Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ BA ĐỒN

TỈNH QUẢNG BÌNH

Bản án số: 23/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 06 - 9 – 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

V/v tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thảo

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Hải Phú và bà Trần Thị Ngọc Lan

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thục Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Sơn – Kiểm sát viên

Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 33/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Ngô Thị B, sinh năm 1986

Nơi cư trú: Tổ C, khu phố C, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: anh Ngô Bình V, sinh năm 1982

Nơi cư trú: thôn Đ, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai, đơn trình bày ý kiến, nguyên đơn chị Ngô Thị B trình bày:

Chị và anh Ngô Bình V có quá trình tìm hiểu và đi đến kết hôn hoàn toàn tự nguyện, đã đăng ký kết hôn vào ngày 04/8/2008 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q (nay là thị xã B), tỉnh Quảng Bình. Do có nhầm lẫn nên trong Giấy chứng nhận kết hôn tên anh V được ghi là Ngô Bình V1. Quá trình chung sống hạnh phúc được 03 năm thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là tính cách không hòa hợp; bất đồng quan điểm sống dẫn đến cãi vã, cuộc sống không có hạnh phúc. Anh V đã bỏ đi từ năm 2011 không liên lạc gì với chị nên vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay, hai bên không ai quan tâm gì đến ai nữa. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn với anh Ngô Bình V.

Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung, tên là Ngô Gia H, sinh ngày 06/12/2009, cháu sinh sống cùng với chị từ nhỏ cho đến nay, anh V không có chu cấp gì. Chị có nguyện vọng sau khi ly hôn được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung và không yêu cầu anh V đóng góp cấp dưỡng nuôi con.

Chị và anh V không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng gồm: Thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập cho chị B, anh V. Ngày 25/7/2024 chị B có đơn xin xét xử vắng mặt, anh V vắng mặt tại tất cả các lần Toà án triệu tập. Kết quả xác minh tại UBND xã Q cho thấy: UBND xã Q đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh V.

Ngày 05/8/2024, Toà án ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử và triệu tập chị B, anh V đến phiên toà vào ngày 22/8/2024, nhưng anh V vắng mặt không có lý do nên Toà án phải hoãn phiên toà. Ngày 06/9/2023, Toà án mở phiên toà lần hai, tiếp tục triệu tập các bên đương sự đến tham gia phiên toà nhưng anh V vẫn vắng mặt.

Qua xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Q: Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên toà, các giấy triệu tập đến phiên toà của Toà án đã được cán bộ của Ủy ban tống đạt trực tiếp cho anh V.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn tham gia phiên toà phát biểu quan điểm:

  • - Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình không có gì sai phạm, bị đơn không chấp hành việc triệu tập của Toà án, gây khó khăn cho quá trình giải quyết vụ án.
  • - Về nội dung: Đề nghị căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt anh Ngô Bình V và chị Ngô Thị B; căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình, Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, chị Ngô Thị B; căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình giao con chung là Ngô Gia H cho chị B trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Chị B không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không xem xét; Về tài sản chung, không xem xét; Về án phí, áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Ngô Bình V phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, căn cứ vào kết quả hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Ngô Thị B có đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với anh Ngô Bình V và giải quyết về con chung của vợ chồng, như vậy quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Ngô Bình V có nơi cư trú tại thôn Đ, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vì vậy, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.

Nguyên đơn chị Ngô Thị B có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Ngô Bình V đã được triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn chị Ngô Thị B và bị đơn anh Ngô Bình V.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị B và anh Ngô Bình V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tại Giấy chứng nhận kết hôn số 035KH ngày 04/8/2008 của UBND xã Q ghi họ và tên chồng là Ngô Bình V1, tuy nhiên ngày 29/5/2024, anh Ngô Bình V đã có đơn trình bày và được UBND xã Q về việc nhầm lẫn khi ghi tên trong Giấy chứng nhận kết hôn, tên đúng của anh là Ngô Bình V. Như vậy, anh V và chị B có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền nên quan hệ hôn nhân của hai người là hoàn toàn hợp pháp.

Theo chị B trình bày, quá trình vợ chồng chung sống được 03 năm thì bắt đầu xảy ra nhiều mâu thuẫn dẫn đến anh chị thường xuyên cãi cọ, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc nên anh chị đã ly thân từ năm 2011 đến nay, không quan tâm gì đến nhau nữa. Chị B xác định hai bên không còn tình cảm với nhau. Việc anh chị ly thân từ lâu cũng đã được bố đẻ của anh V là ông Ngô Văn B1 xác nhận. Anh V mặc dù biết được việc chị B làm đơn ly hôn nhưng cũng không có ý định hàn gắn, níu kéo tình cảm vợ chồng. Vì vậy, có thể thấy mâu thuẫn của chị B và anh V đã rất trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không còn có hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị B; căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho chị B được ly hôn với anh V là phù hợp.

[3] Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống chị Ngô Thị B và anh Ngô Bình V có 01 con chung như chị B đã trình bày. Quá trình giải quyết vụ án, chị B trình bày nguyện vọng sau khi ly hôn để chị B trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung và không yêu cầu anh V đóng góp cấp dưỡng nuôi con. Tại Đơn trình bày nguyện vọng cháu Ngô Gia H trình bày nguyện vọng mong muốn được ở với mẹ.

Xét thấy ý kiến về việc nuôi con của chị B là tự nguyện và cũng phù hợp với nguyện vọng của con, từ nhỏ đến nay cháu H đều sinh sống với chị B nên cần căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình giao con chung là Ngô Gia H cho chị B trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, anh V không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con.

[4] Về quan hệ tài sản chung: Quá trình giải quyết vụ án, chị B trình bày vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Toà án giải quyết, cũng không có ai có yêu cầu gì liên quan đến tài sản chung của vợ chồng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: chị Ngô Thị B phải nộp toàn bộ án phí ly hôn để sung vào Ngân sách nhà nước, được khấu trừ vào khoản tạm ứng án phí đã nộp trước đây theo quy định.

[6] Về quyền kháng cáo: nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, 58, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  1. Xét xử vụ án vắng mặt chị Ngô Thị B và anh Ngô Bình V.
  2. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị B, xử cho chị Ngô Thị B ly hôn với anh Ngô Bình V.
  3. Về quan hệ con chung: chị Ngô Thị B và anh Ngô Bình V có 01 con chung là Ngô Gia H, sinh ngày 06/12/2009. Sau khi chị B và anh V ly hôn, giao con chung Ngô Gia H cho chị Ngô Thị B trực tiếp nuôi dưỡng; anh Ngô Bình V không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con.
  4. Sau khi ly hôn, anh Ngô Bình V có quyền và nghĩa vụ qua lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở

  5. Về quan hệ tài sản chung: Không xem xét.
  6. Về án phí sơ thẩm: Chị Ngô Thị B chịu trách nhiệm nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn để sung vào Ngân sách Nhà nước, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp trước đây tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ba Đồn theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003327 ngày 04 tháng 5 năm 2024. Chị B đã nộp đủ tiền án phí.
  7. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - VKSND thị xã Ba Đồn;
  • - Chi cục THADS thị xã Ba Đồn;
  • - UBND xã Quảng Minh (Giấy CNKH số 035H, quyển số 02, ngày 04/8/2008);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thanh Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2024/HNGĐ-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH về tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 23/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xét xử cho ly hôn và gải quyết về con chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger