|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH TỈNH QUẢNG BÌNH Bản án số: 23/2024/HSST Ngày: 24 - 5 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhàn,
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Cao Thế và ông Văn Anh Trình.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Ngọc Anh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Hiếu, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường UBND xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 15/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2024/QĐXX-ST, ngày 09 tháng 5 năm 2024 đối với: Bị cáo Hoàng Văn N, sinh ngày 12 tháng 3 năm 1997 tại Quảng Bình, tên gọi khác: Không; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Thợ xây; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Hoàng Văn K và bà Nguyễn Thị H; chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03 tháng 01 năm 2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1973; nghề nghiệp: Làm ruộng; địa chỉ: Thôn B, xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, có mặt;
- + Anh Nguyễn Anh M, sinh năm 1997; nghề nghiệp: Lao động tự do; địa chỉ: Thôn P, xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 12 giờ 30 phút ngày 03/01/2024, Tổ công tác thuộc Công an huyện Q, tỉnh Quảng Bình tiến hành tuần tra đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình thì phát hiện và bắt quả tang đối với Hoàng Văn N đang cất giấu trong lòng bàn tay trái 01 (một) gói nilon trong suốt, bên trong có 01 (một) gói giấy bạc màu vàng, bên trong đựng 06 (sáu) viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng. Hoàng Văn N khai nhận toàn bộ viên nén dạng thuốc tân dược màu hồng này là ma túy dạng hồng phiến, N mua về cất giấu để sử dụng. Tổ tuần tra đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Hoàng Văn N, thu giữ niêm phong những tang vật có liên quan.
Tại Kết luận giám định số 70/KL-KTHS ngày 10/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu ký hiệu A là chất ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng 0,553g (không phẩy năm trăm năm mươi ba gam). Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, số thứ tự: 247, Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ.
Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Quảng Bình đã thu giữ:
01 (một) gói nilon trong suốt, bên trong có 01 (một) gói giấy bạc màu vàng bên trong đựng 06 (sáu) viên ma túy; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy J7 Prime màu vàng đồng, điện thoại đã qua sử dụng, bên trong điện thoại không gắn thẻ sim; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu đỏ đen, BKS: 73G1-288.25, xe đã qua sử dụng.
Tại Bản cáo trạng số 14/CT-VKS, ngày 10 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình truy tố bị cáo Hoàng Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Hoàng Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, đúng như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh đã truy tố.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh giữ quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật phát biểu quan điểm, luận tội chứng minh bị cáo Hoàng Văn N đã thực hiện hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine, số lượng 06 viên, khối lượng 0,553gam. Cáo trạng truy tố có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt Hoàng Văn N mức án từ 15 đến 18 tháng tù; áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi giám định; trả lại cho bà Nguyễn Thị H 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy J7 Prime màu vàng đồng, điện thoại đã qua sử dụng, bên trong điện thoại không gắn thẻ sim; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu đỏ đen, BKS: 73G1-288.25, xe đã qua sử dụng.
Bị cáo Hoàng Văn N nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát và lời luận tội của Kiểm sát viên, hối hận về hành vi phạm tội của mình, tỏ thái độ ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, sớm trở về hòa nhập cộng đồng, có điều kiện giúp đỡ gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng
Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Tòa án tiếp tục xét xử vụ án. Xét thấy người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, đã có lời khai tại hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
- [3] Về tội danh: Lời khai của bị cáo thống nhất, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; phù hợp về thời gian, địa điểm và quá trình diễn biến của vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Vào lúc 12 giờ 30 phút ngày 03/01/2024, Hoàng Văn N tàng trữ bên trong lòng bàn tay trái 06 (sáu) viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,553g, mục đích để sử dụng. Hành vi của Hoàng Văn N thuộc lỗi cố ý, bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo về tội danh, khung hình phạt như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- [4] Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo biết ma túy là loại chất gây nghiện có nguy cơ gây hại rất lớn cho xã hội, Nhà nước cấm vận chuyển, mua bán, tàng trữ, nhưng bị cáo vẫn cố tình cất giấu để sử dụng. Do đó, cần phải xử lý nghiêm, tương ứng với tính chất vụ án, tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung, góp phần đấu tranh phòng, chống tệ nạn và các tội phạm về ma túy trong đời sống xã hội.
- [5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- [6] Về xử lý người liên quan trong vụ án: Bị cáo Hoàng Văn N khai mua ma túy từ Nguyễn Anh M, sinh năm 1997 tại thôn P, xã G. Tuy nhiên, quá trình điều tra không đủ cơ sở để chứng minh hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Nguyễn Anh M, cơ quan CSĐT Công an huyện Q tiếp tục điều tra xử lý sau.
- [7] Về vật chứng vụ án: Khối lượng chất ma túy thu giữ trong vụ án sau khi giám định còn lại là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy J7 Prime màu vàng đồng, điện thoại đã qua sử dụng, bên trong điện thoại không gắn thẻ sim là của bà Nguyễn Thị H, bị cáo mượn để sử dụng, bà H không biết bị cáo liên lạc để mua ma túy; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu đỏ đen, BKS: 73G1-288.25, xe đã qua sử dụng của chị gái bị cáo Nguyễn Thị H1 đã giao cho bà Nguyễn Thị H quản lý hợp pháp, bị cáo sử dụng xe đi mua ma túy, bà H không biết nên cần trả lại điện thoại và xe mô tô cho bà H là hoàn toàn phù hợp với khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- [8] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Hoàng Văn N phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- [9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136; Điều 260; khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269; khoản 1 Điều 298; khoản 1, 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn N 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 03 tháng 01 năm 2024.
- Về xử lý vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì thư dán kín, trên có ghi “70/KL-KTHS” bên trong chứa 0,425 gam (không phẩy bốn trăm hai mươi lăm gam) ma túy, loại Methamphetamine và vỏ bao gói còn lại sau khi giám định. Trả lại 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu đỏ đen, mang BKS: 73G1-288.25, xe đã qua sử dụng và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy J7 Prime màu vàng đồng, điện thoại đã qua sử dụng cho bà Nguyễn Thị H. Vật chứng trên có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh ngày 12 tháng 4 năm 2024.
- Án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo Hoàng Văn N phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
Nơi nhận:
- - Bị cáo;
- - VKSND huyện Quảng Ninh;
- - VKSND tỉnh Quảng Bình;
- - Cơ quan điều tra CA huyện Quảng Ninh;
- - Cơ quan THAHS huyện Quảng Ninh;
- - Chi cục THADS huyện Quảng Ninh;
- - Lưu hồ sơ vụ án.
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nhàn |
Bản án số 23/2024/HSST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 23/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án xét xử bị cáo Hoàng Văn N
