|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 23/2024/KDTM-ST Ngày: 25-7-2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Tô Đông Đức
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lâm Ngọc Minh
2. Ông Trần Nghiệp Hồng
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Thanh Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh – Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 27/2023/TLST-KDTM ngày 16 tháng 6 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2024/QĐXXST-KDTM ngày 30 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 63/2024/QĐST-KDTM ngày 28 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ (P); địa chỉ: Số B đường N, phường T, quận H, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Vĩnh K hoặc ông Lê Hoàng G; địa chỉ: lầu M, số B L, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy ủy quyền số 3021/UQ-PVB ngày 03/5/2024) (có đơn xin vắng mặt)
2. Bị đơn: Công ty TNHH T1; địa chỉ: Số B đường I khu dân cư C, ấp E, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Bá L, sinh năm 1979, chức vụ: Giám đốc, địa chỉ: Số B đường I khu dân cư C, ấp E, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 25/5/2023, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngày 28/12/2018, Công ty TNHH T1 (gọi tắt là “Công ty T1”) và Ngân hàng TMCP Đ (gọi tắt là “P”) đã cùng ký Hợp đồng cho vay số 1736/2018/HĐTD/PVB-PGD.BC ngày 28/12/2018 và Khế ước nhận nợ ngày 04/01/2019 với số tiền 275.000.000 đồng; thời hạn vay: 60 tháng; nợ gốc: được trả 60 kỳ, 01 tháng/kỳ; lãi suất cho vay: từ ngày 04/01/2019 đến ngày 03/01/2020 là 8,99%, sau đó điều chỉnh 03 tháng/lần theo công thức: lãi suất tiền gửi “tiết kiệm đại chúng” lĩnh lãi cuối kỳ cao nhất của khách hàng cá nhân, có loại tiền tương ứng với loại tiền vay, kỳ hạn 13 tháng, theo biểu lãi suất huy động của Ngân hàng C từng thời kỳ (+) biên độ 4,5%/năm; lãi suất quá hạn trên gốc quá hạn: bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn; lãi suất quá hạn trên lãi chậm trả: bằng 10%/năm.
Để đảm bảo cho các khoản vay của Công ty T1 theo Hợp đồng cho vay số 1736/2018/HĐTD/PVB-PGD.BC ngày 28/12/2018 thì các bên đã ký kết hợp đồng thế chấp xe ô tô số 1737/2018/HĐBĐ/PVB-PGD.BC ngày 28/12/2028 với tài sản thế chấp là ô tô tải (thùng kín) nhãn hiệu là TERACO, số loại TERA 250/TN-TKS-18, 03 chỗ, màu trắng, xe mới 100%, số khung RM0TE17HLHC000383, số máy D4BHG824355, biển số 51D-454.43 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 433232 do Công an Thành phố H cấp ngày 03/01/2019. Tài sản đã được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 04/01/2019 tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty T1 đã không thực hiện trả nợ theo như cam kết trong Hợp đồng tín dụng, K1 ước nhận nợ đã ký. P đã nhiều lần yêu cầu Công ty T1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ, bàn giao tài sản đảm bảo nhưng Công ty T1 không thực hiện yêu cầu, có biểu hiện kéo dài thời gian và trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Tổng dư nợ của công ty T1 tạm tính đến 10/7/2023 tại P là 239.775.816 đồng.
Để bảo vệ quyền và lợi ích của P, P khởi kiện Công ty T1, đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết:
- T buộc Công ty T1 thanh toán cho P số tiền 234.286.177 đồng, gồm: số tiền nợ gốc: 168.563.268 đồng; tổng số tiền nợ lãi (tính đến ngày 15/5/2023): 65.722.909 đồng. Thanh toán một lần, ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Tuyên buộc Công ty T1 thanh toán phần nợ lãi, phí phạt chậm trả phát sinh theo lãi suất quá hạn, lãi suất phạt theo thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 1736/2018/HĐTD/PVB-PGD.BC ngày 28/12/2018 kể từ ngày 16/5/2023 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
- Kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu Công ty T1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì P có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm của khoản vay để thu hồi nợ.
- Số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước và nghĩa vụ trả nợ của Công ty T1 đối với P. Nếu số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì Công ty T1 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho P.
* Tòa án nhân dân Quận 11 đã tiến hành đã thực hiện đầy đủ thủ tục tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng đối với bị đơn Công ty T1 và người đại diện theo pháp luật của bị đơn là ông Trần Bá L nhưng phía bị đơn không phản hồi ý kiến.
Tại phiên tòa ngày 28 tháng 6 năm 2024, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn – ông Lê Hoàng G – thay đổi yêu cầu khởi kiện, rút yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm, cụ thể là đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết:
Tuyên buộc Công ty T1 thanh toán cho P số tiền 199.667.905 đồng, gồm: số tiền nợ gốc là 84.924.668 đồng; tổng số tiền nợ lãi (tạm tính đến ngày 28/6/2024) là 114.743.237 đồng (trong đó: nợ lãi là 37.353.460 đồng, lãi chậm trả là 77.389.777 đồng). Thanh toán một lần, ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Tuyên buộc Công ty T1 thanh toán phần nợ lãi, phí phạt chậm trả phát sinh theo lãi suất quá hạn, lãi suất phạt theo thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 1736/2018/HĐTD/PVB-PGD.BC ngày 28/12/2018 kể từ ngày 29/6/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu Công ty T1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì P có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mãi các tài sản của Công ty T1 để thu hồi nợ.
Tại phiên tòa ngày 25 tháng 7 năm 2024:
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn xin vắng mặt kèm bản tự khai và bảng kê tính lãi đến ngày 25/7/2024, yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết:
Tuyên buộc Công ty T1 thanh toán cho P số tiền 201.334.648 đồng, gồm: số tiền nợ gốc là 84.924.668 đồng; tổng số tiền nợ lãi (tạm tính đến ngày 25/7/2024) là 116.409.980 đồng (trong đó: nợ lãi là 37.353.460 đồng, lãi chậm trả là 79.056.520 đồng). Thanh toán một lần, ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Tuyên buộc Công ty T1 thanh toán phần nợ lãi, phí phạt chậm trả phát sinh theo lãi suất quá hạn, lãi suất phạt theo thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 1736/2018/HĐTD/PVB-PGD.BC ngày 28/12/2018 kể từ ngày 26/7/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu Công ty T1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì P có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mãi các tài sản của Công ty T1 để thu hồi nợ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa có ý kiến như sau:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Tòa án nhân dân Quận 11, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và các thành viên trong Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về tố tụng. Việc tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ, thông báo, tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; việc tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho đương sự và gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát được thực hiện đúng với quy định của pháp luật. Tuy nhiên vẫn chưa đảm bảo thời hạn giao Thông báo thụ lý vụ án cho nguyên đơn, bị đơn, thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án.
Về nội dung vụ án:
- Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc:
Buộc Công ty T1 thanh toán cho P số tiền nợ gốc là 84.924.668 đồng; số tiền nợ lãi là 116.409.980 đồng (gồm nợ lãi là 37.353.460 đồng, lãi chậm trả là 79.056.520 đồng), thanh toán một lần, ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật;
Buộc Công ty T1 thanh toán phần nợ lãi, phí phạt chậm trả phát sinh theo lãi suất quá hạn, lãi suất phạt theo thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 1736/2018/HĐTD/PVB-PGD.BC ngày 28/12/2018 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu Công ty T1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi suất phát sinh thì P có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mãi tài sản của Công ty T1 để thu hồi nợ.
Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu Công ty T1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi suất phát sinh thì P có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm của khoản vay để thu hồi nợ do nguyên đơn rút yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Ngân hàng TMCP Đ (P) khởi kiện “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” với Công ty TNHH T1. Đây là tranh chấp kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện theo quy định tại khoản 1 Điều 30 và điểm b khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Khoản 9.2 Điều 9 Hợp đồng cho vay số 1736/2018/HĐTD/PVB-PGD.BC ngày 28/12/2018 ghi nhận “... Trường hợp không giải quyết được thông qua thương lượng được thì một trong hai Bên có quyền xử lý theo đúng các điều khoản đã thỏa thuận tại (các) văn kiện tín dụng hoặc có quyền khởi kiện tại Tòa án nơi có trụ sở của nguyên đơn. Trụ sở của nguyên đơn là nơi được nêu ở phần giới thiệu của Hợp đồng này”. Tại Văn bản số 3571/PVB-QL&TCTTS ngày 16/5/2023, P xác nhận thỏa thuận trên không phù hợp với quy định pháp luật do trụ sở của P và địa chỉ phần giới thiệu của Hợp đồng cho vay số 1736/2018/HĐTD/PVB-PGD.BC ngày 28/12/2018 (Ngân hàng TMCP Đ - chi nhánh G1 - phòng G2) là khác nhau. Do đó, P lựa chọn Tòa án nơi thực hiện hợp đồng - Tòa án nhân dân Quận 11 – là Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án. Căn cứ Khế ước nhận nợ ngày 04/01/2019 thì việc giải ngân và nhận nợ được thực hiện tại địa chỉ Ngân hàng TMCP Đ - chi nhánh G1 - phòng G2 (số C đường L, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh) nên Tòa án nhân dân Quận 11 thụ lý và giải quyết là đúng theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Phiên tòa xét xử vụ án được mở vào lúc 08 giờ 30 phút, ngày 28 tháng 6 năm 2024 và lúc 083025 tháng 7 năm 2024; bị đơn Công ty T1, người đại diện theo pháp luật của bị đơn là ông Trần Bá L đã được thông báo về thời gian và địa điểm xét xử vụ án nêu trên nhưng đều vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho Công ty T1, người đại diện theo pháp luật của bị đơn là ông Trần Bá L các văn bản tố tụng: Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Thông báo về việc thụ lý vụ án đã ghi rõ nội dung sự việc, yêu cầu của nguyên đơn và các tài liệu chứng minh cho yêu cầu của nguyên đơn. Tuy nhiên, phía bị đơn không đến Tòa án để giải quyết vụ án, không có ý kiến phản hồi về yêu cầu của nguyên đơn, không cung cấp chứng cứ chứng minh đã trả số tiền gốc và lãi nêu trên cho nguyên đơn. Như vậy, bị đơn đã từ bỏ quyền chứng minh và cung cấp chứng cứ của mình nên căn cứ khoản 2, khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
[3.1] Về yêu cầu thanh toán nợ, lãi của nguyên đơn:
Căn cứ Hợp đồng cho vay số 1736/2018/HĐTD/PVB-PGD.BC ngày 28/12/2018 và Khế ước nhận nợ ngày 04/01/2019 được ký kết giữa P và Công ty T1,, có cơ sở để xác định phía bị đơn đã vay của P số tiền 275.000.000 đồng. Đây là giao dịch dân sự trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về hình thức và nội dung nên được thừa nhận, được bảo vệ và là căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, phía bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên việc P khởi kiện yêu cầu phía bị đơn trả toàn bộ số nợ còn lại và tiền lãi là phù hợp với quy định tại Điều 95, Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 13, Điều 20 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.
Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu về thanh toán nợ của nguyên đơn, buộc Công ty T1 thanh toán cho P số tiền 201.334.648 đồng, gồm: số tiền nợ gốc là 84.924.668 đồng; tổng số tiền nợ lãi (tính đến ngày 25/7/2024) là 116.409.980 đồng (trong đó: nợ lãi là 37.353.460 đồng, lãi chậm trả là 79.056.520 đồng), thanh toán một lần, ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra, phía bị đơn còn phải trả phần nợ lãi, phí phạt chậm trả phát sinh theo lãi suất quá hạn, lãi suất phạt theo thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 1736/2018/HĐTD/PVB-PGD.BC ngày 28/12/2018 kể từ ngày 26/7/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu Công ty T1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì P có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mãi các tài sản của Công ty T1 để thu hồi nợ của nguyên đơn theo pháp luật về thi hành án dân sự.
[3.2] Về yêu cầu đối với tài sản bảo đảm của nguyên đơn:
Nguyên đơn đã rút yêu cầu này. Việc rút yêu cầu này là tự nguyện, do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu này.
[4] Về án phí:
Căn cứ khoản 4 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn phải chịu án phí kinh doanh, thương mại có giá ngạch đối với yêu cầu buộc bị đơn trả số tiền là 201.334.648 đồng của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận; nguyên đơn không phải chịu án phí sơ thâm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35; điểm g khoản 1 Điều 40; khoản 1 Điều 157; Điều 220; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 2 Điều 244; Điều 266; Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 210 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024; Điều 13, Điều 20 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng; Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ (P), buộc Công ty TNHH T1 thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ (P) khi bản án có hiệu lực pháp luật tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 25/7/2024 là 201.334.648 (hai trăm linh một triệu, ba trăm ba mươi bốn nghìn, sáu trăm bốn mươi tám nghìn) đồng, gồm:
- Số tiền nợ gốc là 84.924.668 (tám mươi bốn triệu, chín trăm hai mươi bốn nghìn, sáu trăm sáu mươi sáu) đồng;
- Tổng số tiền nợ lãi là 116.409.980 (một trăm mười sáu triệu, bốn trăm linh chín nghìn, chín trăm tám mươi) đồng, trong đó: nợ lãi là 37.353.460 (ba mươi bảy triệu, ba trăm năm mươi ba nghìn, bốn trăm sáu mươi) đồng, lãi chậm trả là 79.056.520 (bảy mươi chín triệu, không trăm năm mươi sáu nghìn, năm trăm hai mươi) đồng.
Thanh toán một lần, ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, Công ty TNHH T1 còn phải trả phần nợ lãi, phí phạt chậm trả phát sinh theo lãi suất quá hạn, lãi suất phạt theo thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 1736/2018/HĐTD/PVB-PGD.BC ngày 28/12/2018 cho Ngân hàng TMCP Đ (P) cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu Công ty TNHH T1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì P có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mãi các tài sản của Công ty TNHH T1 để thu hồi nợ của nguyên đơn theo quy định pháp luật thi hành án dân sự.
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu Toà án tuyên kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu Công ty TNHH T1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng TMCP Đ (P) có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mãi các tài sản của Công ty TNHH T1 để thu hồi nợ
- Về án phí:
Công ty TNHH T1 phải chịu án phí kinh doanh, thương mại có giá ngạch là 10.066.732 (mười triệu, không trăm sáu mươi sáu nghìn, bảy trăm ba mươi hai) đồng.
H lại cho Ngân hàng TMCP Đ (P) số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.857.154 (năm triệu, tám trăm năm mươi bảy nghìn, một trăm năm mươi bốn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0021229 ngày 14/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Tô Đông Đức |
Bản án số 23/2024/KDTM-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 23/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
