là phù hợp với quy định của pháp luật, các bên đã thừa nhận diện tích được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, biên bản xác định ranh giới, mốc giới, hồ sơ kỹ thuật là đúng với hiện trạng sử dụng trên thực tế.

Về nghĩa vụ đóng thuế đất: Theo xác minh tại địa phương thì nghĩa vụ đóng thuế của hộ ông X thực hiện theo hồ sơ kỹ thuật và ông thực hiện hàng năm không nợ thuế.

Như vậy, có thể xác định diện tích đất của hộ ông T được sử dụng trước năm 2011 là 623m². Sau đó chuyển nhượng cho anh Đ toàn bộ thửa đất nên từ năm 2011, anh Đ được quyền quản lý và sử dụng 623m². Việc anh Đ đăng ký biến động quyền sử dụng dụng đất nằm trong phạm vi sử dụng đất của anh Đ theo đúng hồ sơ, bản đồ địa chính mà không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các hộ liền kề.

Lý do xảy ra tranh chấp vì tại vị trí ranh giới giữa đất của anh Đ và đất của ông X chưa xây tường ngăn, hiện trạng trước là ao thùng ao sau đó lấp vào, hiện trạng chưa có mốc giới cụ thể nên hiện tại hai bên chỉ thể hiện mốc giới trên bản đồ địa chính. Quá trình giải quyết tại Tòa án, mặc dù đã được báo gọi nhiều lần nhưng vợ chồng ông X cố tình vắng mặt, không cung cấp tài liệu, chứng minh quyền sử dụng phần diện tích đất tranh chấp là 10.3m² là đất của hộ ông bà được quyền quản lý và sử dụng. Như vậy, tòa án căn cứ vào hồ sơ, tài liệu thu thập được để giải quyết vụ án theo đúng hồ sơ pháp lý về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để làm cơ sở giải quyết và xác nhận diện tích đất của anh Đ được quyền sử dụng là thửa đất số 561 tờ bản đồ 22 diện tích 515.9m².

Theo kết quả thẩm định thì hiện ông X, bà N1 cắm mốc giới sang đất của anh Đ là 10.3m², trên phần diện tích đất tranh chấp hiện không có công trình xây dựng nào.

Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định ranh giới, mốc giới và quyền sử dụng tại thửa đất số 561 tờ bản đồ 22 diện tích 515.9m² của anh Nguyễn Đức Đ là đúng với bản đồ địa chính, phù hợp với hiện trạng sử dụng đối với đất và phù hợp hiện trạng hồ sơ được đo vẽ khi Tòa án tiến hành thẩm định. Nhận thấy, việc khởi kiện của anh Đ là có cơ sở.

[8] Đối với việc thẩm định tài sản trên đất và định giá quyền sử dụng đất thì các đương sự đều đã có sự thống nhất theo giá thị trưởng tại thời điểm định giá, đồng thời Tòa án đã xác minh về giá đất tại địa phương xác định là 6.000.000đ/1m².

[12] Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng. Ông Nguyễn Văn X và bà Nguyễn Thị N1 phải nộp 8.100.000đ tiền chi phí tố tụng (xem xét thẩm định và định giá). Xác nhận nguyên đơn đã nộp tạm ứng số tiền này nên ông X, bà N1 có trách nhiệm trả anh Đ 8.100.000đ chi phí tố tụng.

[12] Về án phí: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Theo kết quả đo đạc hiện trạng thì thấy chủ sử dụng thửa đất 205 là ông P, bà M (thửa đất số 205) và chủ sử dụng thửa 119 cùng tờ bản đồ số 22 có đổ đất trồng lấn sang thửa đất 561 cùng tờ bản đồ số 22. Tuy nhiên, nguyên đơn xác định đối với hai thửa đất này nguyên đơn không có tranh chấp với chủ sử dụng đất và không đề nghị Tòa án giải quyết trong vụ án này nên Tòa án không đưa chủ sử dụng hai thửa đất trên tham gia tố tụng trong vụ án là phù hợp.

Từ những nhận định trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: khoản 9 Điều 26; Khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Các điều 157, 158, 217, 227, 228, 266, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Các Điều 158, 163, 164, 175, 176, 221 Bộ luật dân sự năm 2015.

Các Điều 26, Điều 31, Điều 236 Luật đất đai năm 2024.

Khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc ông Nguyễn Văn X, bà Nguyễn Thị N1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn C và chị Vi Thị H1 trả lại anh Nguyễn Đức Đ diện tích 10.3m² đất nằm tại vị trí phía Đông thửa đất số 561, tờ bản đồ số 22, diện tích 515.9m² được Sở tài nguyên và Môi trường cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 130711, số vào sổ cấp GCN: CS 01014 ngày 20/9/2021 cho anh Nguyễn Đức Đ được xác định từ điểm 2-3-3'-4'-4-2 (Có sơ đồ đo vẽ kèm theo).

Án phí: Ông Nguyễn Văn X và bà Nguyễn Thị N1 phải chịu 3.090.000đ án phí DSST.

Trả lại anh Nguyễn Đức Đ 1.570.000đ tiền tạm ứng án phí tại biên lai thu số 0000719 ngày 18/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.

Chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Văn X và bà Nguyễn Thị N1 phải nộp 8.100.000đ tiền chi phí tố tụng (xem xét thẩm định và định giá). Xác nhận nguyên đơn đã nộp tạm ứng số tiền này nên ông X, bà N1 có trách nhiệm trả anh Đ 8.100.000₫ chi phí tố tụng.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận :

  • - Tòa án tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND thị xã Quế Võ;
  • - Chi cục THADS thị xã Quế Võ;
  • - Những người TGTT;
  • - Lưu Hs, Vp.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Liên

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2025/DS-ST ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 23/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức D - Nguyễn Văn Xuất - Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger