Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MANG YANG

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2024/HS-ST

Ngày 23-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG YANG, TỈNH GIA LAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Nam Trung.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Sơn và ông Thân Văn Thái.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Dàng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc Thư

Sinh ngày 06/02/1952 tại tỉnh Quảng Ngãi. Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện M, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc K (đã chết) và bà Nguyễn Thị N (đã chết); bị cáo có vợ là bà Ngô Thị Kim Y (sinh năm: 1966, trú tại: Thôn P, xã H, huyện M, tỉnh Gia Lai) và 03 người con, con lớn nhất sinh năm: 1988, con nhỏ nhất sinh năm: 1996; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Bà Nguyễn Thị T, sinh ngày: 05/5/1935 (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thị T: Bà Phạm Thị Bích L, sinh năm: 1981 (Giấy ủy quyền ngày 17/6/2023).

Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện M, tỉnh Gia Lai, có mặt.

Người làm chứng: Bà Huỳnh Thị Mỹ N1; sinh năm: 1997.

Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện M, tỉnh Gia Lai, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 20/01/2024, bà Nguyễn Thị T (Sinh năm 1935, trú tại: Thôn P, xã H, huyện M, tỉnh Gia Lai) đi bộ từ nhà của bà đến nhà bà Đặng Thị L1 (Sinh năm 1961; trú cùng thôn P, xã H, huyện M, tỉnh Gia Lai) để chơi và ngồi nói chuyện. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày thì bà Nguyễn Thị T đi bộ từ nhà bà L1 về nhà mình (cách khoảng 300m) để ăn cơm tối. Cùng lúc Nguyễn Ngọc T1 điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát: 81B1-504.29 đang lưu thông hướng thị xã A đi thành phố P, khi đi đến đoạn đường tại Km 114 + 900m, Quốc lộ A thuộc địa phận thôn P, xã H, huyện M, tỉnh Gia Lai do không chú ý quan sát, T1 điều khiển xe chạy lấn sát vào lề đường và tông vào sau lưng phía bên phải của bà T đang đi bộ phía trước cùng chiều. Hậu quả bà T bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh G đến ngày 23/01/2024 thì tử vong, Nguyễn Ngọc T1 bị gãy xương đòn vai, xe mô tô Biển kiểm soát: 81B1-504.29 bị hư hỏng.

Lúc 18 giờ 35 phút cùng ngày, Phòng C Công an tỉnh G tiến hành đo nồng độ cồn trong hơi thở đối với Nguyễn Ngọc T1 kết quả: 00mg/1 khí thở. Ngày 21/01/2024 Công an huyện M kiểm tra chất ma túy trong cơ thể của Nguyễn Ngọc T1, kết quả: Âm tính.

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Đoạn đường xảy ra tai nạn được rải nhựa bằng phẳng, mặt đường rộng 11m, hai bên không có vỉa hè, giữa đường được phân chia bằng vạch kẻ đơn đứt nét màu vàng. Lấy mép đường bên phải hướng A đi thành phố P làm chuẩn. Tại hiện trường phát hiện 4 dấu vết, cụ thể gồm: 01 vết cày đứt quảng kéo dài 6,7m hướng từ A đi P đến xe mô tô BKS 81B1-504.29, đo từ đầu vết cày vào lề mép đường chuẩn là 0,75m, điểm cuối đến mép đường là 1,6m; 01 vết màu đỏ diện (0,45 x 0,25)m trên mặt đường, cách mép đường chuẩn là 2,4m; 01 xe mô tô BKS 81B1-504.29 ngã về phía bên phải xe, đầu xe hướng về thành phố P, trục trước đến mép đường chuẩn là 2m, trục sau đến mép đường chuẩn là 1,3m; 01 kính mắt có gọng màu đen rơi trên đường, đo vào mép đường chuẩn là 3m.

Kết quả khám dấu vết phương tiện xe mô tô BKS 81B1-504.29 thể hiện: Cụm đèn chiếu sáng phía trước, đèn xi nhan bị bể vỡ rơi rời khỏi vị trí định vị. Gương chiếu hậu bên phải bị bể vỡ; Tay phanh bên phải bị cong vênh, trầy xước kim loại diện (01 x 03)cm; Tay cầm bên phải có vết trầy xước cao su chiều hướng từ trải qua phải, diện (02 x 02)cm; Mặt nạ phía trước bên trái bị bể vỡ nhựa diện (15 x 7)cm; Chân phanh bị cong vênh, trầy xước kim loại chiều hướng từ trước ra sau diện (15 x 03)cm, xô lệch từ trước ra sau 10cm; Gác chân bên phải phía trước bị cong vênh, xô lệch từ trước ra sau 07cm; Ốp cao su bảo vệ gác chân phía trước bên phải có vết trầy xước cao su diện (03 x 04)cm; Mặt ngoài phía sau ống xả có vết trầy xước kim loại diện (4 x 2,5)cm chiều hưởng từ trước ra sau; Mặt bên phải cản bảo vệ phía sau có vết trầy xước kim loại chiều hướng từ trước ra sau, diện (10 x 01)cm.

Tại bản kết luận giám định pháp y số 170 ngày 26/01/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh G kết luận nguyên nhân chết của bà Nguyễn Thị T cụ thể như sau: Các kết quả chính: Mô cơ dưới da tại vùng chẩm tái bầm tụ máu. Xương sọ vùng chẫm trái có vết nứt sọ đo được trong diện (03x0,2)cm, hướng nứt lan lên trên đỉnh đầu, xuống dưới vùng cổ bên trái, có máu chảy nhiều qua vết nứt xương sọ. Hai lỗ mũi và hai lỗ tai có dịch màu đỏ. Kết luận: Nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não.

Tại Kết luận định giá tài sản số 16 ngày 24/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện M kết luận giá trị thiệt hại của xe mô tô không biển kiểm soát, nhãn hiệu SALUT; màu xanh; dung tích xy lanh 97cm³; sản xuất năm 2004; ngày đăng ký: 02/5/2007; số khung: RGLSA10BH7H021036; số máy: VMSA2BH021036 là 1.300.000 đồng.

* Vật chứng vụ án:

- 01 (một) xe mô tô không có biển kiểm soát, nhãn hiệu: SALUT: màu xanh: dung tích xi lanh: 97 cm³; năm sản xuất: 2004; ngày đăng ký: 02/5/2007; số khung: RGLSA10BH7H021036; số máy: VMSA2BH021036. Quá trình xác minh xác định xe mô tô nói trên có Biển kiểm soát: 37N2-1214, chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn T2 (Sinh năm 1969; nơi thường trú: Khối Y, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An). Kết quả xác minh, ông Nguyễn Văn T2 có đăng ký thường trú tại địa chỉ trên, tuy nhiên hiện tại ông T2 không có mặt tại địa phương, đi làm ăn tại tỉnh Đăk Lăk nhưng không rõ địa chỉ cụ thể do đó không liên hệ làm việc được. Quá trình làm việc, Nguyễn Ngọc T1 khai nhận mua lại xe mô tô nói trên của một người công nhân làm đường ở gần nhà thời gian đã lâu (không biết tên tuổi, lai lịch cụ thể). Khi mua bán thì xe trên không có gắn biển kiểm soát. Trong quá trình sử dụng, T1 có nhặt được Biển kiểm soát: 81B1-504.29 nên đem về gắn vào xe mô tô trên và sử dụng cho đến nay. Đối với xe mô tô trên hiện chưa xác định rõ nguồn gốc. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an huyện M tiếp tục điều tra, xác minh, khi nào xác định rõ sẽ xử lý sau theo quy định của pháp luật.

- 01 (một) Biển kiểm soát: 81B1-504.29, Cơ quan CSĐT Công an huyện M tiến hành xác minh nguồn gốc xác định Biển kiểm soát trên thuộc xe mô tô hai bánh nhãn hiệu LONCIN, loại xe 110, màu đỏ, số khung: LXDXCHLOIIY001397, số máy: VTTJT1P52FMH026709, tên chủ sở hữu Ngô Thị Mỹ T3 (trú tại thôn P, xã H, huyện M). Qua làm việc chị T3 xác nhận trước đây có sở hữu xe mô tô có đặc điểm trên nhưng đã bán cho người khác từ nhiều năm trước (không nhớ rõ là bán cho ai, ở dâu). Do đó, Cơ quan CSĐT - Công an huyện M tiếp tục điều tra, xác minh đối với hành vi có liên quan đến Biển kiểm soát: 8181-504.29, khi nào xác định rõ sẽ xử lý sau theo quy định của pháp luật.

Đối với giấy phép lái xe mô tô hạng A1 do Sở Giao thông vận tải tỉnh G cấp ngày 22/01/2003 cho bị cáo Nguyễn Ngọc T1. Sau khi xác minh làm rõ nguồn gốc, Cơ quan CSĐT - Công an huyện M đã trả lại cho bị cáo T1 theo quy định.

* Về bồi thường dân sự:

Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Ngọc T1 và anh Nguyễn Minh T4 (đại diện hợp pháp của bị hại - con trai bà T) đã tự thỏa thuận bồi thường dân sự, đại diện gia đình bị hại đã viết đơn bãi nại và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Tại bản cáo trạng số 21/CT-VKS ngày 01/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc T1 về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T1 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 6 (sáu) đến 9 (chín) tháng tù.

Tại phiên tòa bị cáo cũng thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung tại bản cáo trạng đã nêu, bị cáo đã nhận thức được về những vi phạm của mình là không chú ý quan sát, không đi đúng phần đường quy định. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người đại diện hợp pháp cho bị hại Nguyễn Thị T đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo.

Về trách nhiệm Dân sự: Người đại diện hợp pháp cho bị hại Nguyễn Thị T không yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Điều tra viên Công an huyện M, tỉnh Gia Lai, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo và tội danh: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu. Xét lời khai của bị cáo là phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ như các biên bản khám nghiệm hiện trường, các kết luận giám định của cơ quan giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy có đủ cơ sở xác định hành vi phạm tội của bị cáo như sau: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 20/01/2024, Nguyễn Ngọc T1 (có giấy phép lái xe mô tô hạng A1) điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát: 81B1-504.29 lưu thông hướng thị xã A đi thành phố P, khi đi đến đoạn đường tại Km 114 +900m, Quốc lộ A thuộc địa phận thôn P, xã H, huyện M, tỉnh Gia Lai thì xe mô tô do T1 điều khiển tông vào sau lưng phía bên phải của bà Nguyễn Thị T đang đi bộ phía trước cùng chiều, hậu quả bà T tử vong. Lỗi gây ra vụ tai nạn giao thông nêu trên do Nguyễn Ngọc T1 không chú ý quan sát, điều khiển xe không đúng phần đường quy định, vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ và điểm a khoản 7 Điều 5 Nghị định 100/2009/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính Phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt. Hậu quả làm 01 người chết. Vì vậy hành vi nêu trên của Nguyễn Ngọc T1 đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Bị cáo phạm tội nghiêm trọng với lỗi vô ý. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc T1 về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Ngọc T1 là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại nghiêm trọng đến tính mạng của người khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự địa phương. Hành vi của bị cáo đã gây hậu quả nghiêm trọng, làm một người chết.

[4] Về các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, bồi thường một phần thiệt hại cho gia đình bị hại đã thể hiện ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Tại thời điểm phạm tội bị cáo đã 71 năm 11 tháng 14 ngày tuổi. Đại diện gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu.

[6] Về hình phạt: Bị cáo đã vi phạm pháp luật hình sự nên phải chịu hình phạt theo quy định tương ứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo. Xét tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo. Trên cơ sở đánh giá mức độ phạm tội của bị cáo thì đề nghị phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là tương xứng. Tuy nhiên, nhận thấy bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, đã lớn tuổi, đặc biệt người đại diện hợp pháp của bị hại tại phiên tòa đã nhiều lần xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo. Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét đề nghị của Kiểm sát viên, người đại diện hợp pháp của bị hại, Hội đồng xét xử nhận thấy việc không buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù trong cơ sở giam giữ cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách cũng đảm bảo tính răn đe cũng như giáo dục chung đối với xã hội.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thị T không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về xử lý vật chứng:

[9] Đối với 01 (một) xe mô tô không có biển kiểm soát, nhãn hiệu: SALUT: màu xanh: dung tích xi lanh: 97 cm³; năm sản xuất: 2004; ngày đăng ký: 02/5/2007; số khung: RGLSA10BH7H021036; số máy: VMSA2BH021036, hiện chưa xác định rõ nguồn gốc và 01 (một) Biển kiểm soát: 81B1-504.29, chưa xác định rõ đối với hành vi có liên quan đến Biển kiểm soát: 8181-504.29. Vì vậy cần giao các vật chứng nêu trên cho Cơ quan Công an huyện M tiếp tục điều tra, làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T1 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T1 12 (mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án (ngày 23/7/2024).

Giao bị cáo Nguyễn Ngọc T1 cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, tỉnh Gia Lai giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Giao 01 (một) xe mô tô không có biển kiểm soát, nhãn hiệu: SALUT: màu xanh: dung tích xi lanh: 97 cm³; năm sản xuất: 2004; ngày đăng ký: 02/5/2007; số khung: RGLSA10BH7H021036; số máy: VMSA2BH021036 và 01 (một) Biển kiểm soát: 81B1-504.29 cho Cơ quan Công an huyện M, tỉnh Gia Lai xác minh, xử lý theo quy định.

3. Về án phí:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc T1 phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Thời hạn kháng cáo:

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (23/7/2024) bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Gia Lai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND huyện Mang Yang;
  • - Công an huyện Mang Yang;
  • - Chi cục THADS huyện Mang Yang (khi án có hiệu lực);
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Nam Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2024/HS-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG YANG, TỈNH GIA LAI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 23/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG YANG, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tp. Trung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger