TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ——————————————— |
Bản án số: 23/2025/DS-PT Ngày: 18/3/2025 V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất”. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hà.
Các thẩm phán: Bà Lê Thị Phương Thanh.
Bà Trương Thị Anh .
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: bà Mai Thị Xuyến - Kiểm sát viên.
Ngày 17, 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 101/2024/TLPT-DS ngày 06 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 112/2024/QĐXXPT-DS ngày 02 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị L, sinh năm 1975. Có mặt.
Địa chỉ: Số nhà C, đường T, xóm C, phường L, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: các luật sư Lê Thị P, Nguyễn Thu H - Thuộc Công ty L10 - Đoàn Luật sư tỉnh T. Có mặt.
Địa chỉ: Tầng E, Lô F Đại lộ V, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
- Bị đơn: Bà Bùi Thị C, sinh năm 1946. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: các luật sư Trần Xuân T, Trần Thị H1 - Thuộc Văn phòng L11 - Đoàn Luật sư thành phố H. Có mặt.
Địa chỉ: P Tòa V, bán đảo L, phường H, quận H, thành phố Hà Nội.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Tống Văn T1 - Chủ tịch UBND xã H.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Việt D - Phó chủ tịch UBND xã H.
- Ông Trịnh Xuân P1, sinh năm 1966. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn Y, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
- Bà Trịnh Thị T2, sinh năm 1950. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn N, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định.
- Bà Trịnh Thị H2, sinh năm 1950. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn N, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định.
- Ông Trịnh Xuân P2, sinh năm 1960. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn N, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định.
- Bà Trịnh Thị L1, sinh năm 1963. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
- Bà Trịnh Thị N, sinh năm 1965. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
- Anh Trịnh Xuân T3, sinh năm 2005. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn E, xã Q, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa.
- Ông Trịnh Xuân P3, sinh năm 1968. Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của ông P3: bà Bùi Thị K, sinh năm 1973. Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
- Cháu Trịnh Xuân Q, sinh ngày 27/4/2009. Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của cháu Q: Chị Lê Thị T4, sinh năm 1985. Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Thôn E, xã Q, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Trịnh Thị T2, bà Trịnh Thị H2, ông Trịnh Xuân P2, bà Trịnh Thị L1, bà Trịnh Thị N, anh Trịnh Xuân T3, bà Bùi Thị K, chị Lê Thị T4: bà Trịnh Thị L, sinh năm 1975. Có mặt.
Địa chỉ: Số nhà C, đường T, xóm C, phường L, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa.
- Người làm chứng:
- Ông Trần Văn T5, sinh năm 1956. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn Y, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
- Ông Nguyễn Trung L2, sinh năm 1964. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
- Bà Bùi Thị C1, sinh năm 1956. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn H, xã H, huy H, tỉnh Thanh Hóa.
- Ông Nguyễn Văn H3, sinh năm 1952. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
- Ông Trương Thế B, sinh năm 1954. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
- Ông Vũ Bá L3, sinh năm 1951. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa,
- Ông An Tất T6, sinh năm 1958. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
- Ông Nguyễn Văn L4, sinh năm 1952. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn Y, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
- Bà Bùi Thị D1, sinh năm 1948. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
- Ông Tống Xuân C2, sinh năm 1952. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn Y, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
- Ông Lê Đình C3, sinh năm 1973. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn Y, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
- Ông Bùi Đình Đ, sinh năm 1953. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn Y, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
- Ông Nguyễn Trọng L5, sinh năm 1960. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn G, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
- Ông Nguyễn Đình B1, sinh năm 1974. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn G, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
- Bà Trương Thị T7, sinh năm 1953. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
- Ông Phạm Ngọc V, sinh năm 1963. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
- Ông Trương Thế A, sinh năm 1964. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
- Ông Trần Đình T8, sinh năm 1971. Văng mặt.
Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
- Anh Phạm Ngọc V1, sinh năm 1985. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
- Ông Bùi Văn S, sinh năm 1966. Vắng mặt.
Địa chỉ: xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
- Bà Nguyễn Thị H4, sinh năm 1962. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn E, Q, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa.
- Chị Lê Thị H5, sinh năm 1969. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn Y, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
- Anh Lê Văn H6, sinh năm 1972. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn Y, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trịnh Thị L trình bày:
Bố mẹ bà là ông Trịnh Xuân P4 (sinh năm 1923, chết năm 2010) và bà Bùi Thị Y (sinh năm 1930, chết năm 2005) đều không để lại di chúc. Bố mẹ bà có 07 người con, gồm: ông Trịnh Xuân P2 (sinh năm 1960), bà Trịnh Thị L1 (sinh năm 1963), bà Trịnh Thị N (sinh năm 1965), ông Trịnh Xuân P1 (sinh năm 1966), ông Trịnh Xuân P3 (sinh năm 1968, đi bộ đội về bị thần kinh), ông Trịnh Xuân L6 (chết năm 2016) và bà là Trịnh Thị L (sinh năm 1975). Ngoài ra, trước đó bố bà kết hôn với bà Ninh Thị T9 (chết năm 1950) và có 02 người con là bà Trịnh Thị H2 (sinh năm 1950), bà Trịnh Thị T2 (sinh năm 1950).
Trước năm 1991, gia đình bà có ngôi nhà ở cổng chợ Đ1 (nay là đình G). Khi đình được xếp hạng di tích quốc gia thì UBND xã H thông báo cho tất cả các hộ dân ở cổng chợ phải chuyển đi để sửa lại đình, làm khu di tích lịch sử. Bố bà đã tự nguyện trả lại đất cho Nhà nước, không được xã hỗ trợ. Vì thế, UBND xã H đã đồng ý cho bố mẹ bà mua lại thửa đất tại chân dốc Nổm, sát sân kho gần UBND xã H, trên đất có căn nhà 02 gian và cây cối của gia đình ông Trần Xuân T10 và bà Bùi Thị C1 (đất do gia đình ông T10, bà C1 khai hoang), diện tích khoảng hơn 1.500m², địa chỉ tại chân dốc N, thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa (nay được ghi nhận là toàn bộ thửa đất số 857, tờ bản đồ số 75), địa chỉ: thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Có các vị trí như sau:
- - H: giáp đất bỏ hoang, có rãnh nước chảy nhỏ từ trên đồi xuống, có vũng trâu đầm, hùng hố tôi vôi, có con đường nhỏ đi tắt ngang, nhiều người dân thường đi lại con đường này đến ruộng cấy nhà bà Nguyễn Thị N1.
- - Phía Tây giáp cây mít gần đường đi.
- - Phía Nam giáp tường rào sân kho hợp tác xã H9.
- - Phía Bắc giáp đường đi.
Việc mua bán nhà đất có giấy tờ, nhưng trong quá trình lưu giữ hiện tại giấy tờ đã bị mất.
Sau khi mua đất của ông T10, bà C1, bố mẹ bà đã phá căn nhà 02 gian và xây lên 02 ngôi nhà cấp bốn, công trình phụ với diện tích khoảng 70m² và một cái quán nhỏ khoảng 20m² để bà làm may đo. Ngoài ra, gia đình bà còn đào giếng, láng xi măng để phơi lúa và trồng cây cối, hoa màu trên diện tích đất còn lại.
