Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH GIA

TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2024/HS-ST

Ngày 15-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Khi

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Ngọc Quý

Bà Nông Thị Ngọc Anh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hợi - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Chu Xuân Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2024/QĐXXST-HS, ngày 02 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Hoàng Thị T, sinh ngày: 25/6/1979 tại tỉnh Lạng Sơn. Nơi cư trú: Thôn N, xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Hoàng Văn L - sinh năm 1954 (đã chết) và bà: Triệu Thị S - sinh năm 1956. Trú tại: Thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Có chồng là Vy Văn T1, sinh năm 1976 và 03 người con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2012. Anh chị em ruột: Có 07 người, bị cáo là thứ nhất. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/02/2024 đến nay. Có mặt.

2. Vy Văn T1, sinh ngày: 30/10/1976 tại tỉnh Lạng Sơn. Nơi cư trú: Thôn N, xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Vy Văn Đ - sinh năm 1944 (đã chết) và bà: Hoàng Thị N - sinh năm 1947. Trú tại: Thôn N, xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Có vợ là Hoàng Thị T, sinh năm 1979 và 03 người con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2012. Anh chị em ruột: Có 05 người, bị cáo là con thứ hai. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị

xử lý kỷ luật. Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B từ ngày 01/3/2024 đến nay. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Thị T: Bà Nông Thị T2 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Vy Văn T1: Ông Hoàng N1 - Luật sư trợ giúp pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. Có mặt.

- Nguyên đơn dân sự: Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Địa chỉ: Khối phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.

Đại diện theo ủy quyền: Bà Hoàng Thị A. Chức vụ: Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện B, tỉnh Lạng Sơn. (Văn bản ủy quyền số 1059/UQ-UBND ngày 27/5/2024). Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người làm chứng:

  1. Anh Phan Văn L1, sinh năm 1983. Có mặt.
  2. Anh Lý Văn H, sinh năm 1991. Có mặt.
  3. Cùng trú tại: Thôn B, xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.

  4. Ông Vy Văn N2, sinh năm 1975. Có mặt.
  5. Anh Vi Văn S1, sinh năm 1988. Có mặt.
  6. Anh Vi Văn C, sinh năm 1998. Có mặt.
  7. Ông Vi Văn H1, sinh năm 1973. Có mặt.
  8. Cùng trú tại: Thôn N, xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng giữa tháng 10/2023, do muốn phát triển kinh tế nên vợ chồng Vy Văn T1, sinh năm 1976 và Hoàng Thị T, sinh năm 1979, trú tại thôn N, xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn đã bàn bạc thống nhất thuê người chặt các cây gỗ tự nhiên tại khu rừng Khuổi Khon thuộc lô B, khoảnh 6, tiểu khu A thuộc thôn N, xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn (viết tắt là khu R) để trồng cây hồi. Ngày 14/10/2023, Hoàng Thị T đã thuê Phan Văn L1, sinh năm 1983, trú tại thôn B, xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn để đi cưa cắt gỗ, phát rừng tại khu rừng Khu Ổ. Tuy nhiên thời điểm trên, Phan Văn L1 chưa đồng ý đi cắt, chặt gỗ thuê cho Hoàng Thị T. Sau đó đến ngày 15/10/2023, Hoàng Thị T bảo Vy Văn T1 gọi điện thoại cho Phan Văn L1 để thuê L1 đi cưa cắt gỗ trả tiền công 200.000đ/m³ (hai trăm nghìn đồng/một mét khối) gỗ và được L1 đồng ý. Ngày 16/10/2023, L1 rủ thêm Vi Văn H1, sinh năm 1973; Vi Văn C, sinh năm 1998; Vi Văn N3, sinh năm 1975 cùng trú tại thôn N, xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn đến khu đất rừng Khu Ổ để cưa cắt các cây gỗ tự nhiên tại khu rừng của Vy Văn T1. Đến ngày 18/10/2024 có thêm Vi Văn S1, sinh năm 1988 trú tại thôn N, xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn đến khu R để cưa cắt các cây gỗ tự nhiên tại khu rừng trên.

Sau khi cắt gỗ xong thì Phan Văn L1 gọi điện thoại cho Lý Văn H, sinh năm 1991, trú tại thôn B, xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn đến chở gỗ ở khu vực rừng K về xưởng sản xuất gỗ bóc của Vy Văn T1 tại thôn Bản Pe, xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.

Ngày 24/10/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện B, tỉnh Lạng Sơn đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 58/QĐ-TCGĐ, trưng cầu ông Triệu Lương H2, Giám định viên tư pháp theo vụ việc, thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh L, giám định rừng. Tại kết luận giám định tư pháp ngày 25/12/2023, kết luận:

Diện tích rừng bị chặt phá: Tổng diện tích có cây gỗ bị chặt hạ tại thửa đất số 115, tờ bản đồ số 02, bản đồ địa chính đất lâm nghiệp xã Y năm 2008 thuộc lô 254, khoảnh 6, tiểu khu A thuộc thôn N, xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn có diện tích là 6.164,41 m².

Loại rừng, trạng thái rừng: Tổng diện tích 6.164,41 m², có các cây gỗ bị chặt hạ thuộc thửa số 115, tờ bản đồ số 02, bản đồ địa chính đất lâm nghiệp xã Y năm 2008; thuộc lô 254, khoảnh 6, tiểu khu A thuộc thôn N, xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn năm 2022, thuộc trạng thái rừng chưa có trữ lượng (ký hiệu TXP): Đối chiếu với bản đồ điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn theo Quyết định số 687/QĐ-UBND ngày 24/4/2020 của ủy ban nhân dân tỉnh L thì diện tích trên tại khoảnh 6, tiểu khu A thuộc quy hoạch rừng Sản xuất (ký hiệu TXP).

Đo đếm thực tế tại hiện trường, khối lượng gỗ là 8,529 m³/6.164,41 m², tương đương với 13,835m³/ha. Căn cứ phụ lục I, phân chia trạng thái rừng (Ban hành kèm theo thông tư số 33/2018/TT-BNNPTNT ngày 16/11/2018 của Bộ N4 và PTNT quy định về điều tra, kiểm kê và theo dõi diễn biến rừng) thì trạng thái trên là rừng đã có trữ lượng (M>10: Trữ lượng rừng lớn hơn 10 m³/ha).

Căn cứ theo điều 4 (Tiêu chí rừng tự nhiên), Nghị định số 156/NĐ-CP ngày 16/11/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của luật Lâm nghiệp và kết quả giám định thực tế tại hiện trường thì diện tích 6.164,41 m² có cây gỗ bị chặt phá là rừng tự nhiên.

Căn cứ theo điểm b, mục 1, Điều 11 (Trồng mới rừng sản xuất) quy định tại Thông tư số 29/2018/TT-BNNPTNT, ngày 16/11/2018 của Bộ N4 quy định về các biện pháp lâm sinh thì diện tích 6.164,41 m² không thuộc đối tượng trồng rừng mới là rừng sản xuất.

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ thu thập được, ngày 28/02/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện B, tỉnh Lạng Sơn ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Hoàng Thị T và Vy Văn T1, ra lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Vy Văn T1, Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Hoàng Thị T về hành vi Hủy hoại rừng theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 243 Bộ luật Hình sự.

Ngày 13/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện B xác định giá trị đối với 7,223 m³ gỗ bị chặt phá thuộc lô thuộc lô 254, khoảnh 6, tiểu khu A thuộc quy hoạch rừng sản xuất tại thôn N, xã Y, huyện B.

Tại kết luận định giá tài sản số 13/KL-HĐĐGTS ngày 22/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, kết luận:

Khối lượng gỗ cây rừng bị chặt phá trên diện tích 6.164,41m² gồm các loài cây Dẻ, Kháo, Chẹo, Bồ đề, Cáng lò và một số loài cây chưa xác định được tên (Ký hiệu là SP) thuộc nhóm gỗ thông thường có khối lượng là 7,223 m³, giá trị 1.805.760 đồng (Một triệu tám trăm linh năm nghìn bảy trăm sáu mươi đồng).

Định giá giá trị thiệt hại về môi trường: Qua nghiên cứu về Luật lâm nghiệp, Luật bảo vệ môi trường và các văn bản hướng dẫn trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn chưa có quy định xác định giá trị thiệt hại về môi trường, do vậy Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, tỉnh Lạng Sơn không có cơ sở để xác định giá trị thiệt hại về môi trường với tổng diện tích rừng bị chặt phá là 6.164,41 m², lô 254, khoảnh 6, tiểu khu A, thuộc khu R thuộc thôn N, xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.

Tại Cơ quan điều tra, ban đầu Vy Văn T1 không khai nhận hành vi phạm tội của bản thân, không chấp hành, không ký các biên bản giao nhận và biên bản bắt. Tuy nhiên trong quá trình điều tra Vy Văn T1 đã nhận thức được việc làm của bản thân là sai, vi phạm pháp luật nên đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân. Vy Văn T1 và Hoàng Thị T đã khai nhận toàn bộ hành vi bàn bạc, thống nhất thuê người chặt phá rừng. Vy Văn T1 và Hoàng Thị T đã không xin phép Cơ quan chức năng có thẩm quyền mà tự ý thuê người chặt phá cây gỗ rừng tự nhiên trong khu rừng Khu Ô, thuộc thôn N, xã Y, huyện B với mục đích trồng rừng phát triển kinh tế.

Xác minh tại Phòng Tài nguyên và môi trường huyện B: Diện tích 6.164,41 m² rừng bị Vy Văn T1 và Hoàng Thị T thuê người chặt phá tại lô 254, khoảnh 6, tiểu khu A thuộc thửa đất số 115, tờ bản đồ số 2 bản đồ lâm nghiệp xã Y đo đạc năm 2008 tỷ lệ 1/10.000, diện tích 54.492 m²; Mục đích sử dụng đất: Đất rừng sản xuất, đã được UBND huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 315739, số vào sổ H 00469-2321/QĐ-UBND ngày 27/10/2009 cho hộ ông Vy Văn Đ và bà Hoàng Thị N, địa chỉ tại thôn N, xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn là bố mẹ đẻ của Vy Văn T1. Vị trí thửa đất số 115, diện tích 54.492 m² được quy hoạch là rừng sản xuất, thời hạn sử dụng đến ngày 30/9/2054.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn dân sự là bà Hoàng Thị A có đơn yêu cầu các bị cáo Hoàng Thị T và Vy Văn T1 phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo kết quả định giá cho Nhà nước với tổng số tiền 1.805.760 đồng (Một triệu tám trăm linh năm nghìn bảy trăm sáu mươi đồng). Ngày 11/6/2024, các bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 1.805.760 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Gia để khắc phục hậu quả.

Tại Cáo trạng số: 22/CT-VKS-BG ngày 17/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố các bị cáo Hoàng Thị T và Vy Văn T1 về tội "Hủy hoại rừng" theo điểm b khoản 1 Điều 243 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 243; Điều 17; Điều 50;

Điều 58; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Thị T từ 01 (một) đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, bị cáo Vy Văn T1 từ 01 (một) đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách theo luật định, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã N5 cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị giao cho Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Lạng Sơn quản lý, xử lý đối với số vật chứng gồm các loài cây Dẻ, Kháo, Chẹo, Bồ đề, Cáng lò và một số loài cây chưa xác định được tên (Ký hiệu là SP) thuộc nhóm gỗ thông thường có khối lượng là 7,223 m³.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự, đề nghị ghi nhận các bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 1.805.760 đồng (Một triệu tám trăm linh năm nghìn bảy trăm sáu mươi đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Gia, tiếp tục tạm giữ để nộp ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Các bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Thị T nhất trí quan điểm luận tội của Kiểm sát viên. Tuy nhiên bị cáo đã nhận ra lỗi lầm, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đồng thời đã có trách nhiệm bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật còn kém. Vì vậy, người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xử dưới mức khung hình phạt cho bị cáo Hoàng Thị T.

Bị cáo Hoàng Thị T không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến gì bổ sung vào bản luận cứ của người bào chữa.

Đại diện Viện kiểm sát có ý kiến tranh luận với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo Hoàng Thị T là không có căn cứ và giữ nguyên quan điểm như bản luận tội.

Người bào chữa cho bị cáo Vy Văn T1 nhất trí quan điểm luận tội của Kiểm sát viên. Tuy nhiên bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả. Mục đích phát rừng là để phát triển kinh tế gia đình. Bị cáo chỉ có vai trò thứ yếu so với bị cáo Hoàng Thị T. Vì vậy, người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt dưới mức đề nghị của Kiểm sát viên cho bị cáo Vy Văn T1.

Bị cáo Vy Văn T1 không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến gì bổ sung vào bản luận cứ của người bào chữa.

Đại diện Viện kiểm sát tranh luận cả hai bị cáo đều có vai trò ngang nhau do đã cùng nhau thống nhất, bàn bạc để thuê người phát rừng nên yêu cầu của người bào chữa cho bị cáo Vy Văn T1 là không có căn cứ và giữ nguyên quan điểm như bản luận tội.

Lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và của người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của pháp luật Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng nên các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện có trong hồ sơ là hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của nguyên đơn dân sự đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và có đơn xin xét xử vắng mặt, việc vắng mặt không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án vì trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự để tiếp tục xét xử vụ án.

[3] Về căn cứ buộc tội: Tại phiên toà các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng và với các chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, cụ thể: Khoảng tháng 10/2023, các bị cáo Hoàng Thị T và Vy Văn T1 đã trực tiếp thuê người tiến hành chặt phá diện tích rừng 6.164,41 m² tại khu rừng Khuổi Khon thuộc thửa số 115, tờ bản đồ số 02, bản đồ địa chính đất lâm nghiệp xã Y năm 2008; thuộc lô 254, khoảnh 6, tiểu khu A thuộc thôn N, xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn năm 2022. Qua giám định diện tích rừng bị chặt phá thuộc quy hoạch rừng sản xuất. Tổng trị giá lâm sản bị thiệt hại là 1.805.760 đồng. Do đó hành vi của các bị cáo phạm vào tội “Hủy hoại rừng”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 243 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Về tính chất hành vi phạm tội: Các bị cáo đã tự ý chặt phá, không tìm hiểu quy định của pháp luật và không làm thủ tục xin phép cơ quan chức năng có thẩm quyền. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý và bảo vệ rừng, gián tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về lĩnh vực trật tự an toàn xã hội. Khi phạm tội các bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo tội danh, hình phạt đã quy định tại Bộ luật Hình sự.

[5] Đây là vụ án hình sự mang tính chất đồng phạm giản đơn do các bị cáo cùng cố ý thực hiện tội phạm nên cùng phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của mình đã gây ra, xong về nguyên tắc mỗi người đồng phạm phải chịu trách nhiệm độc lập về việc cùng thực hiện hành vi phạm tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự liên quan đến bị cáo nào thì áp dụng đối với riêng bị cáo đó. Các bị cáo cùng nhau bàn bạc, thống nhất thuê người, trả

tiền công cho những người phát rừng thuê. Vì vậy, xác định các bị cáo đều có vai trò tích cực ngang nhau trong vụ án.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Xét quá trình điều tra, truy tố và xét xử thấy các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải; đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả. Các bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[7] Về nhân thân: Các bị cáo đều chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật nên được coi là có nhân thân tốt.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự, buộc các bị cáo phải bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho Nhà nước số tiền 1.805.760 đồng (Một triệu tám trăm linh năm nghìn bảy trăm sáu mươi đồng). Ghi nhận các bị cáo đã nộp số tiền là 1.805.760 đồng (Một triệu tám trăm linh năm nghìn bảy trăm sáu mươi đồng) theo biên lai thu tiền số 0003514, ngày 11/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn, tiếp tục tạm giữ để sung ngân sách Nhà nước.

[9] Xét thấy, ngoài lần phạm tội này, các bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú. Các bị cáo đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt đi chấp hành hình phạt tù thì cũng không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Căn cứ vào Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022, sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo, xét thấy không cần bắt các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù, chưa cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách; giao các bị cáo cho Uỷ ban nhân dân nơi đang cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách là phù hợp với mức độ, tính chất, hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra.

[10] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn và cũng không đảm nhiệm chức vụ gì nên Hội đồng xét xử không xem xét áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[11] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; giao cho Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Lạng Sơn quản lý, xử lý đối với số vật chứng gồm các loài cây Dẻ, Kháo, Chẹo, Bồ đề, Cáng lò và một số loài cây chưa xác định được tên (Ký hiệu là SP) thuộc nhóm gỗ thông thường có khối lượng là 7,223 m³. Số lượng cây gỗ là vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại hiện trường và được UBND xã Y, huyện B quản lý theo quy định.

[12] Về án phí: Các bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm do là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn đề nghị miễn án phí.

[13] Về đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát: Quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[14] Về đề nghị của người bào chữa: Quan điểm bào chữa của người bào chữa cho các bị cáo là chưa phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội nên không được chấp nhận.

[15] Các bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

[16] Các bị cáo, nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 243; Điều 17; Điều 50; Điều 58; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Vy Văn T1 và Hoàng Thị T;

Căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 262; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 46, Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Vy Văn K1 và Dương Thị H3 phạm tội “Hủy hoại rừng”.

Xử phạt bị cáo Vy Văn T1 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo Hoàng Thị T 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Vy Văn T1 và Hoàng Thị T cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được cho hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 68 và khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

2. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận các bị cáo đã nộp số tiền là 1.805.760 đồng (Một triệu tám trăm linh năm nghìn bảy trăm sáu mươi đồng) theo biên lai thu tiền số 0003514, ngày 11/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn để sung ngân sách Nhà nước.

3. Về xử lý vật chứng: Giao cho Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Lạng Sơn quản lý, xử lý đối với số vật chứng gồm các loài cây Dẻ, Kháo, Chẹo, Bồ đề, Cáng lò và một số loài cây chưa xác định được tên (Ký hiệu là SP) thuộc nhóm gỗ thông thường có khối lượng là 7,223 m³.

4. Về án phí: Các bị cáo Vy Văn T1 và Hoàng Thị T được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn dân sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND tỉnh Lạng Sơn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn;
  • - Công an huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn;
  • - Các bị cáo;
  • - Nguyên đơn dân sự;
  • - Lưu HS, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Hoàng Văn Khi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2024/HS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN về hủy hoại rừng

  • Số bản án: 23/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hủy hoại rừng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng tháng 10/2023, các bị cáo Hoàng Thị T và Vy Văn T1 đã trực tiếp thuê người tiến hành chặt phá diện tích rừng 6.164,41 m2 tại khu rừng Khuổi Khon thuộc thửa số 115, tờ bản đồ số 02, bản đồ địa chính đất lâm nghiệp xã Y năm 2008; thuộc lô 254, khoảnh 6, tiểu khu A thuộc thôn N, xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn năm 2022. Qua giám định diện tích rừng bị chặt phá thuộc quy hoạch rừng sản xuất. Tổng trị giá lâm sản bị thiệt hại là 1.805.760 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger