|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 23/2024/HS-ST Ngày: 19/4/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Nguyên Tùng;
Thẩm phán: Ông Nguyễn Việt Hùng;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Thái, ông Đinh Công Danh và Huỳnh Công Trí.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Linh – Thẩm tra viên, Toà án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa:
Ông Huỳnh Văn Tám – Kiểm sát viên trung cấp.
Vào ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm – Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên và điểm cầu thành phần – Trại tạm giam Công an tỉnh P. Toà án nhân dân tỉnh Phú Yên mở phiên tòa công khai để xét xử sơ thẩm trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 18/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Ngọc P, sinh ngày 03/02/1986; tại thành phố Hồ Chí Minh. Nơi thường trú: 9/2c Hồ Văn T, ấp Đ, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện nay: Khu phố D, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 08/12; con ông Nguyễn Văn K (chết) và bà Vũ Thị C (chết); có vợ Nguyễn Thị L, sinh năm 1993 và 01 con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: - Ngày 08/8/2005 bị Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 05 năm tù về tội “Giết người”, ngày 01/03/2009, chấp hành xong; - Ngày 29/7/2014 bị Toà án nhân dân thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên tuyên phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, ngày 17/12/2019, chấp hành xong; tạm giam từ ngày 06/10/2023 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh P; có mặt.
- Người bào chữa của bị cáo Nguyễn Ngọc P: Ông Phạm Hồng P1 – Luật sư, Công ty TNHH L2, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh P; có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Huỳnh Đức T1, sinh năm 1993. Nơi cư trú: Khu phố C, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
- Phạm Quốc N, sinh năm 1995. Nơi cư trú: thôn X, xã H, thành phố T, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
- Nguyễn Thị L, sinh năm 1993. Nơi cư trú: Khu phố D, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
- Phạm Ngọc Q, sinh năm 1951. Nơi cư trú: Khu phố N, thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên; có mặt.
- Người làm chứng: Ông Trịnh D, sinh năm 1975. Nơi cư trú: Khu phố C, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
- Người chứng kiến: Võ Ngọc T2, sinh năm 1973. Nơi cư trú: Khu phố C, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 04/10/2023, Nguyễn Ngọc P đi xe khách từ thành phố T, tỉnh Phú Yên đến thành phố Hồ Chí Minh. Đến khoảng 06 giờ ngày 05/10/2023, khi đến bến xe A thuộc huyện H, thành phố Hồ Chí Minh, P gặp người đàn ông tên T3 (chưa rõ lai lịch) mua 01 lạng ma tuý đá giá 30.000.000 đồng, 03 chỉ Heroine giá 7.500.000 đồng, P lấy một ít Heroine cho vào 08 ống kim tiêm, loại 01ml và một ít ma tuý đá bỏ vào bì nilon trong suốt một đầu được miết mép rồi cất trong túi quần, số ma túy còn lại P bỏ trong túi xách hình hộp chữ nhật màu đen. Khoảng 18 giờ cùng ngày, P mang theo ma túy, đón xe khách Trọng T4 về thành phố T để bán lại kiếm lời, trên đường đi, P sử dụng hết số ma tuý Heroine trong 01 ống kim tiêm. Khoảng 02 giờ 50 phút ngày 06/10/2023, P xuống xe tại vòng xoay đường N - N - Quốc lộ A thuộc khu phố B, phường P, thành phố T thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P bắt quả tang, thu giữ 01 túi xách hình hộp chữ nhật màu đen, bên trong có 01 bì nilon trong suốt một đầu được miết mép, kích thước (17 x 10)cm đựng chất tinh thể màu trắng; 01 bì nilon trong suốt hàn kín, kích thước (14 x 07)cm bên trong đựng 05 bì nilon trong suốt, mỗi bì kích thước (4,8 x 7,7)cm đựng chất bột màu trắng dạng nén nghi là chất ma tuý.
Khám xét người của P, thu giữ: 01 bì nilon trong suốt một đầu được miết mép, kích thước (08 x05)cm bên trong có 01 bì nilon trong suốt một đầu được miết mép, kích thước (07 x 04)cm đựng chất tinh thể màu trắng; 07 bơm kim tiêm loại 01ml/cc hiệu B/BRAUN đã mở bao bì đóng gói, bên trong mỗi bơm kim tiêm chứa chất bột màu trắng nghi là chất ma tuý. Khám xét nơi ở của P, thu giữ: 01 khẩu súng ngắn kim loại màu đen; 162 gram viên bi kim loại hình cầu màu trắng; 935 gram viên bi kim loại hình cầu màu trắng.
Qua điều tra còn xác định: Trong tháng 9/2023, P 02 lần đến bến xe A gặp người đàn ông tên T3 (chưa rõ lai lịch) mua ma tuý, mỗi lần mua 01 lạng ma tuý đá giá 30.000.000 đồng, 03 chỉ Heroine giá 7.500.000 đồng, tổng cộng 75.000.000 đồng rồi mang về thành phố T bán lại kiếm lời, cụ thể:
- Khoảng đầu tháng 9/2023, P đón xe đến bến xe A gặp người đàn ông tên T3 rồi mua 01 lạng ma tuý đá giá 30.000.000 đồng, 03 chỉ Heroine giá 7.500.000 đồng, mang về thành phố T, bán cho Phạm Quốc N 02 lần, mỗi lần bán nửa hộp 5 ma tuý đá giá 1.500.000 đồng, tổng cộng: 3.000.000 đồng. P còn nhiều lần bán ma túy cho nhiều người nhưng không nhớ bán cho ai, số lượng bao nhiêu, ngoài ra, P còn sử dụng cho bản thân.
- Khoảng đầu tháng 9/2023, P đón xe đến bến xe A gặp người đàn ông tên T3 rồi mua 01 lạng ma tuý đá giá 30.000.000 đồng, 03 chỉ Heroin với giá 7.500.000 đồng rồi mang lại thành phố T, từ ngày 30/9/2023 đến ngày 04/10/2023, P bán ma tuý Heroine cho Huỳnh Đức T1 09 lần, mỗi lần giá từ 600.000 đồng đến 1.000.000 đồng, tổng số tiền 6.600.000 đồng. P còn nhiều lần bán ma túy cho nhiều người nhưng không nhớ bán cho ai, số lượng bao nhiêu, ngoài ra, P còn sử dụng cho bản thân.
Kết luận giám định số 495 ngày 11/10/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh P, kết luận: Tinh thể màu trắng (ký hiệu A₁) là ma túy, có khối lượng 99,946g, loại Methamphetamine; Chất bột màu trắng dạng nén (ký hiệu A₂) là ma túy, có tổng khối lượng 18,887g, loại Heroine; Tinh thể màu trắng (ký hiệu A₃) là ma túy, có khối lượng 1,355g, loại Methamphetamine; Chất bột màu trắng (ký hiệu A₄) là ma úy, có tổng khối lượng 0,264g, loại Heroine. Tổng khối lượng ma túy thu giữ của Nguyễn Ngọc P là 101,301 gam loại Methamphetamine và 19,151 gam loại Heroine.
Tại bản Cáo trạng số 26/CT-VKSPY-P1 ngày 21/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố Nguyễn Ngọc P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Điểm b, Khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Ngọc P vẫn khai nhận tội như đã khai tại Cơ quan điều tra; thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố là đúng.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị tuyên bị cáo Nguyễn Ngọc P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
Về Hình phạt: Áp dụng Điểm b Khoản 4, Khoản 5 Điều 251; Điểm s, Khoản 1 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc P tù Chung thân. Thời hạn tù tính từ ngày 06/10/2023.
Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Ngọc P từ 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng) đến 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.
Về Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điểm b, Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự;
Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc P phải nộp lại 9.600.000đ (Chín triệu sáu trăm nghìn đồng) tiền thu lợi bất chính từ mua bán trái phép chất ma túy mà có để sung vào ngân sách nhà nước.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a, c Khoản 1, Khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2; Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) bao bì giấy dán kín, mặt trước có ghi: “Công an tỉnh P. Phòng K2. Hoàn trả Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P_A1= 98,955(g) Methamphetamine; A2.1= 3,709(g), A2.2= 3,701(g), A2.3= 3,722(g), A2.4= 3,735(g), A2.5= 3,710(g) Heroine; A3= 1,278(g) Methamphetamine; A4= 0,218(g) Heroine theo kết luận giám định số 495/KL-KTHS, ngày 11/10/2023. Mặt sau có chữ ký ghi tên Phan Đức K1, Phạm Thị Phương X và đóng dấu tròn của Phòng K2 Công an tỉnh P ở 04 góc.
- 01 (một) túi niêm phong mã số PS3 2146932, có đóng dấu tròn của Phòng K2 Công an tỉnh P, phần tên mẫu vật ghi: 07 bơm kim tiêm loại 01ml/cc hiệu B/BRAUN.
- Quần dài màu xám; 01 (một) túi xách hình hộp chữ nhật màu đen, có hoa văn màu tím xanh cam, kích thước (21x13x18,5)cm, có 02 quai, có 01 dây kéo ở mặt trên túi xách.
- 01 (một) bì nilon màu đen có 02 quai; 01 (một) bì nilon trong suốt có một đầu được miết mép kích thước (7 x 11,1)cm; 01 (một) nắp nhựa màu vàng hình tròn, đường kính 3,2cm, cao 1,2cm, trên nắp có 02 lỗ tròn, 01 lỗ gắn ống nhựa màu đen dài 27cm, 01 lỗ còn lại gắn ống thuỷ tinh có 01 đầu hình cầu, dài 13cm; 01 (một) ống nhựa màu trắng dài 21cm; 01 (một) ống nhựa màu vàng dài 20,6cm; 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng dài 5,2cm có một đầu hàn kín và một đầu bị cắt chéo; 01 (một) quẹt ga màu đỏ, dài 8cm; 01 (một) nắp nhựa màu vàng hình tròn, đường kính 3cm, cao 1,1cm, trên nắp có 02 lỗ tròn; 01 (một) phần của quẹt ga màu trắng, dài 6cm, không có phần bật lửa ga; 01 (một) ống kim loại hình trụ tròn, dài 5,2cm, nơi rộng nhất có đường kính 0,3cm.
- 01 (một) túi vải màu trắng loại dây rút, kích thước (17 x 9,5)cm; 01 (một) bơm kim tiêm loại 01ml/cc hiệu B/BRAUN đã mở bao bì đóng gói; 01 (một) ví màu nâu.
- 01 (một) hộp giấy màu xanh kích thước (15 x 10 x 6)cm bên trong hộp giấy này có 20 bì nilon trong suốt một đầu được miết mép, mỗi bì kích thước (10 x 6)cm; 40 bì nilon trong suốt một đầu được miết mép, mỗi bì kích thước (7 x 4)cm.
- 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng dài 9,5cm một đầu hàn kín, đầu còn lại cắt chéo.
- 01 (một) khẩu súng bằng kim loại màu đen có hiệu “Lock 19 AUSTRIA 9x19” (ký hiệu A1); 158gram viên bi kim loại có đường kính = 6mm (ký hiệu A2) và 935gram viên bi kim loại đường kính = 5mm, (ký hiệu A3) còn lại sau giám định cho Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P (PC04).
Là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không còn giá trị sử dụng, nên chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên, tịch thu tiêu hủy theo Điểm c, Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Đ a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[5.2] - 01 (một) điện thoại di động màu xanh đen, có mặt lưng ghi chữ OPPO, bên trong có gắn 02 sim: sim 1 số 0936 303 718, sim 2 số 0906 535 112 của Nguyễn Ngọc P.
Là phương tiện mà các bị cáo dùng vào việc phạm tội, nên Kiểm sát viên đề nghị tịch thu nộp ngân sách nhà nước theo Điểm a, Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điểm a, Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự là có cơ sở chấp nhận.
[5.3] - 01 (một) căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Ngọc P; 01 thẻ ATM ngân hàng V số 9704 3686 23584196 029 mang tên NGUYEN NGOC PHAT;
Không liên quan đến việc mua, bán ma túy, nên Kiểm sát viên đề nghị tuyên trả cho chủ sở hữu theo Khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự là có cơ sở chấp nhận.
Tất cả các vật chứng có đặc điểm mô tả như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29 tháng 02 năm 2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên.
[5.4] Số tiền 1.500.000 đồng của bị cáo Nguyễn Ngọc P đang tạm giữ tại Kho bạc nhà nước tỉnh P. Bị cáo Nguyễn Ngọc P còn phải thi hành hình phạt bổ sung, án phí hình sự sơ thẩm nên chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Người bào chữa của bị cáo cho rằng mức án mà Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là cao, nên đề nghị Hội đồng xét xử khoan hồng hơn mức án mà Kiểm sát viên đã đề nghị đối với bị cáo.
Trong phần đối đáp, Kiểm sát viên không nhất trí ý kiến của người bào chữa, giữ nguyên quan điểm, bị cáo tiếp tục xin tòa giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án không bị khiếu nại gì. Việc điều tra, thu thập chứng cứ của Cơ quan điều tra đã được thực hiện đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định, nên các chứng cứ thu thập được đều đảm bảo giá trị chứng minh và hợp pháp.
[1.2] Tại phiên toà, một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt. Nhưng xét thấy, những người này đã có lời khai tại Cơ quan điều tra, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử, không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án. Do đó, chấp nhận ý kiến của bị cáo, người bào chữa của bị cáo và Kiểm sát viên, căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự. Toà án tiến hành xét xử vụ án.
[2] Sau khi tổng hợp, kiểm tra, đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện tất cả chứng cứ đã thu thập được về vụ án, thấy: Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa đều phù hợp với nhau; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu là chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Ngày 04/10/2023, Nguyễn Ngọc P đón xe khách đi vào thành phố Hồ Chí Minh gặp người đàn ông tên T3 (chưa rõ lai lịch) mua 01 lạng ma tuý đá và 03 chỉ Heroine với giá 37.500.000 đồng mang về thành phố T, tỉnh Phú Yên bán lại kiếm lời. Khoảng 02 giờ 50 phút ngày 06/10/2023, khi P vừa xuống xe tại khu vực vòng xoay đường N - N - Quốc lộ A thuộc khu phố B, phường P, thành phố T thì bị bắt quả tang, thu giữ 101,301 gam ma túy loại Methamphetamine và 19,151 gam ma túy loại Heroine. Ngoài ra, trong tháng 9/2023, P có 02 lần mua ma túy đá và ma túy Heroine của người đàn ông tên T3, tổng số tiền 70.000.000 đồng; P bán ma túy đá và ma túy Heroine cho Phạm Quốc N 02 lần, Huỳnh Đức T1 09 lần, tổng số tiền 9.600.000 đồng và nhiều người khác nhưng không nhớ. Do đó, Cáo trạng số: 26/CT-VKSPY-P1 ngày 21/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Điểm b, Khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Ngọc P nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc dược của Nhà nước mà còn gây mất trật tự trị an – an toàn xã hội ở địa phương, là nguyên nhân, mầm mống làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác. Bị cáo có nhân thân xấu, từng bị kết án về nhiều tội phạm khác nhau, trong đó có tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, nhưng không tích cực sửa chữa lỗi lầm, lại tiếp tục phạm tội với tính chất nghiêm trọng tăng dần; mặt khác, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “phạm tội hai lần trở lên”, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại Điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, nên chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên để xử phạt nghiêm, đồng thời áp dụng hình phạt bổ sung để răn đe, giáo dục và ngăn ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s, Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt cho phù hợp.
[4] Về Biện pháp tư pháp: Bị cáo Nguyễn Ngọc P mua bán trái phép chất ma túy thu lợi bất chính số tiền 9.600.000 đồng, nên chấp nhận ý kiến của Kiểm sát buộc bị cáo phải nộp lại để sung vào ngân sách nhà nước theo Điểm b, Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.
[5] Về xử lý vật chứng:
[5.1] - 01 (một) bao bì giấy dán kín, mặt trước có ghi: “Công an tỉnh P. Phòng K2. Hoàn trả Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P A1= 98,955(g) Methamphetamine; A2.1= 3,709(g), A2.2= 3,701(g), A2.3= 3,722(g), A2.4= 3,735(g), A2.5= 3,710(g) Heroine; A3= 1,278(g) Methamphetamine; A4= 0,218(g) Heroine theo kết luận giám định số 495/KL-KTHS, ngày 11/10/2023. Mặt sau có chữ ký ghi tên Phan Đức K1, Phạm Thị Phương X và đóng dấu tròn của Phòng K2 Công an tỉnh P ở 04 góc.
- 01 (một) túi niêm phong mã số PS3 2146932, có đóng dấu tròn của Phòng K2 Công an tỉnh P, phần tên mẫu vật ghi: 07 bơm kim tiêm loại 01ml/cc hiệu B/BRAUN.
- Quần dài màu xám; 01 (một) túi xách hình hộp chữ nhật màu đen, có hoa văn màu tím xanh cam, kích thước (21x13x18,5)cm, có 02 quai, có 01 dây kéo ở mặt trên túi xách.
