TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH TỈNH HÀ TĨNH Bản án số: 23/2024/HS-ST Ngày: 10 – 6 – 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Trần Quang Dũng |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Lê Văn Nhưng |
| Ông Nguyễn Thành Quý | |
| Thư ký phiên tòa: | Bà Lê Thị Cẩm Thạch - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. |
| - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: | ông Nguyễn Văn Hoành – Kiểm sát viên |
Ngày 10 tháng 6 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Đức T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 23/5/1959, tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ, đảng phái: Quần chúng; con ông Trần Văn A (sinh năm 1931) và bà Trần Thị T1 (sinh năm 1936); Cả bố và mẹ hiện hết tuổi lao động và cư trú tại thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Anh em ruột có bốn người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; có vợ là Trần Thị Thu H (sinh năm: 1965); Nghề nghiệp: Lao động tự do; Hiện đang cư trú tại thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Con: Có 03 đứa, đứa lớn nhất sinh năm 1986, đứa nhỏ nhất sinh năm 1994; Tiền án, tiền sự: Không; Biện pháp ngăn chặn đã áp dụng: Bị cáo Trần Đức T bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, từ ngày 06/12/2023 cho đến nay (có mặt)
Những người tham gia tố tụng:
Người bị hại.
- - Ông Nguyễn Xuân L năm 1959; nghề nghiệp: Lao động tự do; nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. (vắng mặt)
- - Anh Đặng Văn T2 năm 1988; nghề nghiệp: Lái xe; nơi cứ trú: Thôn N, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định (có mặt)
2. Đại diện người bị hại:
- - Bà Lê Thị N năm 1965; nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Đức T có giấy phép lái xe mô tô số: [...], hạng A1, do Sở Giao thông vận tải tỉnh Hcấp ngày 11/5/2020. Chiều ngày 20/02/2023, Trần Đức T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 38F3-1787 của mình chở ông Nguyễn Xuân L năm 1959, trú tại thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnhngồi phía sau đi từ thôn T, xã K, huyện K nhà mình ở thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, Trần Đức T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 38F3-1787 chở ông Nguyễn Xuân L ngồi phía sau đi theo đường liên xã từ thôn T, xã K để đi qua đường Q, về thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Khi đi đến ngã tư, nơi giao nhau với đường Q(mặc dù bên mép đường phía bên phải theo hướng đi của mình có gắn 01 biển cảnh báo “giao nhau với đường ưu tiên”), nhưng Trần Đức T dừng lại để nhường đường cho xe đang đi trên đường ưu tiên mà vẫn điều khiển xe mô tô đi qua đường Q Khi xe mô tô biển kiểm soát 38F3-1787 do Trần Đức T khiển chở sau là ông Nguyễn Xuân L đến giữa đường Q tại điểm mở của giải phân cách cố định (Giữa tâm đường Q) nhưng Trần Đức T không dừng lại để nhường đường cho xe đang đi trên đường ưu tiên mà Trần Đức T tiếp tục điều khiển xe mô tô đi qua đường QCùng lúc này, xe ô tô biển kiểm soát 50H-026.59, kéo rơ moóc biển kiểm soát 51R-246.76 do anh Đặng Văn T6, sinh năm 1988, ở thôn N, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định điều khiển, đang đi trên đường Q, ở phần đường bên phải, theo hướng từ N ra B cũng vừa đi tới. Lúc này, anh Đặng Văn T6 đánh lái sang bên phải để tránh, thì phần đầu xe mô tô biển kiểm soát 38F3-1787 do Trần Đức T khiển đã đâm vào mặt ngoài thanh phía trên khung kim loại bảo vệ thùng dầu bên trái của rơ moóc biển kiểm soát 51R-246.76 dẫn đến xảy ra tai nạn. Điểm va chạm giữa hai xe ở trên làn đường xe cơ giới thứ nhất (Làn đường sát với giải phân cách cố định, tính theo chiều xe ô tô biển kiểm soát 50H-026.59, kéo rơ moóc biển kiểm soát 51R-246.76 chạy).
