|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 23/2025/DS-PT Ngày 20-3-2025 V/v tranh chấp kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Văn Tỉnh
Các Thẩm phán: Bà Đặng Hồ Điệp, Ông Nguyễn Quang Kiên
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Trần Trọng An - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng: Bà Vũ Thị Trang Nhung - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 100/2025/TLPT- DS ngày 12 tháng 12 năm 2024 về việc tranh chấp kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất.
Do Bản án sơ thẩm số 06/2024/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy bị kháng cáo.
Theo Quyếtđưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐ-PT ngày 20 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 22/2025/QĐ-PT ngày 20 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị H, sinh năm 1969; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; Có mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1961; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Cụ Nguyễn Thị T, sinh năm 1935, nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt.
- Ông Phạm Thể L1, sinh năm 1971; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; Có mặt.
- Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1970; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; Có mặt.
- Anh Phạm Ngọc T1, sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; Có mặt.
- Chị Phạm Thị Kim T2, sinh năm 1985; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Anh Phạm Quốc B, sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Anh Phạm Ngọc H1, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cụ Nguyễn Thị T: Ông Phạm Duy K và bà Đặng Thị Minh L - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố H; địa chỉ: Số A L, phường Q, quận K, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Hoàng Thị H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Hoàng Thị H trình bày: Bà kết hôn với ông Nguyễn Văn V từ năm 1993. Ông bà sinh được 02 con chung là Nguyễn Văn H2, sinh năm 1994; Nguyễn Văn A, sinh năm 1996. Ngoài ra không có con riêng, con nuôi. Ngày 07/4/2011, vợ chồng bà mua của cụ Nguyễn Thị T 02 thửa đất nông nghiệp có tổng diện tích là 888 m², với giá 87.000.000 đồng, cụ thể: Thửa thứ nhất: Diện tích 600 m²; phía Đông dài 38,5 m; Phía Tây dài 38,5 m; Phía Nam dài 15,6 m; Phía Bắc dài 15,6 m. Thửa thứ hai: Diện tích 288 m²; phía Đông dài 11,5 m; Phía Tây dài 11,5 m; Phía Nam dài 25 m; Phía Bắc dài 25 m. Toàn bộ diện tích đất nằm trong tổng diện tích đất nông nghiệp 984,0 m² mà UBND huyện K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D 0367489, số vào sổ cấp giấy 01114/QSDĐ/KT - 04 - Q1 cho cụ Nguyễn Thị T từ ngày 20/7/1995. Hai bên ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thể hiện bên chuyển nhượng là cụ Nguyễn Thị T và ông Phạm Thế L2 (con trai cụ T), trong hợp đồng viết nhầm là Phạm Văn N, bên nhận chuyển nhượng là vợ chồng bà. Tuy nhiên hợp đồng không được chứng thực theo quy định của pháp luật. Người viết hộ hợp đồng là ông Tô Văn U - Cán bộ địa chính xã Đ thời điểm đó. Toàn bộ tiền mua đất thuộc quyền sở hữu của vợ chồng bà; hai con của ông bà khi đó còn nhỏ không đóng góp được gì. Sau khi giao đủ tiền, cụ T đã giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông bà từ năm 2011. Trước khi mua 02 thửa đất nông nghiệp nêu trên, ông bà không biết đất của cụ T ở vị trí nào. Khi giao nhận 02 thửa ruộng, do cụ T bận nên nhờ bà M (con dâu của cụ T) dẫn vợ chồng bà ra chỉ 02 thửa ruộng ở cánh đồng Đường Nức, gồm 01 thửa 288 m² và 01 thửa 600 m², bà M nói đó là ruộng của cụ T. Vì tin tưởng là hàng xóm nên vợ chồng bà không có ý kiến gì, không đo lại diện tích đất đã mua. Ngay sau khi mua ruộng xong, vợ chồng bà sử dụng cấy lúa được 07 - 08 năm thì không cấy nữa. Nay thửa đất trên cho vợ chồng anh Nguyễn Văn T3, địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ cấy lúa nhưng bà vẫn đóng sản lượng thuế do ông Nguyễn Văn K1 thu.