- 01 (một) bì nilon màu đen có 02 quai; 01 (một) bì nilon trong suốt có một đầu được miết mép kích thước (7 x 11,1)cm; 01 (một) nắp nhựa màu vàng hình tròn, đường kính 3,2cm, cao 1,2cm, trên nắp có 02 lỗ tròn, 01 lỗ gắn ống nhựa màu đen dài 27cm, 01 lỗ còn lại gắn ống thuỷ tinh có 01 đầu hình cầu, dài 13cm; 01 (một) ống nhựa màu trắng dài 21cm; 01 (một) ống nhựa màu vàng dài 20,6cm; 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng dài 5,2cm có một đầu hàn kín và một đầu bị cắt chéo; 01 (một) quẹt ga màu đỏ, dài 8cm; 01 (một) nắp nhựa màu vàng hình tròn, đường kính 3cm, cao 1,1cm, trên nắp có 02 lỗ tròn; 01 (một) phần của quẹt ga màu trắng, dài 6cm, không có phần bật lửa ga; 01 (một) ống kim loại hình trụ tròn, dài 5,2cm, nơi rộng nhất có đường kính 0,3cm.
- 01 (một) túi vải màu trắng loại dây rút, kích thước (17 x9,5)cm; 01 (một) bơm kim tiêm loại 01ml/cc hiệu B/BRAUN đã mở bao bì đóng gói; 01 (một) ví màu nâu.
- 01 (một) hộp giấy màu xanh kích thước (15 x 10 x 6)cm bên trong hộp giấy này có 20 bì nilon trong suốt một đầu được miết mép, mỗi bì kích thước (10 x 6)cm; 40 bì nilon trong suốt một đầu được miết mép, mỗi bì kích thước (7 x 4)cm.
- 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng dài 9,5cm một đầu hàn kín, đầu còn lại cắt chéo.
- 01 (một) khẩu súng bằng kim loại màu đen có hiệu “Lock 19 AUSTRIA 9x19” (ký hiệu A1); 158gram viên bi kim loại có đường kính = 6mm (ký hiệu A2) và 935gram viên bi kim loại đường kính = 5mm, (ký hiệu A3) còn lại sau giám định cho Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P (PC04).
[5.2] - 01 (một) điện thoại di động màu xanh đen, có mặt lưng ghi chữ OPPO, bên trong có gắn 02 sim: sim 1 số 0936 303 718, sim 2 số 0906 535 112 của Nguyễn Ngọc P.
[5.3] - 01 (một) căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Ngọc P; 01 thẻ ATM ngân hàng V số 9704 3686 23584196 029 mang tên NGUYEN NGOC PHAT;
[5.4] Số tiền 1.500.000 đồng của bị cáo Nguyễn Ngọc P đang tạm giữ tại Kho bạc nhà nước tỉnh P. Bị cáo Nguyễn Ngọc P còn phải thi hành hình phạt bổ sung, án phí hình sự sơ thẩm nên chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[6] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Ngọc P bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[7] Phạm Quốc N mua ma túy đá của Nguyễn Ngọc P nhưng làm rơi mất, không sử dụng, không bán lại cho người khác; Huỳnh Đức T1 mua ma túy Heroine của P để sử dụng nên hành vi của N, T1 không cấu thành tội phạm.
[8] 01 khẩu súng ngắn kim loại màu đen; 162 gram viên bi kim loại hình cầu màu trắng; 935 gram viên bi kim loại hình cầu màu trắng tạm giữ của Nguyễn Ngọc P khi khám xét chỗ ở không phải là vũ khí nên không xử lý hình sự.
[9] Người đàn ông tên T3 ở thành phố Hồ Chí Minh bán ma tuý cho P nhưng chưa xác định được lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ xử lý sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
1. Về Hình phạt: Áp dụng Điểm b Khoản 4, Khoản 5 Điều 251; Điểm s, Khoản 1 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;
Phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc P tù Chung thân. Thời hạn tù tính từ ngày 06/10/2023.
Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Ngọc P 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.
2. Về Biện pháp tư pháp: : Áp dụng Điểm b, Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự;
Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc P phải nộp lại 9.600.000đ (Chín triệu sáu trăm nghìn đồng) tiền thu lợi bất chính từ mua bán trái phép chất ma túy mà có để sung vào ngân sách nhà nước.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a, c Khoản 1, Khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2; Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
3.1. Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) bao bì giấy dán kín, mặt trước có ghi: “Công an tỉnh P. Phòng K2. Hoàn trả Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P_A1= 98,955(g) Methamphetamine; A2.1= 3,709(g), A2.2= 3,701(g), A2.3= 3,722(g), A2.4= 3,735(g), A2.5= 3,710(g) Heroine; A3= 1,278(g) Methamphetamine; A4= 0,218(g) Heroine theo kết luận giám định số 495/KL-KTHS, ngày 11/10/2023. Mặt sau có chữ ký ghi tên Phan Đức K1, Phạm Thị Phương X và đóng dấu tròn của Phòng K2 Công an tỉnh P ở 04 góc.
- 01 (một) túi niêm phong mã số PS3 2146932, có đóng dấu tròn của Phòng K2 Công an tỉnh P, phần tên mẫu vật ghi: 07 bơm kim tiêm loại 01ml/cc hiệu B/BRAUN.
- Quần dài màu xám; 01 (một) túi xách hình hộp chữ nhật màu đen, có hoa văn màu tím xanh cam, kích thước (21x13x18,5)cm, có 02 quai, có 01 dây kéo ở mặt trên túi xách.
- 01 (một) bì nilon màu đen có 02 quai; 01 (một) bì nilon trong suốt có một đầu được miết mép kích thước (7 x 11,1)cm; 01 (một) nắp nhựa màu vàng hình tròn, đường kính 3,2cm, cao 1,2cm, trên nắp có 02 lỗ tròn, 01 lỗ gắn ống nhựa màu đen dài 27cm, 01 lỗ còn lại gắn ống thuỷ tinh có 01 đầu hình cầu, dài 13cm; 01 (một) ống nhựa màu trắng dài 21cm; 01 (một) ống nhựa màu vàng dài 20,6cm; 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng dài 5,2cm có một đầu hàn kín và một đầu bị cắt chéo; 01 (một) quẹt ga màu đỏ, dài 8cm; 01 (một) nắp nhựa màu vàng hình tròn, đường kính 3cm, cao 1,1cm, trên nắp có 02 lỗ tròn; 01 (một) phần của quẹt ga màu trắng, dài 6cm, không có phần bật lửa ga; 01 (một) ống kim loại hình trụ tròn, dài 5,2cm, nơi rộng nhất có đường kính 0,3cm.
- 01 (một) túi vải màu trắng loại dây rút, kích thước (17 x9,5)cm; 01 (một) bơm kim tiêm loại 01ml/cc hiệu B/BRAUN đã mở bao bì đóng gói; 01 (một) ví màu nâu.
- 01 (một) hộp giấy màu xanh kích thước (15 x 10 x 6)cm bên trong hộp giấy này có 20 bì nilon trong suốt một đầu được miết mép, mỗi bì kích thước (10 x 6)cm; 40 bì nilon trong suốt một đầu được miết mép, mỗi bì kích thước (7 x 4)cm.
- 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng dài 9,5cm một đầu hàn kín, đầu còn lại cắt chéo.
- 01 (một) khẩu súng bằng kim loại màu đen có hiệu “Lock 19 AUSTRIA 9x19” (ký hiệu A1); 158gram viên bi kim loại có đường kính = 6mm (ký hiệu A2) và 935gram viên bi kim loại đường kính = 5mm, (ký hiệu A3) còn lại sau giám định cho Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P (PC04).
3.2. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:
01 (một) điện thoại di động màu xanh đen, có mặt lưng ghi chữ OPPO, bên trong có gắn 02 sim: sim 1 số 0936 303 718, sim 2 số 0906 535 112 của Nguyễn Ngọc P.
3.3. Trả cho bị cáo Nguyễn Ngọc P:
01 căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Ngọc P; 01 thẻ ATM ngân hàng V số 9704 3686 23584196 029 mang tên NGUYEN NGOC PHAT;
3.4. Tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án:
Số tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) thu giữ của bị cáo Nguyễn Ngọc P. Đã được ông Hồ Bảo L1 nộp vào tài khoản số 39499040469 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P mở tại Kho bạc nhà nước tỉnh P, ngày 02/11/2023.
4. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Nguyễn Ngọc P phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận: TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Nguyên Tùng |
Bản án số 23/2024/HS-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 23/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc P