Hậu quả vụ tai nạn làm ông Nguyễn Xuân L(là người ngồi sau xe mô tô biển kiểm soát 38F3-1787) bị thương, phải đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh H đó chuyển lên cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện V, Hà Nộitừ ngày 21/02/2023 đến ngày 01/3/2023 ra viện với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 94% (chín mươi tư phần trăm), Trần Đức T bị thương, phải đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh H ngày 20/02/2023 đến ngày 03/3/2023 ra viện.
* Kết quả giám định tổn hại sức khỏe và tài sản:
- Tại Bản kết luận giám định Pháp y số 169/KLTTCT-TTPY&GĐYK ngày 01/8/2023 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa tỉnh Hkết luận: ông Nguyễn Xuân L có các vết thương: Hai chi trên liệt mức độ nhẹ, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 36%; hai chi dưới liệt hoàn toàn, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 87%; rối loạn cơ tròn không tự chủ, không thường xuyên, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 31%; sẹo mổ vùng cổ bên trái kích thước 06cmx0,3cm, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 04%.
Áp dụng phương pháp cộng lùi: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Nguyễn Xuân L là 94% (Chín mươi tư phần trăm).
- Trần Đức T bị thương, phải đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ với thương tích cụt 1/3, trên cẳng chân phải, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 51% (Năm mươi mốt phần trăm).
Đối với xe ô tô biển kiểm soát 50H-026.59, kéo rơ moóc biển kiểm soát 51R-246.76, chỉ bị trượt xước, mất bụi phần sơn nhẹ phía ngoài của thanh kim loại bảo vệ thùng dầu, không gây thiệt hại về tài sản, nên không tiến hành định giá thiệt hại về tài sản.
* Kết quả khám nghiệm hiện trường:
Tại biên bản khám nghiện hiện trường và sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông do Phòng CCông an tỉnh H lập hồi 15 giờ 55 phút ngày 20/02/2023 phản ánh: Vụ tai nạn xảy ra ở đường Q giao nhau với đường liên xã K, huyện K, tại K, đường Q địa phận thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnhgiữa xe mô tô biển kiểm soát 38F3-1787 với xe ô tô biển kiểm soát 50H-026.59, kéo rơ moóc biển kiểm soát 51R-246.76. Mặt đường Quốc Lộ A rải nhựa bằng phẳng và chia thành hai phần đường, ở giữa có giải phân cách cứng cố định và có điểm mở để dành cho người và phương tiện qua lại. Phần đường bên phải theo hướng xe ô tô biển kiểm soát 50H-026.59, kéo rơ moóc biển kiểm soát 51R-246.76 chạy có tầm nhìn tốt, rộng 9,0m, được kẻ vạch phân cách thành ba làn đường, hai làn đường dành cho xe cơ giới, mỗi làn rộng 3,50m, làn đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ rộng 2,0m. Phần đường bên phải tính theo chiều xe ô tô biển kiểm soát 50H-026.59, kéo rơ moóc biển kiểm soát 51R-246.76 chạy có 01 biển cảnh báo giao nhau với đường không ưu tiên, 01 biển báo chỉ dẫn người đi bộ qua đường. Mặt đường liên xã thuộc thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh được đỗ bê tông bằng phẳng rộng 6,0m. Mép đường bê tông bên phải theo chiều xe mô tô biển kiểm soát 38F3-1787 chạy có gắn 01 biển cảnh báo giao nhau với đường ưu tiên.
- Đánh số thứ tự các dấu vết: (1) vết hằn lốp; (2) vết hằn lốp; (3) vết máu; (4) xe mô tô biển kiểm soát 38F3-1787; (5) xe ô tô biển kiểm soát 50H-026.59 và rơ moóc biển kiểm soát 51R-246.76 đậu.
- Xác định mốc cố định: Lấy cột mốc Km 552 ở bên mép đường Q phía bên phải theo chiều Nlra B làm điểm mốc và lấy mép đường Q phía bên phải làm trục cố định, tất cả đều tính theo hướng từ N ra B, các dấu vết để lại hiện trường như sau:
- Mô tả dấu vết hiện trường: Cách cột mốc Km 552 về hướng Bắc 124,6m là là điểm đầu vết hằn lốp để lại trên mặt đường số (1), đầu vết hằn lốp cách mép đường nhựa bên phải 6,0m kéo dài 59m, điểm cuối nằm ngay dưới bánh sau bên phải của rơ moóc biển kiểm soát 51R-246.76 và cách mép đường nhựa bên phải 0,85m; cách điểm đầu vết hằn lốp số (1) về hướng Bắc 40m là điểm đầu vết hằn lốp số (2) song song với vết hằn lốp số (1) để lại trên mặt đường, đầu vết hằn lốp cách mép đường nhựa bên phải 6,10m kéo dài 17,6m, điểm cuối nằm ngay dưới bánh sau bên trái của rơ moóc biển kiểm soát 51R-246.76; nằm ngay điểm đầu hằn lốp số (2) là vết máu (3) có kích thước 0,8mx42m, đầu vết máu cách mép đường nhựa bên phải 6,10m, cuối vết máu cách mép đường nhựa bên phải 6,0m; xe mô tô biển kiểm soát 38F3-1787 sau khi xẩy ra tai nạn bị ngã trên mặt đường Q bị tắc đường nên người dân qua đường đã di dời dựng vào trong bãi đất trống bên lề đường Quốc lộ 1A phía bên phải, đầu hướng ra B hướng vào Ntrục bánh sau vào mép đường nhựa bên phải 13,6m, trục bánh trước vào mép đường nhựa bên phải 14,2m; xe ô tô biển kiểm soát 50H-026.59 và rơ móc biển kiểm soát 51R-246.76 đậu trên làn đường xe cơ giới số 2 và làn đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ, đầu hướng ra B hướng vào Ntrục bánh sau bên phải rơ moóc biển kiểm soát 51R-246.76 cách mép đường nhựa bên phải lần lượt là 0,85m; 0,83m; 0,80m; trục bánh bên phải xe ô tô biển kiểm soát 50H-026.59 cách mép đường nhựa bên phải lần lượt là 0,08m; 0,05m; 002m.
* Kết quả khám nghiệm phương tiện phản ánh:
+ Tại biên bản khám nghiệm phương tiện là xe mô tô biển kiểm soát 38F3-1787 phản ánh:
Mặt ngoài góc bên phải giỏ xe phía trước có vết trượt xước, bong tróc nhựa, kích thước 0,5cm x 10cm, tâm dấu vết, cao cách mặt đất 82cm; mặt ngoài góc bên phải giỏ xe phía trước có vết trược xước, bong tróc nhựa, tâm dấu vết xước cách mặt đất 69cm; mặt ngoài bên phải phía sau giỏ xe có bám dính chất bẩn màu nâu, đỏ, kích thước 0,9cm x 2,5cm, tâm chất bẩn cách mặt đất 80cm; đầu mút ốp cao su tay lái bên phải có vết trầy xước, bong tróc, đứt gãy cao su; phần lõi nhựa bên trong tay lái bên phải có vết mài mòn nhựa, kích thước 0,6cm x 02cm, chiều hướng dấu vết từ trước ra sau; giá để chân phía trước bên phải bị xô lệch, cong vênh theo hướng từ trước ra sau, đầu mút giá để chân có vết trượt xước cao su chiều hướng từ trước ra sau, kích thước 2,5cmx03cm; góc phía trước bên trái cung trước chắn bùn bánh trước có vết gãy vỡ nhựa; góc phía sau bên phải cung sau chắn bùn bánh trước có vết gãy vỡ nhựa.
+ Tại biên bản khám nghiệm xe ô tô biển kiểm soát 50H-026.59, kéo rơ moóc biển kiểm soát 51R-246.76 liên quan đến vụ tai nạn phản ánh:
Phía trước thanh trên khung kim loại bảo vệ thùng dầu bên trái xe có vết trượt xước, bám dính chất bẩn màu đen, chiều hướng từ trước ra sau, kích thước 0,4cmx34cm, tâm vết trượt xước cách mặt đất 87,5cm; phía trước thanh trên khung kim loại bảo vệ thùng dầu bên trái xe có vết trượt xước, bám dính chất bẩn màu đen, chiều hướng từ trước ra sau, kích thước 0,5cmx07cm, tâm vết trượt cách mặt đất 75cm; phía sau thanh trên khung kim loại bảo vệ thùng dầu bên trái xe có vết trượt xước, bám dính chất bẩn màu đen, chiều hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới, kích thước 0,4cmx19cm, điểm cao nhất của dấu vết trượt cách mặt đất 85,5cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 75cm; phía sau thanh dưới khung kim loại bảo vệ thùng dầu bên trái xe có vết trượt xước, bám dính chất bẩn màu đen, chiều hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới, kích thước 0,5cmx15cm, điểm cao nhất của dấu vết trượt cách mặt đất 45,5cm; điểm thấp nhất cách mặt đất 36,5cm; mặt ngoài bánh xe thứ nhất hàng bánh xe phía sau bên trái của rơ moóc biển kiểm soát 51R-246.76 có vết trượt xước cao su mất bụi, chiều hướng từ trước ra sau, kích thước 04cmx13cm, ngay tại vị trí chữ “Radial”, tâm vết trượt cách la zăng 10cm; mặt ngoài bánh xe thứ 2 hàng bánh xe phía sau bên trái của rơ moóc biển kiểm soát 51R-246.76 có vết trượt xước cao su mất bụi, chiều hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới, kích thước 16cmx07cm, ngay tại phía trên bên phải dòng chữ “RR100”, tâm vết trượt cách la zăng 12cm, bề mặt lốp bám dính chất màu nâu đỏ.
* Kết quả giám định dấu vết hai phương tiện va chạm:
Tại Bản kết luận giám định số 323/KL-KTHS ngày 11/3/2023 của Phòng kỷ thuật hình sự - Công an tỉnh Hkết luận: Xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 50H-026.59 kéo theo rơ moóc biển kiểm soát: 51R-246.76 và xe mô tô biển kiểm soát 38F3-1787 có va chạm với nhau. Mặt ngoài thanh phía trên khung kim loại bảo vệ thùng dầu bên trái của rơ moóc biển kiểm soát 51R-246.76 với mặt ngoài góc bên phải giỏ xe mô tô biển kiểm soát 38F3-1787 là vị trí va chạm giữa hai phương tiện. Hai phương tiện va chạm vuông góc với nhau.
* Kết quả kiểm tra nồng độ cồn và chất ma túy:
- Tại biên bản kiểm tra nồng độ cồn do cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K hồi 16 giờ 50 phút ngày 20/02/2023 xác định: nồng độ cồn của Đặng Văn T2lái xe ô tô biển kiểm soát 50H-026.59 tại thời điểm kiểm tra là 0,000/L khí thở. (BL: 126).
- Tại phiếu xét nghiệm kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy của Trung tâm y tế H, tỉnh Hà Tĩnhlập hồi 17 giờ 10 phút ngày 20/02/2023, xác định Đặng Văn T2lái xe ô tô biển kiểm soát 50H-026.59, âm tính với các chất ma túy.
- Đối với bị cáo Trần Đức T khi xẩy ra tai nạn Phòng CCông an tỉnh Htrực tiếp, tiếp nhận và thụ lý nhưng không tiến hành xét nghiệm nồng độ cồn và xác định tình trạng nghiện ma túy của bị can Trần Đức T trình điều tra đã làm rõ, trước khi xẩy ra tai nạn Trần Đức T sử dụng bia, rượu.
* Về thu giữ, tạm giữ tài liệu đồ vật; xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K thu giữ xử lý vật chứng gồm:
- - 01 (Một) xe ô tô biển kiểm soát 50H-026.59 và rơ moóc biển kiểm soát 51R-246.76, đã qua sử dụng; 01 (Một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 50H-026.59 và moóc biển kiểm soát 51R-246.76; 01 (Một) Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỷ thuật và bảo vệ môi trường của xe ô tô biển kiểm soát 50H-026.59 và moóc 51R-246.76; 01 (Một) giấy phép lái xe ô tô số [...], hạng FC, mang tên Đặng Văn T6, nay đã trả lại cho chủ sở hữu Đặng Văn T6.
- - 01 (Một) xe mô tô biển kiểm soát 38F3-1787, đã qua sử dụng thu tại hiện trường, nay đã trả lại cho chủ sở hữu Trần Đức T
- - 01 (Một) giấy phép lái xe mô tô số [...], hạng A1, do Sở Giao thông vận tải tỉnh Hcấp ngày 11/5/2020, mang tên Trần Đức T, nay chuyển theo hồ sơ vụ án.
* Về trách nhiệm dân sự:
Sau khi tai nạn xảy ra, Trần Đức T đã thỏa thuận bồi thường cho bị hại Nguyễn Xuân L tổng số tiền 200.000.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng). Nay người bị hại không có yêu cầu gì thêm và có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Riêng anh Đặng Văn T6 xe ô tô không bị hư hỏng nên không yêu cầu bị cáo bồi thường mà tự nguyện hổ trợ cho bị hại Nguyễn Xuân L bị cáo Trần Đức T người 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng). Nay không ai cầu gì thêm, nên HĐXX miễn xét.
Tại bản Cáo trạng số 11/CT-VKS-KA ngày 29/02/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Trần Đức T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Nguyên nhân của vụ tai nạn lỗi trực tiếp thuộc về Trần Đức T khiển xe mô tô không nhường đường cho xe đang đi trên đường ưu tiên dẫn đến gây ra vụ tai nạn và một phần lỗi thuộc về người điều khiển xe ô tô anh Đặng Văn T giảm tốc độ khi có biển cảnh báo nguy hiểm
Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1, Điều 260; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Đức T từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ; Hình phạt bổ sung: Không.
Tại phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với quan điểm của Vị đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan,cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 20/02/2023 tại Km 552, trên đường Q địa phận thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh Trần Đức T (Có giấy phép lái xe hợp lệ) điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 38F3-1787 chở ông Nguyễn Xuân L ngồi sau do không nhường đường cho xe đang đi trên đường ưu tiên nên đã đâm vào phía sau xe ô tô biển kiểm soát 50H-026.59, kéo rơ moóc biển kiểm soát 51R-246.76 do anh Đặng Văn T6 điều khiển đang đi trên đường Q hướng từ N ra B. Hậu quả làm ông Nguyễn Xuân L tổn hại 94% sức khỏe (Chín mươi bốn phần trăm). Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi vô ý. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
[3] Hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm và gây tổn hại đến sức khoẻ của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an, gây búc xúc trong quần chúng nhân dân. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, trước khi phạm tội, bị cáo có nhân thân tốt, bản thân bị cáo cũng bị gãy chân, tổn hại sức khoẻ 53% Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng.
Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, đã nhận thức được hành vi vi phạm nên áp dụng Điều 36 của Bộ luật Hình sự để xử lý bị cáo là phù hợp, không cần cách ly khỏi xã hội vẫn đảm bảo việc răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm”. Nhưng HĐXX nhận thấy bị cáo chỉ có Giấy phép lái xe hạng A1 và không có nghề nghệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Theo quy định tại khoản 3, 4 Điều 36 Bộ luật hình sự quy định về hình phạt cải tạo không giam giữ, thì phải khấu trừ 1 phần thu nhập hoặc thực hiện một số công việc cộng đồng. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Trần Đức T có việc làm ổn định, hơn nữa bị cáo còn bị gãy chân tổn hại sức khoẻ 53%. Nên không áp dụng hình phạt này đối với bị cáo Trần Đức T
[5] Về dân sự: bị cáo Trần Đức T đã thỏa thuận bồi thường cho bị hại Nguyễn Xuân L tổng số tiền 200.000.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng). Nay người bị hại không có yêu cầu gì thêm và có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Anh Đặng Văn T6 không yêu cầu bị cáo bồi thường mà tự nguyện hổ trợ cho bị hại Nguyễn Xuân L bị cáo Trần Đức T người 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng). Nay không ai cầu gì thêm, nên HĐXX miễn xét.
[6] Về vật chứng: 01 (Một) xe ô tô biển kiểm soát 50H-026.59 và rơ moóc biển kiểm soát 51R-246.76, đã qua sử dụng; 01 (Một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 50H-026.59 và moóc biển kiểm soát 51R-246.76; 01 (Một) Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỷ thuật và bảo vệ môi trường của xe ô tô biển kiểm soát 50H-026.59 và moóc biển kiểm soát 51R-246.76; 01 (Một) giấy phép lái xe ô tô số [...], hạng FC, thu của Đặng Văn T6, nay đã trả lại cho chủ sở hữu Đặng Văn T6 là có căn cứ.
- 01 (Một) xe mô tô biển kiểm soát 38F3-1787, đã qua sử dụng thu tại hiện trường, nay đã trả lại cho chủ sở hữu Trần Đức T là có căn cứ
- 01 (Một) giấy phép lái xe mô tô số [...], hạng A1, do Sở Giao thông vận tải tỉnh Hcấp ngày 11/5/2020, mang tên Trần Đức T, nay trả lại cho bị cáo Trần Đức T, theo quy định tại khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[7] Xét luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà: Hội đồng xét xử thấy rằng lời luận tội của vị Đại diện Viện kiểm sát về nội dung, điều luật áp dụng, hình phạt và mức án đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật. Tuy nhiên về nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn, tại bản Cáo trạng cũng như trong phần luận tội, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh cho rằng “nguyên nhân của vụ tai nạn lỗi trực tiếp thuộc về Trần Đức T khiển xe mô tô không nhường đường cho xe đang đi trên đường ưu tiên dẫn đến gây ra vụ tai nạn và một phần lỗi thuộc về người điều khiển xe ô tô anh Đặng Văn T giảm tốc độ khi có biển cảnh báo nguy hiểm”.
Hội đồng xét xử thấy rằng: Sau khi nghiên cứu biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, bản kết luận giám định và lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan thì nguyên nhân vụ tai nạn giao thông nói trên lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo Trần Đức T vì: Bị cáo Trần Đức T khiển xe mô tô trên đường không ưu tiên thế nhưng khi đến điểm giao nhau với đường ưu tiên, bị cáo không dừng phương tiện lại để nhường đường cho xe đang chạy trên đường ưu tiên mà lại tiếp tục điều khiển phương tiện đi tiếp dẫn đến đâm vào phía sau của xe ô tô đang chạy trên lần đường ưu tiên. Đối với anh Đặng Văn T điều khiển phương tiện đi đúng tốc độ ở làn đường uư tiên, khi phát hiện xe của bị cáo, thì phần đầu xe ô tô của Đặng Văn T đi gần hết điểm mở, mặt khác điểm va chạm giữa hai phương tiện là nằm ở vị trí phía sau của rơ móc biển kiểm soát 51R-246.76, do đó Viện kiểm sát xác định nguyên nhân một phần do lỗi của anh Đặng Văn T không có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6, khoản 1, Điều 21, Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo.
[8]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện cho gia đình người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ, Điểm b, khoản 1, Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự; khoản1, điểm b, khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Điều 6, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên bố: bị cáo Trần Đức T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt: bị cáo Trần Đ T 12 tháng cải tạo không giam giữ.
Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện K, tỉnh Hà Tĩnh nhận được quyết định thi hành án. Giao bị cáo Trần Đức T cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh để giám sát, giáo dục.
Gia đình của bị cáo Trần Đức T có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Về hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập: Miễn hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Trần Đức T
Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Trần Đức T 01 (Một) Giấy phép lái xe hạng A1, số [...] mang tên Trần Đức T
Về án phí: Buộc bị cáo Trần Đức T phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Đức T, đại diện cho bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đặng Văn T6 vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Quang Dũng |
Bản án số 23/2024/HS-ST ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 23/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Đức T phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