Cuối năm 2023, bà đến nhà ông Nguyễn Đức H3 - Trưởng thôn Đại Trà Đ xem bản đồ thì phát hiện diện tích đất 600 m² tại khu Đường Nức (chính là thửa đất vợ chồng bà đã mua của cụ T) đứng tên bà M. Vợ chồng bà cùng ông H3 đến nhà ông K1 hỏi ruộng của cụ T ở chỗ nào. Được ông K1 trả lời là ruộng của cụ T ở khu C. Ngoài ra, ông K1 có nói cụ T và bà M đã đổi ruộng cho nhau từ trước năm 2010 để thuận tiện canh tác, chứ thực tế giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở đâu thì ruộng ở đó. Như vậy bà M chỉ đúng 01 thửa ruộng 288m² ở Đường N của cụ T; chỉ sai vị trí thửa ruộng 600 m² ở Đường N. Thửa ruộng 600 m² ở Đường N là ruộng của bà M. Còn thửa ruộng 600 m² ở L mà bà M sử dụng chính là thửa ruộng của cụ T.
Thửa đất 600 m² ở Đường N có vị trí thực tế như sau: Phía Bắc dài 48,5m giáp đất nông nghiệp hộ bà Lê Thị L3 (chồng là ông K2 đã chết); Phía Nam dài 48.5 m giáp đất nông nghiệp hộ bà Phạm Thị H4 (chồng là ông P đã chết); Phía Tây dài 13,5 m, giáp đất nông nghiệp hộ bà Đỗ Thị Kim N1 (chồng là ông S đã chết); Phía Đông giáp mương nước.
Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc bà M phải trả lại cho vợ chồng bà 600 m² đất mà vợ chồng bà đã mua của cụ T như trong hợp đồng đã ghi theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Diện tích đất này ở khu cánh đồng L, thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện K, có vị trí như sau: Phía Bắc dài 15,6 m, giáp đất nông nghiệp hộ cụ Nguyễn Thị N2; phía Tây dài 38,5 m, giáp đất nông nghiệp hộ ông Tô Văn U; phía Nam dài 15,6 m, giáp đất nông nghiệp của ai thì bà không biết; phía Đông dài 38,5 m, giáp đất nông nghiệp hộ ông T3.
Bị đơn Nguyễn Thị M khai: Năm 1982 bà kết hôn với ông Phạm Văn T4 (con trai cụ T). Ông bà sinh được 04 con chung là: Phạm Ngọc T1, sinh năm 1983; Phạm Thị Kim T2, sinh năm 1985; Phạm Quốc B, sinh năm 1987; Phạm Ngọc H1, sinh năm 1990. Ngoài ra, ông bà không có con riêng, con nuôi.
- Về nguồn gốc, diễn biến quá trình quản lý, sử dụng đất nông nghiệp của gia đình bà: Khi bà về làm dâu cụ T; bà và gia đình cụ T đều canh tác (cấy lúa) tại 1331 m² đất nông nghiệp ở cánh đồng T và 228 m² tại đất nông nghiệp ở cánh đồng C thuộc thôn Đ (nay là Đ), xã Đ, huyện K. Khoảng năm 1984, bà ra ăn riêng thì Hợp tác xã Đông Phương chia cho bà 01 thửa đất nông nghiệp, diện tích 600 m² ở khu Đường N thuộc thôn Đ (nay là Đ), xã Đ, huyện K. Năm 1988 bà và cụ T thống nhất đổi ruộng cho nhau để tiện canh tác; tức là bà chuyển sang canh tác (cấy lúa) ở thửa đất nông nghiệp, diện tích 1331 m² tại cánh đồng T, còn cụ T chuyển sang canh tác (cấy lúa) ở thửa đất nông nghiệp, diện tích 600 m² tại khu Đ.
Việc đổi đất giữa bà và cụ T chỉ nói bằng miệng, không lập thành văn bản. Tuy nhiên, việc đổi đất là thực tế, sử dụng ổn định, không có tranh chấp. Bà là người trực tiếp đóng thuế đất nông nghiệp và phí dịch vụ đồng cho Hợp tác xã Đ1 ở thửa đất 1331 m² tại cánh đồng Tên Lửa (đóng cho ông Nguyễn Văn L4, nay đã chết). Cụ T đóng thuế thửa đất 600 m² tại khu Đường N. Lẽ đó, việc đổi đất nông nghiệp giữa bà và cụ T được Hợp tác xã Đ1 biết. Năm 1990, bà sinh con thứ 4 nên gia đình bà có 05 nhân khẩu được giao đất nông nghiệp. Năm 1993, khi Nhà nước chia ruộng lại theo nhân khẩu được hưởng thì gia đình bà được chia thêm 01 thửa đất nông nghiệp, diện tích 600 m² ở khu cánh đồng Láng Khấu và 01 thửa đất nông nghiệp, diện tích 288 m² ở cánh đồng Đường N; mỗi nhân khẩu được chia 492 m², gồm bà và 04 người con (ông T4 chồng bà khi đó đi làm công nhân bảo vệ tại Cảng H, không được giao đất nông nghiệp). Ngày 20/7/1995 mẹ con bà được UBND huyện K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà (Nguyễn Thị M), diện tích 2447 m², số D 0344966, vào sổ cấp giấy chứng nhận số 01066/QSDĐ/KT-04-Q1, gồm 04 thửa:
- 01 thửa diện tích 600 m², mục đích sử dụng: 2 lúa; phía Đông dài 41,9 m; phía Tây dài 42,4 m; phía Nam dài 14,7 m; phía Bắc dài 13,7 m; hạng đất 3 (đây là thửa đất được giao năm 1993 ở khu cánh đồng L).
- 01 thửa diện tích 1331 m²; mục đích sử dụng: 2 lúa; phía Đông dài 42,5 m; phía Tây dài 41,0 m; phía Nam dài 32 m; phía Bắc dài 32 m; hạng đất 3 (đây là thửa đất đã đổi cho cụ T ở khu C từ năm 1988).
- 01 thửa diện tích 288 m²; mục đích sử dụng: 2 lúa; phía Đông dài 14,5 m; phía Tây dài 14,5,0 m; phía Nam dài 19,8 m; phía Bắc dài 19,8 m; hạng đất 2 (đây là thửa đất được giao năm 1993 ở cánh đồng Đường N).
- 01 thửa diện tích 228 m², mục đích sử dụng: 2 lúa; phía Đông dài 15,9 m; phía Tây dài 18,5 m; phía Nam dài 13,2 m; phía Bắc dài 13,2 m; hạng đất 1 (đây là thửa đất ở khu cánh đồng Chân Mạ, có từ khi về làm dâu nhà cụ T).
Gia đình bà cấy lúa tại thửa đất có diện tích 600 m² ở khu cánh đồng Láng Khấu từ năm 1993 đến năm 2013 - 2014, sau đó gia đình bà cho bà Nguyễn Thị H5 mượn cấy nhờ (không phải trả tiền thuê, không phải trả sản lượng). Trước đây, bà là người trực tiếp đóng thuế của thửa đất này đến khi nhà nước có chính sách miễn thuế đất nông nghiệp thì bà không phải đóng thuế nữa. Hiện nay thửa đất này sử dụng để cấy lúa, không có cây trồng gì khác. Vị trí thửa đất như sau: Phía Đông và phía Nam giáp đất nông nghiệp gia đình ông Trần Văn T5; phía Tây giáp đất nông nghiệp gia đình ông Tô Văn U; phía Bắc giáp đất nông nghiệp gia đình cụ Nguyễn Thị V1 (nay ông Nguyễn Văn T6 - con trai cụ V1 sử dụng).