Gia đình bà ở ổn định từ năm 1991 đến năm 1996 thì bà đi lấy chồng tại B, còn lại ông P3 và ông L6 ở tại nhà đó với bố mẹ. Năm 1998, ông P3 lấy vợ và ở riêng cùng xóm, ông L6 đi lái xe thuê, thi thoảng mới về nhà. Năm 2002, ông P3 bị bệnh tâm thần không làm chủ được hành vi, đã đánh bố bà bị thương nặng, ông P2 đã đưa bố mẹ bà về nhà ở Nam Định để chăm sóc. Lúc này, nhà của bố mẹ bà chỉ còn ông L6 làm nghề lái xe thuê, thi thoảng về nhà nghỉ ngơi. Năm 2005, mẹ bà chết, không để lại di chúc, do bà C ly thân với chồng, không có nhà để ở và anh H6 con trai bà C chơi thân với ông L6 nên ông L6 đã cho bà C mượn toàn bộ nhà đất của bố mẹ bà để ở. Khi cho mượn, ông L6 có hỏi ý kiến bà thì bà cũng nhất trí. Vì là chỗ thân tình nên hai bên không lập thành văn bản, chỉ nói miệng với nhau. Đến năm 2016 thì ông L6 chết. Sau đó, bà C đã đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất và tài sản trên đất do trước đây bố mẹ bà để lại. Tại thời điểm Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ, những tài sản của bố mẹ bà vẫn còn trên đất, có 01 cây cau ngay trước cổng chính do bố bà trồng, chỉ có giếng nước bị phá thành, lôi đá lên. Ngày 05/12/2020, UBND xã H đã gọi bà, bà C và chị H5 (con gái của bà C) lên xã giải quyết việc tranh chấp do bà làm đơn yêu cầu. Ông Hoàng Việt D - Phó chủ tịch UBND xã H trả lời “bà C gửi lên một giấy mua nhà đất của hộ ông P4 mua năm 1990, giá 23.000.000 đồng, có chữ ký của ông P4, bà Y và anh L6, anh P1 làm chứng và ông Trương Thế H7 - thôn trưởng xóm H xác nhận”. Nhưng Giấy mua bán nhà đất của bà C giao nộp là giấy tờ giả mạo, không có hiệu lực pháp lý. Bố mẹ bà chưa từng chuyển nhượng nhà đất cho bà C, gia đình bà chỉ cho bà C mượn nhà để ở nhờ từ năm 2005, do khi đó hoàn cảnh của bà C ly thân chồng, không có nơi ở nên bà và ông L6 cho bà C mượn để ở. Từ khi cho bà C mượn nhà ở, bà vẫn lên làm vườn, trồng màu, đến năm 2013 bà bị bệnh mới không lên làm nữa. Năm 2016 ông L6 chết, sau khi ông L6 chết bà vẫn cho bà C ở nhờ và trồng cây. Đến ngày 08/9/2020 thanh tra tỉnh về UBND xã H để xác minh thì anh em bà mới biết bà C đang làm thủ tục kê khai xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bố mẹ bà. Ngày 11/9/2020, bà làm đơn đề nghị UBND xã H giải quyết. Ngày 26/10/2020 UBND xã H triệu tập các bên lên làm việc, ông D - Phó Chủ tịch UBND xã H phát biểu: “Thửa đất số 857, tờ bản đồ số 75 thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa là Hợp tác xã H9 cho ông T10, bà C1 mượn 50m² đất để làm nghề cơ khí vào khoảng cuối năm 1993, đầu năm 1994. Đến năm 1995 ông T10 tự ý chuyển nhượng cho ông Trịnh Xuân P4 (bố mẹ đẻ của bà L). Khoảng năm 2000-2001 gia đình ông P4 về quê, gia đình bà C đến khu đất nhà ông P4 ở. Tranh chấp giữa 2 nhà chỉ là tranh chấp tài sản trên đất, còn đất là do UBND xã quản lý”. Năm 2019, bà C làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, UBND xã H đã thực hiện việc xác định nguồn gốc đất không đúng với quy định pháp luật, dẫn đến tình trạng tranh chấp đất đai như hiện nay.
Bà L khẳng định bà C khai đã mua nhà đất của bố mẹ bà là hoàn toàn sai sự thật. Vì vậy, bà L yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà C phải trả lại thửa đất và tài sản trên đất cho gia đình bà là thửa đất số 857, tờ bản đồ số 75 (bản đồ đo đạc năm 2018), công nhận quyền sử dụng đất cho gia đình bà và tuyên cho bà có quyền đại diện gia đình đăng ký đất đai và đề nghị Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở, tài sản gắn liền với đất cho gia đình bà với diện tích đất theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 02/11/2022 là 1.637,2m².
* Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn bà Bùi Thị C trình bày:
Bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Trịnh Thị L, bởi lẽ: Trước đó, gia đình ông Trịnh Xuân P4 mua đất nhà ông T10, bà C1 với diện tích 200m² không có sổ đỏ. Sau đó, vào khoảng năm 2002 ông Trịnh Xuân P4, bà Bùi Thị Y và ông Trịnh Xuân L6 (con trai ông P4, bà Y) bán 200m² đất đó cho bà cũng không có sổ đỏ. Khi mua bán, có ông Trần Văn T5 và ông Nguyễn Trung L2 là người làm chứng, giá cả hai bên thỏa thuận là 2.300.000đ. Ông T5 và ông L2 có ký tên vào giấy tờ gốc mua bán nhà đất, tuy nhiên hiện tại giấy tờ gốc không còn, chỉ còn giấy bà xin xác nhận lại có chữ ký của ông Nguyễn Trung L2; ông Trịnh Xuân P1, bà Nguyễn Thị P5 (con trai và con dâu ông P4, bà Y); ông Trịnh Thái L7 (con trai ông P4, bà Y); giấy ghi người nhận tiền là “P4”, “Y” và trưởng thôn là ông Trương Thế H7 ký tên, bà đã giao nộp cho Tòa án.
Trước đây, bà trình bày vào khoảng năm 1990 bà mua nhà đất của ông P4, bà Y với giá 23.000.000đ (hai mươi ba triệu đồng) là do thời gian đã lâu, bà đã già yếu nên không nhớ rõ. Nay bà khẳng định vào khoảng năm 2002 bà đã mua nhà đất của gia đình ông P4, bà Y với giá 2.300.000đ (hai triệu ba trăm nghìn đồng). Khi mua bán có ông Trịnh Trung L8 (do bà mời làm chứng), ông Trần Văn T5 (do ông P4 mời làm chứng), ngoài ra còn có anh Trịnh Xuân L6 (con trai ông P4, bà Y và chị Lê Thị H5 (con gái bà) chứng kiến. Khi đó bà chỉ có 1.000.000đ tiền mặt, không đủ để trả cho ông P4, bà Y nên bà đã vay chiếc xe mô tô 67 của ông Phạm Ngọc V để giao cho gia đình ông P4.
Khi bà mua nhà đất của gia đình ông P4 chỉ có 02 gian nhà nhỏ với diện tích đất toàn bộ là 200m², số đất còn lại do bà khai hoang, phục hóa. Bà đã canh tác, sử dụng và sinh sống trên đất ổn định, lâu dài, công khai và không phát sinh tranh chấp với ai. Trong suốt quãng thời gian dài bà sống và xây dựng các công trình trên đất, bà L và các anh chị em trong gia đình bà L không ai có bất kỳ ý kiến gì. Khi bà làm đơn đề nghị được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất này gửi UBND xã H, UBND xã đã xác minh quyền sử dụng đất của gia đình bà, UBND huyện H và UBND tỉnh T đã cử cán bộ chuyên môn để rà soát, xác minh nguồn gốc sử dụng đất, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T đã có ý kiến về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình bà. Tuy nhiên, không thể thực hiện được việc cấp giấy do bà L liên tục có đơn yêu cầu được giải quyết tranh chấp đất đai. Bà khẳng định quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 857, tờ bản đồ số 75 (bản đồ đo đạc năm 2018), diện tích 1.740,1m² tại chân Dốc Nổm, gần UBND xã H là tài sản hợp pháp của gia đình bà, gia đình bà đã mua của ông P4, bà Y và xây dựng lại 01 ngôi nhà 02 gian, nhà tắm, nhà vệ sinh tự hoại, trong nhà tường ốp lát gạch hoa, phía trước nhà xây hàng rào thanh lam, làm lại sân, làm lại giếng trên nền đất cũ của nhà ông Trịnh Xuân P4.
Do đó, bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà L, đồng thời đề nghị Tòa án giải quyết công nhận bà có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác lắn liền với đất tại thửa đất số 857, tờ bản đồ số 75 (bản đồ đo đạc năm 2018), diện tích 1.740,1m² ở thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
* Quá trình giải quyết vụ án, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Trịnh Thị N, ông Trịnh Xuân P2, bà Trịnh Thị L1 trình bày:
Năm 1991, bố mẹ các ông bà là ông Trịnh Xuân P4 và bà Bùi Thị Y có nhận chuyển nhượng phần diện tích khoảng hơn 1.500m² và căn nhà 02 gian trên đất có địa chỉ tại chân dốc N, thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa của vợ chồng ông Trần Xuân T10 và bà Bùi Thị C1, nay được ghi nhận là thửa đất số 857, tờ bản đồ số 75, diện tích 1.637,2m² với tổng giá trị là 700.000 đồng. Bố mẹ các ông bà đã thanh toán đủ số tiền nêu trên cho vợ chồng ông T10, bà C1. Các ông bà được biết chính bà C1 đã nhiều lần thừa nhận việc đã chuyển nhượng thửa đất và các tài sản trên đất cho bố mẹ ông bà. Việc chuyển nhượng thửa đất trên có ông Nguyễn Văn L4, ông Nguyễn Đình B1 và bà Bùi Thị D1 chứng kiến và xác nhận. Sau khi nhận bàn giao nhà đất, bố mẹ các ông bà đã mua vật liệu, thuê người phá dỡ toàn bộ căn nhà trên và xây dựng thành 02 căn nhà cấp bốn có diện tích khoảng 70m², 01 quán nhỏ có diện tích khoảng 20m² mà em gái là Trịnh Thị L làm tiệm may và một số công trình phụ, trên đất cũng đã đào giếng, láng sân xi măng và trồng hoa màu, cây cối trên đất còn lại. Bố mẹ các ông bà cùng các em là Trịnh Xuân P3, Trịnh Xuân L6 và Trịnh Thị L đã chuyển đến trực tiếp sinh sống, quản lý, sử dụng thửa đất từ năm 1991.
Năm 1996, bà L đi lấy chồng ở thị xã B. Năm 1998, ông P3 lấy vợ ra ở riêng, ông Trịnh Xuân L6 làm nghề lái xe thỉnh thoảng mới về nhà. Năm 2002, ông P3 bị bệnh tâm thần không làm chủ được hành vi đã đánh bố bị thương nặng, các ông bà đã đưa bố mẹ về Nam Định chăm sóc. Tại thời điểm này, chỉ có ông L6 đi lái xe thi thoảng về ở trên nhà đất này. Khoảng tháng 10 năm 2005, do bà Bùi Thị C ly thân với chồng, không có nhà để ở và ông H6 con trai bà C chơi thân với ông L6 nên ông L6 đã cho bà C mượn nhà và ở nhờ trên thửa đất từ đó đến nay. Ông bà khẳng định từ trước đến nay bố mẹ ông bà là Trịnh Xuân P4 và Bùi Thị Y là chủ sử dụng hợp pháp của thửa đất này. Bà C chỉ được ông L6 cho mượn để ở nhờ. Bố mẹ ông bà đã nhận chuyển nhượng thửa đất này của ông T10 và bà C1 từ năm 1991, nên không có việc bà C mua đất của bố mẹ các ông bà từ năm 1990. Đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà L.
* Quá trình giải quyết vụ án, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Trịnh Thị T2 và Trịnh Thị H2 trình bày:
Các bà là con đẻ của ông Trịnh Xuân P4 và bà Ninh Thị T9. Năm 1950 mẹ bà chết, bố bà lấy vợ hai là bà Bùi Thị Y. Bố bà và bà Y có 07 người con là Trịnh Xuân P2, Trịnh Thị L1, Trịnh Thị N, Trịnh Xuân P1, Trịnh Xuân P3, Trịnh Xuân L6và Trịnh Thị L. Năm 1991, bố mẹ các bà là ông Trịnh Xuân P4 và bà Bùi Thị Y có nhận chuyển nhượng phần diện tích khoảng hơn 1.500m2 đất và căn nhà 02 gian trên đất có địa chỉ tại chân dốc N, thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa của vợ chồng ông Trần Xuân T10 và bà Bùi Thị C1, nay được ghi nhận là thửa đất số 857, tờ bản đồ số 75, diện tích 1.637,2m² với tổng giá trị là 700.000 đồng. Bố mẹ các bà đã thanh toán đủ số tiền nêu trên cho vợ chồng ông T10, bà C1. Các bà được biết chính bà C1 đã nhiều lần thừa nhận việc đã chuyển nhượng thửa đất và các tài sản trên đất cho bố mẹ các bà. Việc chuyển nhượng thửa đất trên có ông Nguyễn Văn L4, ông Nguyễn Đình B1 và bà Bùi Thị D1 chứng kiến và xác nhận. Sau khi nhận bàn giao nhà đất, bố mẹ các bà đã mua vật liệu, thuê người phá dỡ toàn bộ căn nhà trên và xây dựng thành 02 căn nhà cấp bốn có diện tích khoảng 70m², 01 quán nhỏ có diện tích khoảng 20m² mà em gái là Trịnh Thị L làm tiệm may và một số công trình phụ, trên đất cũng đã đào giếng, lát sân xi măng và trồng hoa màu, cây cối trên đất còn lại. Bố mẹ các bà cùng các em là Trịnh Xuân P3, Trịnh Xuân L6 và Trịnh Thị L đã chuyển đến trực tiếp sinh sống, quản lý, sử dụng thửa đất từ năm 1991. Năm 1996, bà L đi lấy chồng ở thị xã B. Năm 1998, ông P3 lấy vợ và ra ở riêng, ông Trịnh Xuân L6 làm nghề lái xe thỉnh thoảng mới về nhà. Năm 2002 ông P3 bị bệnh tâm thần không làm chủ được hành vi đã đánh bố các bà bị thương nặng, các bà đã đưa bố mẹ về Nam Định chăm sóc. Tại thời điểm này, chỉ có ông L6 đi lái xe thi thoảng về ở trên nhà đất này. Khoảng tháng 10 năm 2005, do bà Bùi Thị C ly thân với chồng, không có nhà để ở và ông H6 con trai bà C chơi thân với ông L6 nên ông L6 đã cho bà C mượn nhà và ở nhờ trên thửa đất từ đó đến nay. Các bà khẳng định từ trước đến nay bố mẹ các bà là chủ sử dụng hợp pháp của thửa đất này. Bà C chỉ được ông L6 cho mượn để ở nhờ. Bố mẹ các bà đã nhận chuyển nhượng thửa đất này của ông T10 và bà C1 từ năm 1991, nên không có việc bà C mua đất của bố mẹ các bà từ năm 1990. Đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà L.
* Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trịnh Xuân Q là bà Lê Thị T4 trình bày:
Theo bà được biết khoảng năm 1991 ông bà nội cháu Trịnh Xuân Q là ông Trịnh Xuân P4 và bà Bùi Thị Y có nhận chuyển nhượng thửa đất số 857, tờ bản đồ số 75, diện tích 1.740,1m² tại thôn H xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa từ ông T10 bà C1. Sau khi nhận bàn giao nhà đất, ông bà nội cháu cùng các con là Trịnh Xuân P3, Trịnh Xuân L6 và Trịnh Thị L đã chuyển đến trực tiếp sinh sống, quản lý, sử dụng thửa đất từ năm 1991, đồng thời có xây dựng lại các công trình trên đất. Khoảng tháng 10 năm 2005, chồng bà là ông Trịnh Xuân L6 đã cho bà C mượn nhà và ở nhờ trên thửa đất do bà C ly thân với chồng không có chỗ ở. Hiện nay, trên đất có một quán lợp F, hai ngôi nhà cấp bốn, một giếng đào xây bằng đá do ông bà nội cháu xây dựng, cải tạo vẫn còn tồn tại trên thửa đất. Bà T4 khẳng định không có việc ông P4, bà Y hay ông L6 bán nhà cho bà C. Ông P4 và bà Y là chủ sử dụng hợp pháp của thửa đất này. Đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà L.
* Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trịnh Xuân T3 trình bày:
Nhiều lần anh được nghe bố mẹ anh kể lại, khoảng năm 1991 ông bà nội anh là Trịnh Xuân P4 và Bùi Thị Y có nhận chuyển nhượng thửa đất số 857, tờ bản đồ số 75, diện tích 1.740,1m² tại thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa từ ông T10, bà C1. Sau khi nhận bàn giao nhà đất, ông bà nội anh cùng các con là Trịnh Xuân P3, Trịnh Xuân L6 và Trịnh Thị L đã chuyển đến trực tiếp sinh sống, quản lý, sử dụng thửa đất từ năm 1991 đồng thời có xây dựng lại các công trình trên đất. Khoảng tháng 10 năm 2005, bố anh có cho bà C mượn nhà và ở nhờ trên thửa đất này do bà C ly thân với chồng không có chỗ ở. Hiện nay, trên đất có một quán lợp F, hai ngôi nhà cấp bốn, một giếng đào xây bằng đá do ông bà nội anh xây dựng vẫn còn tồn tại trên thửa đất. Anh T3 khẳng định không có việc ông bà nội anh là ông P4 bà Y bán nhà đất cho bà C. Ông P4 và bà Y là chủ sử dụng hợp pháp của thửa đất này. Đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà L.
* Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trịnh Xuân P3 là bà Bùi Thị K trình bày:
Nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp là của bố mẹ chồng bà là ông Trịnh Xuân P4 và bà Bùi Thị Y mua của ông Trần Xuân T10 và bà Bùi Thị C1. Bà nghe bố chồng kể trước đây bố mẹ chồng bà mua của ông T10 và bà C1 thửa đất này vào khoảng năm 1991 với giá 700.000 đồng, khi mua đã có 01 ngôi nhà trên đất, cây cối hoa màu, sân. Đến năm 1998 bà kết hôn với ông P3 và cùng bố mẹ chồng sinh sống trên thửa đất này. Đến năm 2000 bà và con về xã H để sinh sống thì bố mẹ bà vẫn sinh sống trên thửa đất này. Năm 2002 chồng bà bị thần kinh đã đánh bố chồng bị thương, nên ông P2 đã đưa ông P4, bà Y ra tỉnh Nam Định sinh sống. Ngôi nhà và thửa đất này ông L6 vẫn sinh sống. Đến năm 2005 ông L6 nói với bà về việc cho bà C mượn nhà, đất để bà C sinh sống vì ông L6 chơi với con bà C. Việc mua bán có giấy tờ hay không bà không biết vì mua từ năm 1991, khi đó bà chưa kết hôn với ông P3. Ông L6 cho bà C mượn nhà, đất không viết giấy cho mượn, bà đề nghị Tòa án buộc bà C phải trả lại thửa đất diện tích khoảng hơn 1.500 m² cùng các tài sản trên đất mà bà C đã mượn cho gia đình ông P4, bà Y.
* Quá trình giải quyết vụ án, ông Trịnh Xuân P1 trình bày:
Bố mẹ ông là Trịnh Xuân P4 và Bùi Thị Y có mua thửa đất của ông Trần Xuân T10 và bà Bùi Thị C1 vào năm 1991. Sau khi mua, bố mẹ ông sinh sống cùng các em là Trịnh Xuân P3, Trịnh Xuân L6 và Trịnh Thị L trên thửa đất này. Đến năm 2002 bố mẹ ông chuyển về quê Nam Định sinh sống. Một thời gian sau (ông không nhớ rõ năm nào) thì bà Bùi Thị C đến thửa đất này sinh sống. Việc bố mẹ ông có bán cho bà C hay không thì ông không biết. Bà C sinh sống trên mảnh đất này từ đó đến nay không có tranh chấp gì. Nay bà L khởi kiện yêu cầu bà C trả lại thửa đất trên cho ông P4, bà Y, quan điểm của ông là không có ý kiến và yêu cầu gì đối với thửa đất này, ông từ chối tham gia tố tụng, từ chối quyền được nhận phần tài sản.
* Quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan UBND xã H là ông Hoàng Việt D trình bày:
Theo hồ sơ 299 xã H thì phần diện tích đất bà C đang sử dụng thuộc thửa đất số 37, tờ bản đồ số 02, diện tích 2.725m². Kiểm tra bản đồ địa chính đo đạc chính quy năm 1997 xã H phần diện tích đất bà C đang sử dụng thuộc thửa đất số 510, tờ bản đồ số 39, diện tích 15.470m². Kiểm tra quy hoạch nông thôn mới theo quyết định số 1749/QĐ-UBND ngày 19/6/2012, vị trí đất hộ bà C sử dụng là đất trường học. Quy hoạch đô thị mới xã H theo quyết định số 3477/QĐ UBND ngày 04/10/2013 của UBND huyện H thì vị trí đất nhà bà C là đất trường học. Theo quyết định số 1945/QĐ - UBND ngày 08/6/2021 của UBND tỉnh T về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung đô thị H10 thì diện tích đất bà C đang sử dụng là đất cây xanh - sân vận động. Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, tại quyết định số 1564/QĐ-UBND ngày 26/4/2019 của tỉnh Thanh Hóa thì diện tích đất trên là đất xây dựng cơ sở thể dục thể thao. Theo quyết định số 2692/QĐ - UBND ngày 28/7/2023 về việc điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất thời kỳ 2021-2030 và kế hoạch sử dụng đất năm 2023, vị trí thửa đất là sân vận động.
Hồ sơ lưu trữ tại xã: không có hồ sơ liên quan đến việc UBND xã hay Hợp tác xã giao đất, cho thuê đất đối với hộ ông Trịnh Xuân P4. Hộ bà C cũng không xuất trình được các tài liệu giấy tờ liên quan đến việc giao đất, cho thuê đất.
Hồ sơ giấy tờ hộ gia đình cung cấp: Bà C xuất trình 01 giấy mua nhà đất của hộ ông Trịnh Xuân P4 bản photo, không có xác nhận của chính quyền địa phương, có xác nhận của ông Trương Thế H7 trưởng thôn H năm 1990. Đối với chữ ký của các bên chưa xác minh được, qua kiểm tra hồ sơ Đảng viên năm 1990 ông H7 đang trong quân đội, không phải trưởng thôn H. Do đó, giấy chuyển nhượng không có cơ sở pháp lý. Ngoài ra, bà C không có bất cứ loại giấy tờ nào liên quan đến việc sử dụng đất.
Về nguồn gốc sử dụng đất sau khi họp lấy ý kiến của nguyên lãnh đạo xã qua các thời kỳ và nguyên cán bộ địa chính xã từ năm 1982 đến năm 2015: Hộ ông Trần Xuân T10 được Hợp tác xã H9 cho mượn đất khoảng năm 1989 - 1990 với diện tích khoảng 50m² để mở xưởng hàn cơ khí. Đến năm 1993 ông T10 tự ý chuyển nhượng cho ông P4 và bà Y hành nghề bán thuốc Cam (việc chuyển nhượng không thông qua xã nên UBND xã không rõ hai bên có viết giấy tờ mua bán, chuyển nhượng hay không). Sau khi sử dụng, ông P4, bà Y ở và có sử dụng một phần diện tích làm sân giếng, vườn. Đến khoảng năm 2000 hoặc 2001 ông P4 chuyển về quê, sau đó hộ bà Bùi Thị C đến ở tại khu vực nhà ông P4 đã xây dựng. Đối với giấy tờ chuyển nhượng không có xác nhận của chính quyền địa phương. Phần diện tích còn lại hộ bà C đã tự ý sử dụng vào mục đích trồng cây và xây dựng các công trình trên đất UBND xã quản lý nên hiện trạng hiện nay bà C đang sử dụng có diện tích 1.740,1m².
Về nguồn gốc sử dụng đất sau khi lấy ý kiến khu dân cư: Hộ ông Trần Xuân T10 được Hợp tác xã cho mượn đất để làm cơ khí vào năm 1989-1990, đến năm 1993 ông T10 đã tự ý chuyển nhượng lại cho ông Trịnh Xuân P4 để ở và bán thuốc Cam. Đến khoảng năm 2000 hoặc 2001 ông P4 chuyển về quê, sau đó hộ bà Bùi Thị C đến ở tại khu vực nhà ông P4 đã xây dựng (theo bà C khai là bà mua của ông P4, bà Y). Phần diện tích còn lại hộ bà C đã tự ý sử dụng vào mục đích trồng cây và xây dựng các công trình trên đất UBND xã quản lý. Hiện nay UBND xã đang quản lý thửa đất số 857, tờ bản đồ số 75, diện tích 1.740,1m² nhưng không thu bất kỳ khoản phí gì.
* Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và thẩm định giá tài sản:
1/ Về đất: Thửa đất số 857, tờ bản đồ số 75, địa chỉ: thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, tổng diện tích kiểm tra hiện trạng là 1.637,2m². Có tứ cận:
- Phía Bắc giáp đường bê tông, có chiều dài 73,83m.
- Phía Nam giáp tường rào sân vận động xã H, có chiều dài 72,43m.
- Phía Đông giáp rãnh thoát nước, có chiều dài 23,21m.
- Phía Tây giáp hộ ông Trần Văn T5, có chiều dài 21,77m.
2/ Tài sản trên đất:
- - Nhà ở 02 mái lợp ngói, kết cấu gỗ, luồng, tường xây gạch 110cm, bỏ trụ, nền lát gạch hoa, kích thước 40 x 40cm; cao 3,4m, công trình khép kín: kích thước nhà 6,56 x 6m = 39,36m², lát gạch 40 x 40cm; kích thước 6 x 5,2m = 31,2m².
- - Nhà ở 02 mái lợp ngói, tường xây gạch chỉ 11cm, kết cấu gỗ, luồng, nền lát gạch hoa 40 x 40cm; cao 2,4m, kích thước nhà 7,3m x 3,6m = 26,28m², lát gạch 40 x 40cm, kích thước 6,5 x 3 = 19,5m².
- - Bán bình lợp Fibroximăng, nền láng xi măng, tường xây 110cm, bổ trụ bán kèo thép, kích thước 5,5m x 4,7m = 25,85m².
- - Nhà bếp 02 mái, lợp Fibroximăng, tường xây gạch 110cm, nền lát gạch men, kích thước 20 x 25cm, kích thước nhà 2,8 x 2,5 = 7m² lát gạch men 2,5m x 2m = 5m².
- - Khu công trình phụ: 01 mái lợp Fibroximăng nền láng xi măng, tường xây 110cm, kích thước 3,8 x 6,8m = 25,84m².
- - Nhà xí 01 ngăn, tường xây gạch 110cm, mái lợp Fibroximăng, kích thước 1,5 x 1,8m = 2,7m².
- - Nhà kho 02 mái lợp tôn + lợp Fibroximăng, tường xây gạch 110cm, nền láng xi măng, kích thước 8,86 x 4m = 35,44m².