Cùng ngày 20/7/1995, cụ T cũng được UBND huyện K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích 984 m² đất nông nghiệp, đứng tên cụ Nguyễn Thị T (02 nhân khẩu là cụ T và ông L2), gồm 03 thửa: 01 thửa, diện tích 600 m² (đây là thửa đất đã đổi cho bà năm 1988 ở khu cánh đồng Đường Nức); 01 thửa, diện tích 288 m² cũng ở khu cánh đồng Đường N; 01 thửa, diện tích 96 m² ở khu cánh đồng Chân Mạ. Cụ T sử dụng cấy lúa đến khi cao tuổi thì cụ không cấy lúa mà bà cấy lúa vài năm cho đến năm 2011 cụ T và ông L2 không có nhu cầu sử dụng thửa đất 600 m² và thửa đất 288 m² ở khu cánh đồng Đường N, tổng cộng là 888 m² nên cụ T và ông L2 đã bán cho vợ chồng bà H. Bà được cụ T nhờ dẫn bà H ra chỉ vị trí thửa đất 288 m², còn thửa đất 600 m², sau này bà biết cụ T trực tiếp là người chỉ vị trí và bàn giao cho bà H. Từ năm 2011 đến năm 2019 vợ chồng bà H vẫn cấy lúa tại thửa đất nông nghiệp này. Sau đó vợ chồng bà H cho vợ chồng anh T5 cấy, có trả sản lượng hay không thì bà không biết.
Nay bà H khởi kiện, yêu cầu bà phải trả lại cho vợ chồng bà H thửa đất nông nghiệp có diện tích 600 m² tại tờ bản đồ số 03 ở khu cánh đồng Láng Khấu là vô lý, bà không chấp nhận, vì: Thửa đất này chính là thửa đất của gia đình bà được giao từ năm 1993 ở khu cánh đồng Láng Khấu và ngày 20/7/1995 được UBND huyện K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà trong tổng diện tích 2447 m², số D 0344966, số vào sổ 01066/QSDĐ/KT-04-Q1. Thửa đất có diện tích 600 m² ở khu cánh đồng Đường N mà cụ T chuyển nhượng cho vợ chồng bà H từ năm 2011, cụ T đã chỉ đúng thửa đất cho bà H. Thực tế vợ chồng bà H đã quản lý, sử dụng từ năm 2011 đến nay. Bà đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của bà H.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn V khai và trình bày quan điểm thống nhất như nguyên đơn Hoàng Thị H.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị T trình bày: Cụ chung sống với cụ Phạm Văn T7 từ năm 1953. Hai cụ sinh được 04 người con, gồm: Phạm Văn T4, sinh năm 1957; Phạm Văn T8, sinh năm 1959; Phạm Thị L5, sinh năm 1964; Phạm Thế L2, sinh năm 1971. Về diện tích đất nông nghiệp của gia đình cụ được giao và cụ đổi đất cho bà M (con dâu cụ) như bà M đã khai ở trên. Ngày 20/7/1995, cụ và ông L2 (con út của hai cụ) được UBND huyện K cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D 0367480, số vào sổ cấp giấy chứng nhận 01114/QSDĐ/KT-04-Q1, tổng diện tích 984 m² đứng tên quyền sử dụng Nguyễn Thị T tại thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng, gồm 03 thửa:
- 01 thửa, diện tích 600 m², mục đích sử dụng: 2 lúa, phía Đông dài 38,5 m; phía Tây dài 38,5 m; phía Nam dài 15,6 m; phía Bắc dài 15,6 m, hạng đất 2 (đây là thửa đất ở khu cánh đồng Đường N thuộc thôn Đ, xã Đ, chính là thửa đất bà M đã đổi cho cụ T từ năm 1988).
- 01 thửa, diện tích 288 m², mục đích sử dụng: 2 lúa, phía Đông dài 11,5 m; phía Tây dài 11,5 m; phía Nam dài 25 m; phía Bắc dài 25 m; hạng đất 2 (đây là thửa đất tại khu cánh đồng Đường N thuộc thôn Đ, xã Đ).
- 01 thửa, diện tích 96 m², mục đích sử dụng: 2 lúa; phía Đông dài 7,4 m; phía Tây dài 7,6 m; phía Nam dài 13,1 m; phía Bắc dài 13,1 m; hạng đất 1 (đây là thửa đất ở khu cánh đồng Chân Mạ thuộc thôn Đ, xã Đ).
Lý do, chỉ có cụ và ông L2 được giao đất nông nghiệp: Vì năm 1993, cụ T7 đã chết, các con lớn của hai cụ xây dựng gia đình, tách khẩu ở riêng, chỉ có ông L2 là con út ở cùng cụ làm nông nghiệp. Nhà nước giao cho mẹ con cụ thế nào thì cụ sử dụng như thế, cụ cũng không đo đạc lại.