- - Nhà vệ sinh mái bằng bê tông cốt thép, tường xây 110cm, nền lát gạch chống trơn, kích thước 30 x 30cm, tường ốp gạch men kích thước 30 x 45cm; cao 2,1m; kích thước nhà vệ sinh 3,4m x 1,54m = 5,24m².
- - Sân, đường nội bộ: đổ bê tông mác 200, dày 10cm, kích thước (6,8m x 2,58m + 5,6m x 8,1m + 3,36m x 1,3m + 5,2m x 6,35m + 15m x 1,2m + 5m x 1,75m + 14,5m x 4,35m) x 0,1m = 19,12m³.
- - Nhà ở 02 mái lợp tôn xốp, vì kèo thép, tường xây gạch 110cm, nền lát gạch hoa 50 x 50cm; cao 3,85m, kích thước 8,3m x 4,55m = 37,77m², lát gạch hoa 50 x 50cm, kích thước lát 7,9 x 4,1m = 32,39m².
- - Mái tôn che sân lợp tôn xốp, bán kèo thép, cột thép phi 60, kích thước 10,6 x 2 + 4,5 x 2,5 = 32,46m².
- - Nhà cửa hàng 02 mái lợp tôn, vì kèo thép bao che hỗn hợp, tường xây cộng song sắt, bịt tôn, nền láng xi măng, cao 2,86m, gian trong đóng trần tôn; kích thước nhà 12 x 5m = 60m², trần tôn 3,1m x 4,4m = 13,33m².
- - Miếu T13: mái lợp tôn, tường xây gạch, kích thước 2,8m x 3,36m = 9,41m². Sân miếu Đ2 bê tông mác 200, dày 10cm, kích thước 2,2m x 2,7m x 0,1m = 0,6m³.
- - Chuồng trại mái lợp tôn, nền láng xi măng, quây lưới thép B40, cao 1,2m, kích thước 4,6m x 8,7m = 40,02m².
- - Tường rào xây gạch bi, dày 110cm, cao 1,1m, kích thước 14,5m x 1,1m = 15,95m².
- - 01 giếng nước, đường kính 3,1m, sâu 7m.
3/ Cây cối, hoa màu trên đất:
- - Cây ăn quả: 01 cây nhót loại C; 01 cây ổi loại B; 01 cây bưởi loại C; 27 cây na loại C; 02 cây đào loại B; 01 cây dừa loại C; 07 cây nhãn loại A; 01 cây mít loại B; 03 cây đu đủ loại B; 02 cây chanh ta loại B; 01 cây táo tàu loại A; 01 cây hồng xiêm loại C; 01 cây chuối loại A.
- - Cây dược liệu: 99 cây đinh lăng loại A.
- - Cây lấy gỗ: 350 cây tràm; 01 cây xà cừ; 52 cây xoan; 02 cây sung; 03 cây sưa.
- - Cây cảnh: 01 cây bách tùng loại B; 01 bụi mẫu đơn loại B; 04 cây cau cảnh loại C; 01 giàn trầu đã leo 2m².
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2024/DS-ST ngày 16/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa đã quyết định:
Căn cứ Điều 184, khoản 2 Điều 221 của Bộ luật dân sự năm 2015. Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 6, khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trịnh Thị L về việc buộc bà Bùi Thị C phải trả lại thửa đất và tài sản trên đất cho gia đình bà tại thửa đất số 857, tờ bản đồ số 75 (bản đồ đo đạc năm 2018), diện tích 1.740,1m² ở xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần án phí, chi phí thẩm định và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.
* Sau khi án sơ thẩm xử, ngày 26/9/2024 bà Trịnh Thị L kháng cáo với các nội dung:
- - Về tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Hà Trung đã vi phạm khoản 2 Điều 54 BLTTDS, đó là thư ký Lê Thị T11 thuộc trường hợp phải từ chối tham gia tố tụng theo quy định tại khoản 2 Điều 54 Bộ luật tố tụng dân sự. Vi phạm khoản 2 Điều 236 Bộ luật tố tụng dân sự về quy định được xem biên bản phiên tòa, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên tòa ngay sau khi kết thúc phiên tòa.
- - Về nội dung: đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm. Nếu không được chấp nhận hủy án thì đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án, buộc gia đình bà Bùi Thị C phải trả lại toàn bộ diện tích đất tại thửa số 857, tờ bản đồ số 75, diện tích 1.740,1m² tại xã H và các tài sản trên đất cho gia đình bà L.
- * Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, không rút đơn kháng cáo.
Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
* Ý kiến đại diện VKS tỉnh T tham gia phiên tòa:
- - Về tố tụng: quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Đơn kháng cáo của bà Trịnh Thị L làm trong thời hạn luật định, đã nộp tạm ứng án phí theo quy định pháp luật, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- - Về nội dung: Căn cứ Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bà Trịnh Thị L, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 24/2024/DS-ST ngày 16/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa về nội dung; sửa lời tuyên của bản án sơ thẩm (có bài phát biểu kèm theo).
- - Về án phí: do kháng cáo không được chấp nhận nên bà L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, nghe lời trình bày của các đương sự và ý kiến của đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của bà Trịnh Thị L làm trong thời hạn luật định, đã nộp tạm ứng án phí theo quy định pháp luật, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét nội dung kháng cáo của bà Trịnh Thị L:
[2.1] Về tố tụng: Bà L kháng cáo cho rằng Tòa án nhân dân huyện Hà Trung đã vi phạm tố tụng theo quy định tại khoản 2 Điều 54 BLTTDS. Tòa án nhân dân huyện Hà Trung phân công Thư ký Lê Thị T11 tham gia giải quyết hai lần trong cùng một vụ án là vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 54 BLTTDS, do thư ký Lê Thị T11 thuộc trường hợp phải từ chối tham gia tố tụng.
HĐXX xét thấy, tại Quyết định phân công người tiến hành tố tụng số 09/2021/QĐ-TA ngày 10/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung phân công bà Lê Thị T11 - Thư ký tòa án tiến hành tố tụng trong vụ án. Vụ án bị đình chỉ giải quyết số 05/2023/QĐDS-ST ngày 25/4/2023. Sau đó, bà L kháng cáo Quyết định đình chỉ và Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã Hủy quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 05/2023/QDDST-DS ngày 25/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân huyện Hà Trung tiếp tục giải quyết vụ án. Ngày 06/7/2023, Tòa án nhân dân huyện Hà Trung thụ lý vụ án số 14 và tiếp tục phân công bà Lê Thị T11 - Thư ký tòa án tiến hành tố tụng trong vụ án. Như vậy, Tòa án nhân dân huyện Hà Trung đã vi phạm khoản 2 Điều 54 BLTTDS, đó là Thư ký tòa án Lê Thị T11 thuộc trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng.
Tuy nhiên, vụ án được thụ lý lần 01 ngày 10/5/2021, Tòa án nhân dân huyện Hà Trung đã phân công Thẩm phán Đào Văn N2 và Thư ký Lê Thị T11 tiến hành tố tụng, giải quyết vụ án. Thực tế trong giai đoạn này, vai trò của thư ký Lê Thị T11 trong vụ án chưa thể hiện rõ (chỉ thực hiện việc giao nhận tài liệu chứng cứ, chưa thực hiện các hoạt động tố tụng theo quy định của BLTTDS) thì vụ án bị đình chỉ theo Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 05/2023/QDDST-DS ngày 25/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung. Trong lần thụ lý thứ 2, Tòa án nhân dân huyện Hà Trung tiếp tục phân công thư ký Lê Thị T11 tiến hành tố tụng giải quyết vụ án.
Như vậy, nội dung kháng cáo này của bà L là có cơ sở, tuy nhiên xét thấy ở lần thụ lý thứ nhất, vai trò của thư ký T11 thực hiện không đáng kể (chỉ thực hiện việc giao nhận tài liệu chứng cứ, chưa thực hiện các hoạt động tố tụng theo quy định của BLTTDS), việc Tòa án nhân dân huyện Hà Trung không ban hành quyết định thay đổi Thư ký Tòa án Lê Thị T11 là vi phạm quy định của BLTTDS nhưng không làm thay đổi nội dung vụ án và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, nên không cần thiết phải hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại, mà cần rút kinh nghiệm đối với cấp sơ thẩm.
Bà L kháng cáo cho rằng sau khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm, bà đề nghị được xem biên bản phiên tòa, nhưng thẩm phán không cho và hẹn sau 03 ngày mới được xem là vi phạm quy định tại Khoản 4 Điều 236 BLTTDS 2015 về việc “Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng có quyền được xem biên bản phiên tòa ngay sau khi kết thúc phiên tòa, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên tòa và ký xác nhận”.
HĐXX xét thấy, ngoài lời trình bày thì bà L không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì chứng minh việc bà đề nghị mà không được xem biên bản phiên tòa. Sau khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm đến nay, bà L cũng như người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà cũng không có khiếu nại, đề nghị gì về nội dung này. Vì vậy, HĐXX không có cơ sở xem xét, nên không chấp nhận nội dung kháng cáo này của bà L.
[2.2] Về nội dung vụ án:
* Về nguồn gốc thửa đất số 857, tờ bản đồ số 75, bản đồ địa chính xã H vẽ năm 2018 (thửa đất đang tranh chấp) hiện nay bà Bùi Thị C đang quản lý, sử dụng:
Căn cứ vào lời khai của các đương sự, người làm chứng, kết quả xác minh nguồn gốc đất và hồ sơ địa chính qua các thời kỳ, có cơ sở khẳng định: Theo bản đồ 299/Tgg năm 1985, thửa đất này thuộc thửa số 37, tờ bản đồ số 02, diện tích 2.725m², chủ sử dụng là UBND xã H. Đến năm 1989, ông Trần Xuân T10 và bà Bùi Thị C1 được HTX H9 cho mượn khoảng 50m² đất xây một nhà cấp 04 để làm nghề hàn xì. Năm 1991, ông T10, bà C1 bán lại cho ông Trịnh Xuân P4 và bà Bùi Thị Y. Tại thời điểm mua lại căn nhà của ông T10, bà C1 thì ông P4, bà Y cùng các con là ông P3, ông L6, bà L sinh sống trên khu nhà đất này. Quá trình sinh sống, ông P4 và bà Y có xây dựng thêm một số công trình để tiện cho việc sinh hoạt và làm ăn, trong đó có ngôi nhà cho bà L làm hàng may mặc, ngoài ra còn cải tạo, mở rộng thêm khu đất. Đến năm 1996 bà L đi lấy chồng và sinh sống ở thị xã B, năm 1998 ông P3 lấy vợ và ra ở riêng cùng thôn, chỉ còn lại ông P4, bà Y và ông L6 sinh sống trên thửa đất này.
Quá trình giải quyết vụ án, bà L và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trịnh Thị N, ông Trịnh Xuân P2, bà Trịnh Thị T2, bà Trịnh Thị L1, bà Trịnh Thị H2, anh Trịnh Xuân T3, chị Lê Thị T4 (đại diện hợp pháp của anh Trịnh Xuân Q) đều cho rằng năm 2002 do ông P3 bị thần kinh đánh ông P4 bị thương, nên gia đình đã đưa ông P4, bà Y về Nam Định sinh sống, chỉ còn ông L6 đi lái xe xa, thỉnh thoảng mới về nhà. Năm 2005, ông Trịnh Xuân L6 đã tự ý cho bà C mượn nhà, đất để ở, sau đó ông L6 có hỏi ý kiến bà L thì bà L cũng đồng ý cho bà C mượn ở đến nay.
Bị đơn bà Bùi Thị C và những người làm chứng ông Nguyễn Trung L2, ông Trần Văn T5 đều khẳng định bà C đã mua diện tích đất trên của gia đình ông P4, bà Y vào năm 2002 và ở từ đó đến nay. Khi mua có sự chứng kiến của ông L2, ông T5, ông L6 (con trai ông P4, bà Y) và chị H5 (con gái bà C). Hai bên thỏa thuận giá cả là 2.300.000đ, do bà C thiếu tiền trả nên đã mượn của ông Phạm Ngọc V chiếc xe Honda 67 để giao cho ông P4, bà Y, ông P4 còn cho lại bà C 100.000đ để lấy may. Khi mua bán, hai bên đã lập giấy biên nhận nhưng bà C đã để thất lạc, sau đó sợ các con ông P4 xảy ra tranh chấp, bà C đã viết lại giấy nhờ con trai và con dâu ông P4 xác nhận, nên giấy viết lại không phải là chữ ký của ông P4, bà Y. Sau khi mua nhà đất của ông P4, bà Y thì bà C chuyển đến ở và đến năm 2003 bà C tu sửa, cải tạo, xây mới thêm công trình. Như vậy, thời điểm bà C chuyển đến là sau khi ông P4, bà Y chuyển đi (năm 2002) và trước khi bà C cải tạo, tu sửa xây mới (năm 2003). Bà C đến ở không xảy ra tranh chấp với ai, cho đến năm 2018 sau khi bà C làm thủ tục đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà L mới khiếu nại và khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết như hiện nay (BL 649-652, 699-700, 928).
Quá trình giải quyết vụ án, bà L không xuất trình được tài liệu, chứng cứ thể hiện việc bà và ông L6 cho bà C mượn nhà, đất để ở. Bà C xuất trình 01 giấy mua nhà, đất của ông P4, bà Y có chữ ký “người nhận tiền ông P4, bà Y”, “con trai làm chứng Trịnh Thái L7”, “con trai Trịnh Xuân P1, con dâu Nguyễn Thị P5” và có xác nhận của Trưởng thôn ông Trương Thế H7 (BL 250). Tuy nhiên, tại Kết luận giám định số 2374 ngày 08/7/2022 của Phòng K1 - Công an tỉnh T kết luận: chữ viết “Phú” dưới mục người nhận tiền và chữ viết “Phú” dưới chữ ký ở mẫu so sánh không phải do một người viết ra. Chữ viết “Con trai làm chứng Trịnh Thái L7” so với chữ viết Trịnh Xuân L6 ở mẫu so sánh không phải do một người viết ra (BL 266). Do đó, giấy mua bán nhà, đất trên không có giá trị pháp lý. Tuy nhiên, theo lời khai của bà C do giấy mua bán nhà đất trước đây với gia đình ông P4, bà Y bị thất lạc, sau khi gia đình ông P4, bà Y về Nam Định ở, sợ các con ông P4, bà Y sau này xảy ra tranh chấp nên bà mới làm lại giấy mua bán và đến trình bày với con trai ông P4, bà Y là ông Trịnh Xuân P1 và vợ là Nguyễn Thị P5, bà P5 đã ký thay chữ ký ông P4 và bà Y, ông P1, ông L6, sự việc này bà C thừa nhận và đã xác nhận. Tuy nhiên, bằng chứng chân thực nhất là bà P5 con dâu ông P4, bà Y thừa nhận bố mẹ chồng bà đã bán nhà đất cho bà C. Về giá trị chuyển nhượng nhà đất thời điểm đó là 2.300.000đ, tuy nhiên do tuổi cao nên khi viết lại giấy mua bán bà C viết nhầm thành 23.000.000đ, bà C đã có văn bản xác nhận lại tại TAND huyện Hà Trung. Bà khai do tuổi đã cao, thời gian nhận chuyển nhượng từ ông P4 bà Y đã lâu, bà lại để mất giấy tờ nên nhớ nhầm mốc thời gian chuyển nhượng là năm 1990, nay bà nhớ lại thời gian nhận chuyển nhượng là từ năm 2001-2002 vì sau khi bà nhận chuyển nhượng một vài năm thì con gái bà là chị Lê Thị B2 lấy chồng người Đài Loan về sinh cháu LEE YUN SU năm 2004 trên thửa đất này. Lời khai của bà C phù hợp với lời khai của ông Nguyễn Văn T12 và ông Nguyễn Trung L2 khẳng định có việc mua bán nhà đất giữa bà C và gia đình ông P4, bà Y.
Bà L cho rằng, quá trình giải quyết vụ án lời khai của bà C và các nhân chứng là bất nhất, lúc thì khai mua năm 1990, lúc thì khai mua năm 2002; lúc thì khai mua với số tiền 23.000.000đ, lúc thì khai mua 2.300.000đ, nên không có việc gia đình ông P4, bà Y đã bán nhà đất cho bà C. Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án, bà C cũng như ông T12, ông L2 trình bày gia đình ông P4 bà Y bán nhà đất cho bà C năm 1990 với số tiền 23.000.000đ, sau đó thay đổi lời khai xác định lại là năm 2002 với số tiền 2.300.000đ là do bà C, ông T12, ông L2 không nhớ rõ vì sự việc diễn ra đã lâu. Ông T12, ông L2 khẳng định mình là người được hai bên nhờ sang chứng kiến việc mua bán, ông Phạm Văn V2 khẳng định cho bà C vay chiếc xe Honda 67 để giao cho gia đình ông P4, sau này anh L6 (con trai ông P4) là người sử dụng chiếc xe đó.
Ông T12 xác nhận thời điểm bà C nhận chuyển nhượng nhà đất của ông P4, bà Y là khoảng năm 2001-2002, diện tích chuyển nhượng khoảng 200m². Trước đây, khi bà C nói giấy tờ mua bán nhà đất bị mất nên phải viết lại và nhờ ông ký xác nhận, vì là người được ông P4 mời chứng kiến toàn bộ sự việc nên ông đã ký, thời điểm đó cũng chưa có ai đòi đất, không ai kiện cáo, tranh chấp gì nên ông nghĩ việc mua bán đã xong, giao tiền cũng đã xong nên không để ý ngày tháng năm và số tiền bà C ghi nhầm thành 23.000.000đ. Nay có sự kiện cáo nên ông rà soát lại trí nhớ “Bố ông và ông P4 là hàng xóm của nhau, ngày 25/3/2000 bố ông chết thì ông P4 có đến viếng. Sau khi bố ông chết, ông thường xuyên về nhà dọn dẹp nhà cửa và thắp hương cho các cụ. Khoảng 1- 2 năm sau khi ông đang dọn dẹp nhà cửa thì ông P4 gọi ông sang chứng kiến việc mua bán nhà đất với bà C, nên ông nhớ thời điểm bà C nhận chuyển nhượng nhà đất từ gia đình ông P4 khoảng năm 2001-2002”.
Ông L2 xác định khi bà C nói giấy tờ mua bán nhà đất với ông P4, bà Y bị mất, xin ông xác nhận lại, vì là người được bà C mời chứng kiến toàn bộ sự việc và thấy việc mua bán đã xong nên ông không để ý ngày năm tháng và số tiền bà C ghi nhầm thành 23.000.000đ, nay có sự kiện cáo nên ông đã nhớ lại “Khoảng năm 2001-2002 ông là công an viên quản lý địa bàn, con gái bà C là chị B2 có lấy chồng Đài Loan, hai vợ chồng thỉnh thoảng về Việt Nam thăm và ở lại nhà bà C, nên phải khai báo tạm trú do chồng chị B2 là người nước ngoài. Ông là người trực tiếp nhận hồ sơ khai báo, sau đó chị B2 mang bầu và về nhà bà C sinh con trai năm 2004. Nên ông xác định thời điểm bà C nhận chuyển nhượng nhà đất từ ông P4 bà Y là năm 2001 hoặc năm 2002, diện tích chuyển nhượng khoảng 200m²”.
Ông Phạm Văn V2 khẳng định ông là người cho bà C vay chiếc xe mô tô 67 để giao cho gia đình ông P4 do trước đây ông L6 (con ông P4) thích chiếc xe Honda 67 của ông nên nhiều lần gạ đổi xe lấy thửa đất hiện nay đang tranh chấp, nhưng vì thửa đất lúc đó rất hoang vu và có mộ nên ông không đồng ý. Nếu ông thích thửa đất này thì đã không đến lượt bà C mua.
Tại phiên tòa, anh Lê Văn H6 (con trai bà C) khẳng định anh là người đến nhà ông V2 đem xe Honda 67 về để bà C giao cho ông P4, bà Y; chị Lê Thị H5 (con gái bà C) khẳng định là người chứng kiến việc mua bán nhà đất giữa bà C với ông P4, bà Y. Sự việc mua bán còn có sự chứng kiến của anh L6 (con trai ông P4, bà Y) nhưng anh L6 đã chết năm 2016.
Như vậy, lời khai của bà C và những người làm chứng phù hợp với nhau, tuy có sự nhầm lẫn về mặt thời gian và số tiền chuyển nhượng nhưng đều thống nhất khẳng định có việc mua bán nhà đất giữa bà C với ông P4 bà Y, đều trình bày thống nhất về cách thức giao tiền gồm tiền mặt và xe máy Honda 67; sau khi nhận tiền, ông P4 bà Y còn cho lại bà C 100.000đ. Vì vậy, về bản chất là có việc mua bán nhà đất giữa ông P4, bà Y, ông L6 với bà C với diện tích khoảng 200m², phần còn lại của thửa đất hiện nay bà C đang sử dụng do bà khai hoang thêm.
* Quá trình sử dụng đất: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà L đều khẳng định ông P4, bà Y chuyển ra Nam Định ở năm 2002, phù hợp với lời khai của bà C và những người làm chứng khác gồm ông Nguyễn Xuân C4, ông Nguyễn Văn L4, bà Trương Thị T7, ông Bùi Đình Đ, ông Nguyễn Văn H3, ông An Tất T6, ông Trương Thế A... đều khẳng định năm 2002 sau khi hộ ông P4 bà Y chuyển ra Nam Định sống cùng gia đình con trai là Trịnh Xuân P2 thì hộ bà C đến ở trên diện tích đất trên (BL 915-933).
Bà L và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Trịnh Thị N, ông Trịnh Xuân P2, bà Trịnh Thị T2, bà Trịnh Thị L1,bà Trịnh Thị H2, anh Trịnh Xuân T3, bàLê Thị T4 (là đại diện hợp pháp của anh Trịnh Xuân Q) cho rằng năm 2005 ông Trịnh Xuân L6 tự ý cho bà C mượn nhà đất của ông P4, bà Y để ở là không có cơ sở, bởi lẽ: Tại biên bản hội nghị ngày 8/9/2020 bà Trịnh Thị N thừa nhận “Cậu Lai do ăn chơi, uống rượu đã bán nhà cho bà C. Bố mẹ anh em không ai ký giấy bán” (BL390). Bà Bùi Thị C cùng người làm chứng ông Nguyễn Văn T12, ông Nguyễn Trung L2, ông Phạm Ngọc V, chị Lê Thị H5, anh Lê Văn H6 đều khẳng định bà C đã mua lại nhà đất của ông P4, bà Y, anh L6 năm 2002. Sau khi ông P4, bà Y bán nhà đất cho bà C thì ông P4, bà Y và anh L6 đã chuyển khẩu về sinh sống tại thôn N, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định từ ngày 25/7/2002. Từ khi bà C đến sinh sống trên thửa đất này cho đến khi bà Y chết năm 2005, ông P4 chết năm 2010, cả hai ông bà đều không có ý kiến gì và cũng không để lại di chúc liên quan đến nhà đất đã bán cho bà C. Kể từ khi bà C đến ở và cải tạo, tu bổ, sửa chữa, xây mới các công trình từ năm 2003 đến trước khi bà C làm thủ tục đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ngoại trừ ông Trịnh Xuân P3 bị tâm thần, các con của ông P4 và bà Y bao gồm bà Trịnh Thị N, bà Trịnh Thị L1, ông Trịnh Xuân P1 đều sinh sống trên địa bàn xã H nhưng đều không có ý kiến gì. Không những vậy, ông Trịnh Xuân P1 còn khai việc bố mẹ ông có bán cho bà C hay không thì ông không biết và khẳng định bà C sinh sống trên thửa đất này từ khi bố mẹ ông chuyển ra Nam Định đến nay không có tranh chấp gì và ông cũng không có yêu cầu gì đối với thửa đất này. Bà C sinh sống ổn định đến năm 2018 thì có tên trong Bản đồ địa chính, thuộc thửa số 857, tờ bản đồ số 75, diện tích 1.740.1m², sổ mục kê ghi loại đất ONT, chủ sử dụng là bà Bùi Thị C. Quá trình giải quyết vụ án, bà L và bà C đều khẳng định trong thời gian bà C sinh sống trên đất hai bên gia đình không có tranh chấp gì, ngoài ra cũng không tranh chấp với các hộ nào khác. Chỉ khi bà C làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không được chấp nhận và bà thực hiện quyền khiếu nại mới xảy ra tranh chấp giữa bà với gia đình bà L.
Về diện tích đất đang tranh chấp: bà L trình bày trước đây bố mẹ bà mua của ông T10, bà C1 diện tích đất 1.600m² là không cơ sở, vì bà L không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh ông T10, bà C1 có diện tích đất 1.600m². Bà L và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà L cho rằng bà C1 đã xác nhận lại là có việc bán nhà đất cho ông P4, bà Y diện tích đất 1.600m², có các mốc giới do bà C1 xác định, nhưng không có tài liệu nào của cơ quan có thẩm quyền xác định diện tích đất của ông T10, bà C1 là bao nhiêu và mốc giới như thế nào, nên không có cơ sở xác định diện tích đất ông T10, bà C1 bán cho ông P4, bà Y là 1.740,1m² (diện tích hiện trạng bà C đang sử dụng).
Sau khi mua đất của ông P4 bà Y, do nhà cửa ẩm thấp nên mẹ con bà C đã thuê thợ làm lại và mở mang làm thêm nhiều công trình phụ khác (nội dung này đã được ông Trương Thế A và ông Trần Đình T8 là những người được bà C thuê xây dựng chứng nhận). Quá trình sinh sống trên đất, gia đình bà C còn xây dựng nhiều công trình khác phục vụ đời sống sinh hoạt nhưng gia đình bà L có anh chị ở gần không có ý kiến gì. UBND xã H, UBND tỉnh T cũng đã nhiều lần xác nhận trong các văn bản trả lời công dân thửa đất số 875, tờ bản đồ số 75 (bản đồ đo đạc năm 2018) có diện tích 1.740,1m² tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa là do bà Bùi Thị C nhận chuyển nhượng 01 phần của ông Trịnh Xuân P4 và bà Bùi Thị Y và 01 phần do bà C khai hoang mở rộng thêm.
Bà Lê Thị T4 và bà Nguyễn Thị H4 (vợ và mẹ vợ ông L6) có đơn trình bày ông L6 và bà T4 kết hôn năm 2005 thì trước năm 2005 ông L6 vẫn ở trên thửa đất đó (thửa đất đang tranh chấp), nhưng không có căn cứ chứng mimh. Ông Vũ Bá L3 và ông Tống Xuân C2 trình bày năm 2004 đến mua cây của ông L6, nhưng không có ai làm chứng và không có căn cứ để xác định những gốc cây bà L quay video ghi lại là cây do ông C2, ông L3 mua của ông L6 năm 2004. Quá trình giải quyết ở cấp sơ thẩm, bà L cũng không có đơn yêu cầu giám định tuổi cây đối với những cây này. Video của bà L quay lại không đủ căn cứ xác định người trồng các gốc cây là ai.
Ngoài ra, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà L cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm không lấy lời khai của cháu Trịnh Xuân Q (con trai ông L6, bà T4) là thiếu sót. HĐXX xét thấy, cháu Quyết sinh năm 2009 chưa đến tuổi thành niên, có mẹ cháu là bà Lê Thị T4 là người đại diện hợp pháp cho cháu Q đã có ý kiến là phù hợp quy định pháp luật.
Đối với ông Lê Văn H8 là chồng bà C: theo trình bày của bà C, khi mua nhà đất của ông P4, bà Y, anh L6 thì chỉ có mình bà tham gia giao dịch. Do gia đình đông con, nên sau khi mua nhà đất của ông P4, bà Y chỉ có mình bà cùng các con ở trên diện tích đất này, ông H8 chồng bà ở nhà cũ nên không cần thiết phải lấy lời khai của ông H8. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà C và các con (chị H5, anh H6) đều khẳng định không có việc bà C và ông H8 ly thân nhau, bà L cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh bà C và ông H8 ly thân nên bà C đã được ông L6 cho mượn nhà đất để ở. Việc Tòa án cấp sơ thẩm không triệu tập ông H8 tham gia tố tụng không làm thay đổi nội dung vụ án, không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án và quyền lợi của ông H8 và bà C không đối lập nhau.
Từ những phân tích trên, có đủ cơ sở xác định năm 2002 bà C đã nhận chuyển nhượng nhà đất của gia đình ông P4, bà Y và sinh sống ổn định, không có tranh chấp, năm 2018 được cập nhật vào hồ sơ địa chính quản lý đất đai của địa phương. Bà L khởi kiện yêu cầu bà C trả lại nhà đất của ông P4, bà Y (bố mẹ bà) do ông L6 (anh trai bà) và bà cho bà C mượn năm 2005, nhưng không có căn cứ chứng minh. Do đó, bản án dân sự sơ thẩm số 24/2024/DS-ST ngày 16/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung đã tuyên: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trịnh Thị L về việc buộc bà Bùi Thị C phải trả lại đất và tài sản trên đất tại thửa đất số 857, tờ bản đồ số 75, diện tích 1.740,1m², địa chỉ xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa là phù hợp quy định pháp luật.
Dó đó, kháng cáo của bà Trịnh Thị L đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm. Nếu không được chấp nhận hủy án thì đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa sửa bản án, buộc bà Bùi Thị C phải trả lại toàn bộ nhà đất tại thửa số 857, tờ bản đồ số 75, diện tích 1.740,1m² tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa và các tài sản trên đất cho gia đình bà là không có cơ sở chấp nhận.
[3] Về nội dung rút kinh nghiệm:
- - Tòa án nhân dân huyện Hà Trung đã phân công Thư ký Lê Thị T11 tham gia giải quyết hai lần trong cùng một vụ án là vi phạm khoản 2 Điều 54 BLTTDS, do Thư ký Lê Thị T11 thuộc trường hợp phải từ chối tham gia tố tụng. Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án lần thứ nhất, tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ và biên bản định giá tài sản ngày 02/11/2022 (BL 364-372) ghi thư ký ghi biên bản là bà Lê Thị Ngọc L9. Tuy nhiên, hồ sơ thể hiện bà Lê Thị Ngọc L9 không có tên trong quyết định phân công những người tiến hành tố tụng trong vụ án. Việc làm này của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung là không đúng quy định của BLTTDS. Do đó, cần nghiêm túc rút kinh nghiệm.
- - Tại mục [1] Về thủ tục tố tụng trong phần nhận định của bản án, Tòa án cấp sơ thẩm không xác định quan hệ tranh chấp theo khoản 9 Điều 26 BLTTDS, không xác định thẩm quyền giải quyết vụ án theo điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS năm 2015 và Điều 236 Luật Đất đai 2024. Đồng thời, tại phần quyết định của bản án, Tòa án cấp sơ thẩm không nêu căn cứ áp dụng khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS và Điều 236 Luật Đất đai 2024 là thiếu sót. Do đó, cần nghiêm túc rút kinh nghiệm.
- - Về áp dụng pháp luật: HĐXX cấp sơ thẩm nhận định có việc bà C mua nhà đất của ông P4, bà Y, nhưng lại áp dụng quy định tại Điều 184 BLDS về việc xác lập quyền sở hữu cho người chiếm hữu ngay tình là áp dụng không đúng pháp luật. Trường hợp bà C có chiếm hữu ngay tình thì kể từ thời điểm bà C sử dụng đất (từ năm 2002 theo lời khai của bà C và từ năm 2005 theo lời khai của bà L9) thì cũng chưa đủ thời gian 30 năm để xác lập quyền sở hữu. Do đó, cần nghiêm túc rút kinh nghiệm.
- - Về lời tuyên của bản án sơ thẩm: theo đơn khởi kiện và đơn khởi kiện bổ sung, bà L9 yêu cầu Tòa án giải quyết những nội dung sau:
- + Buộc bà Bùi Thị C phải trả lại toàn bộ diện tích đất tại thửa số 857, tờ bản đồ số 75, diện tích 1.637,2m² tại thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa (theo kết quả đo đạc tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 02/11/2022) và các tài sản trên đất cho gia đình bà.
- + Yêu cầu Tòa án xác định thửa đất số 857, tờ bản đồ số 75, diện tích 1.637,2m² tại thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa (theo kết quả đo đạc tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 02/11/2022) thuộc quyền quản lý, sử dụng hợp pháp của vợ chồng ông Trịnh Xuân P4 và bà Bùi Thị Y.
- + T1 cho bà Trịnh Thị L có quyền đại diện gia đình đăng ký đất đai và đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất số 857, tờ bản đồ số 75, diện tích 1.637,2m² tại thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa (theo kết quả đo đạc tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 02/11/2022).
Tuy Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà L, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà L, nhưng tuyên chưa rõ ràng, cụ thể nên Tòa án cấp phúc thẩm cần sửa lại lời tuyên. Đề nghị Tòa án cấp sơ thẩm cần nghiêm túc rút kinh nghiệm.
- [3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Về án phí: bà Trịnh Thị L phải nộp án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bà Trịnh Thị L.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 24/2024/DS-ST ngày 16/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa về phần nội dung. Sửa lại lời tuyên của bản án sơ thẩm.
Áp dụng: khoản 9 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 158; Điều 271; Điều 273 BLTTDS năm 2015; Điều 236 Luật Đất đai 2024. Điều 6; khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 27; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trịnh Thị L về các yêu cầu sau:
- + Buộc bà Bùi Thị C phải trả lại toàn bộ diện tích đất tại thửa số 857, tờ bản đồ số 75, diện tích 1.637,2m² tại thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa (theo kết quả đo đạc tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 02/11/2022) và các tài sản trên đất cho gia đình bà.
- + Yêu cầu Tòa án xác định thửa đất số 857, tờ bản đồ số 75, diện tích 1.637,2m² tại thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa (theo kết quả đo đạc tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 02/11/2022) thuộc quyền quản lý, sử dụng hợp pháp của vợ chồng ông Trịnh Xuân P4 và bà Bùi Thị Y.
- + T1 cho bà Trịnh Thị L có quyền đại diện gia đình đăng ký đất đai và đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất số 857, tờ bản đồ số 75, diện tích 1.637,2m² tại thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa (theo kết quả đo đạc tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 02/11/2022).
* Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí: bà Trịnh Thị L phải nộp 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp 300.000đ, theo biên lai thu tiền số 0001500 ngày 04/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Bà L đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
* Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thu Hà |
Bản án số 23/2025/DS-PT ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 23/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