Năm 2011, cụ và ông L2 có nhu cầu chuyển nhượng thửa đất diện tích 600 m² và thửa đất diện tích 288 m² nêu trên nên mẹ con cụ đã thống nhất thỏa thuận chuyển nhượng cho ông V cùng vợ là bà H 02 thửa đất, tổng diện tích 888 m², với giá hơn 80 triệu đồng (35 triệu đồng/1sào = 360 m²). Hai bên có thỏa thuận, ký kết bằng hợp đồng chuyển nhượng vào tháng 4 năm 2011. Mẹ con cụ đã nhận đủ tiền từ vợ chồng ông V trả. Cụ là người trực tiếp chỉ thửa đất ruộng diện tích 600 m² ở khu cánh đồng Đường N cho ông V, bà H nhận. Khi giao đất cho vợ chồng bà H; cụ có mời ông Tô Văn U là cán bộ địa chính xã Đ thời kỳ đó ra đo đất. Ông V, bà H nhận ruộng trực tiếp và đóng cọc để phân định ranh giới thửa đất. Đối với thửa đất diện tích 288 m² ở khu cánh đồng Đường N thì cụ nhờ bà M dẫn vợ chồng bà H ra chỉ ruộng, khi đó bà M có nhờ ông Nguyễn Văn T9 là người cùng xóm ra đo đất giúp, vợ chồng bà H trực tiếp nhận ruộng. Sau khi chuyển nhượng hai thửa đất cho vợ chồng bà H từ tháng 4 năm 2011, vợ chồng bà H đã sử dụng ổn định từ đó cho đến nay mới xảy ra tranh chấp. Sự việc mua bán đất giữa hai bên đã thực hiện xong, cụ không yêu cầu giải quyết vấn đề gì liên quan đến việc mua bán này. Nay bà H khởi kiện, yêu cầu bà M phải trả lại cho vợ chồng bà H thửa đất diện tích 600 m² ở khu cánh đồng L, thôn Đ, xã Đ, huyện K là vô lý, vì diện tích đất này nhà nước đã giao cho mẹ con bà M được quyền quản lý, sử dụng. Mẹ con cụ không được giao đất ruộng này. Mẹ con cụ không được giao thửa đất nào ở khu cánh đồng Láng Khấu. Do đó, cụ không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H. Mẹ con cụ đã chuyển nhượng và giao đất ruộng cho vợ chồng bà H đúng đất ruộng của mẹ con cụ đã được Nhà nước giao ở cánh đồng Đường N. Trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có ghi thửa số 01+ 02 tức là 02 thửa, chứ không phải thửa đất số 01 và thửa đất số 02.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Thế L2 (con trai cụ T) khai thống nhất với cụ T và bà M. Ngoài ra ông khai: Khi cụ T và ông thỏa thuận chuyển nhượng đất nông nghiệp cho vợ chồng bà H thì ông là người đầu tiên ra chỉ vị trí thửa đất diện tích 600 m² tại khu cánh đồng Đường N cho bà H biết. Sau đó, cụ T có nhờ ông Tô Văn U, cán bộ địa chính xã thời điểm đó ra đo đất, vẽ sơ đồ thửa đất diện tích 600 m² tại khu cánh đồng Đường N và trực tiếp bàn giao đất cho bà H. Bà H đồng ý nhận thửa đất này từ năm 2011 quản lý, sử dụng đến nay. Ai là người chỉ vị trí thửa đất có diện tích 288 m² đất ở khu cánh đồng Đường Nức cho bà H thì ông không biết. Ông và cụ T không được nhà nước giao thửa đất nông nghiệp nào tại khu cánh đồng L, thôn Đ, xã Đ. Sự việc chuyển nhượng đất giữa hai bên đã thực hiện xong. Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông, cụ T với vợ chồng bà H. Nay bà H khởi kiện, yêu cầu bà M phải trả lại cho vợ chồng bà H thửa đất ruộng diện tích 600 m² ở khu cánh đồng L, thôn Đ, xã Đ, huyện K là vô lý, vì diện tích đất này Nhà nước đã giao cho mẹ con bà M được quyền quản lý, sử dụng. Mẹ con ông không được giao thửa đất ruộng nào ở khu cánh đồng Láng Khấu. Do vậy, ông không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H. Đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của bà H để đảm bảo quyền lợi cho gia đình ông.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Ngọc T1, Phạm Thị Kim T2, Phạm Quốc B, Phạm Ngọc H1 (là các con đẻ của bà M) đều khai thống nhất như bà M và không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2024/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng đã tuyên xử:
Căn cứ khoản 2 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ Điều 131 của Luật Đất đai năm 2013; căn cứ Điều 158, Điều 160, Điều 166 của Bộ luật Dân sự.
Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hoàng Thị H về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị M trả lại thửa đất nông nghiệp, có diện tích 600 m² thuộc tờ bản đồ số 3, tại xứ đồng L, thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 11/9/2024, nguyên đơn bà Hoàng Thị H kháng cáo với nội dung: Đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hoàng Thị H.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn bà Hoàng Thị H có quan điểm giữ nguyên đơn kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện bị đơn đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành và thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của đương sự quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền: Bà Hoàng Thị H khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, yêu cầu giải quyết, buộc bà Nguyễn Thị M phải trả lại thửa đất có diện tích 600 m² cho vợ chồng bà đã mua của cụ T thuộc tờ bản đồ số 03 ở khu C, thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng đang do bà M quản lý, sử dụng. Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là “Tranh chấp về kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất”. Bị đơn và tài sản ở tại huyện K nên Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do vụ án có kháng cáo nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
[2] Về việc vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ, nhưng một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lí do. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[3] Kháng cáo của nguyên đơn bà Hoàng Thị H đúng quy định pháp luật nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[4] Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Hoàng Thị H:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã xác định: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã xác định:
Nguyên đơn, bà Hoàng Thị H, khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị M trả lại thửa đất 600 m² tại cánh đồng L, vì cho rằng đất này thuộc quyền sử dụng của mình theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất năm 2011 giữa bà H với cụ Nguyễn Thị T.
Bị đơn bà Nguyễn Thị M, bác bỏ yêu cầu khởi kiện, cho rằng đất 600 m² này là của gia đình mình được Nhà nước giao từ năm 1993 và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 1995.
[4.1] Xét: Theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký kết giữa cụ T và ông L2 với ông V và bà H thể hiện: Cụ T và ông L2 chuyển nhượng 888 m² đất nông nghiệp cho ông V và bà H theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01114 do UBND huyện K cấp ngày 20/7/1995, cụ thể thửa số 01+ 02 tờ bản đồ số 3 thôn Đ, xã Đ, huyện K. Trong hợp đồng không thể hiện vị trí thửa đất nông nghiệp mà cụ T và ông L2 chuyển nhượng cho ông V, bà H ở xứ đồng nào mà chỉ thể hiện theo Giấy chứng nhận số 01114 ngày 20/7/1995. Trong Giấy chứng nhận này thì không thể hiện vị trí thửa đất ở xứ đồng nào. Về cách ghi thửa số 01+ 02 diện tích 888 m², đã được các đương sự và ông Tô Văn U (nguyên cán bộ địa chính xã Đ từ năm 1990 đến tháng 6/2011) là Người viết hộ hợp đồng) xác nhận ghi thửa số 01 + 02 có nghĩa là 02 thửa trong giấy chứng nhận, gồm 01 thửa 600 m² và 01 thửa 288 m², gộp vào là 888 m².
Tuy trong Giấy chứng nhận không thể hiện thửa đất diện tích 600 m² ở xứ đồng nào nhưng căn cứ vào thực tế sử dụng đất của hai hộ ổn định từ năm 1993, căn cứ vào “Sổ theo dõi ruộng đất lập ngày 06/10/1994 (Dùng cho công tác điều tra phục vụ việc giao ruộng đất cho các hộ sản xuất nông nghiệp tại thôn Đ, xã Đ)” cũng như sơ đồ ruộng đất do UBND xã Đ quản lý; sổ thu thuế do ông K1 theo dõi; những người từng làm công tác ruộng đất; những người có đất ở hộ giáp ranh, những người đã từng sử dụng đất nhờ của hộ bà M, cụ T (Chuyển nhượng cho bà H) và UBND xã Đ đều xác nhận cụ T, ông L2 được giao thửa đất nông nghiệp có diện tích 600 m² ở xứ đồng Đường N; mẹ con bà M được giao thửa đất nông nghiệp có diện tích 600 m² ở xứ đồng Láng Khấu từ những năm 1993 và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 1995.
Như vậy, có căn cứ xác định cụ T không được giao thửa đất nông nghiệp diện tích 600 m² ở xứ đồng Láng Khấu mà là ở cánh đồng Đường N. Có đủ cơ sở xác định thửa đất có diện tích 600m2 ở xứ đồng Láng Khấu thuộc quyền sử dụng của mẹ con bà M như Tòa án cấp sơ thẩm xác định.
[4.2] Theo lời khai của ông Tô Văn U (nguyên cán bộ địa chính xã Đ từ năm 1990 đến tháng 6/2011) cùng vợ là bà Nguyễn Thị L6 cung cấp: Đầu năm 2011, cụ T chuyển nhượng 02 thửa đất nông nghiệp cho vợ chồng bà H, trong đó 01 thửa diện tích 288 m², 01 thửa diện tích 600 m² đều ở cánh đồng Đường N, thuộc thôn Đ, xã Đ. Cụ T có nhờ ông đến đo đất giao cho bà H; cụ T cùng ông và bà H trực tiếp đến thửa đất, diện tích 600 m² ở cánh đồng Đường N, cụ T chỉ vị trí ruộng, ông đo đất đủ 600 m², xong cụ T giao cho bà H nhận luôn, ông có vẽ trích đo và làm hợp đồng chuyển nhượng giúp hai bên. Như vậy, khi mẹ con cụ T chuyển nhượng đất cho vợ chồng bà H thì cụ T có nhờ ông U là người trực tiếp đo đủ diện tích đất 600 m² ở xứ đồng Đường N mà cụ T chuyển nhượng, giao cho bà H và cấp trích đo cho bà H. Lời khai của ông U phù hợp với thực tế quá trình sử dụng của các bên. Bà H thừa nhận đã hủy trích đo này từ năm 2023.
[4.3] Về việc đổi đất giữa cụ T và bà M: Lời khai của cụ T và bà M thừa nhận có việc đổi đất 600m² giữa cụ T và bà M, tuy nhiên việc đổi đẫn diễn ra từ năm 1988. Đến năm 1993 Nhà nước tiến hành chia lại ruộng đất theo khẩu. Đến năm 1995 bà M và cụ T đều đã được UBND huyện K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo đó bà M được cấp GCNQSĐ đối với diện tích 2447 m² đối với 04 thửa, trong đó thửa 600m2 ở cánh đồng L .
Còn cụ T được cấp GCNQSĐ tổng diện tích 984 m² đối với 03 thửa, trong đó có 600m2 ở cánh đồng Đường N. Quá trình sử dụng đất cụ T và bà M sử dụng diện tích đất ổn định, không có tranh chấp từ sau khi đổi đất và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đến nay. Như vậy, việc đổi đất giữa cụ T và bà M diễn ra từ trước thời điểm nhà nước tiến hành chia lại ruộng đất năm 1993, và sau đó cụ T, bà M được Nhà nước cấp GCNQSDĐ với diện tích đất và sử dụng ổn định. Bà H cho rằng cụ T và bà M đã đổi 600 m² đất cho nhau, để từ đó xác định bà M đã chỉ sai thửa đất 600 m² chuyển nhượng cho vợ chồng bà H là không có căn cứ xác định.
Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị H là có căn cứ.
[5] Từ những phân tích nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Hoàng Thị H. Vì vậy Hội đồng xét xử bác kháng cáo của nguyên đơn bà Hoàng Thị H, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy.
[6] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên nguyên đơn bà Hoàng Thị H phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định pháp luật.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự:
- Về án phí phúc thẩm:
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Hoàng Thị H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bà Hoàng Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0007961 ngày 19/9/2024 ngày tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy. Bà H đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm nên không phải nộp nữa.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Văn Tỉnh |
Bản án số 23/2025/DS-PT ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất
- Số bản án: 23/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm