Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 23/2024/HS-PT

Ngày: 15/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Việt Hoàng;

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Hòa;

Bà Vương Thị Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Ông Phùng Đức Khương - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2024/TLPT-HS ngày 11 tháng 3 năm 2024 đối với các bị cáo Trần Quang H, Trần Văn T do có kháng cáo của các bị cáo H, T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 85/2024/HSST ngày 31 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

* Bị cáo có kháng cáo:

  1. Trần Quang H, sinh năm 2002 tại Phú Thọ; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: khu phố Đ, xã V, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn C, sinh năm 1970 và con bà Trần Thị Kim H1, sinh năm 1973; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/9/2023 đến ngày 30/11/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa phương; có mặt tại phiên tòa.
  2. Trần Văn T, sinh năm 2000 tại Phú Thọ; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: khu T, xã P, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Xuân B, sinh năm 1970 (đã chết năm 2023) và con bà Lê Thị B1, sinh năm 1978; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/9/2023 đến ngày 30/11/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa phương; có mặt tại phiên tòa.

Trong vụ án còn có anh Hà Văn Đ là bị hại và 02 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, không bị kháng nghị nên Toà án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Quang H làm nghề tuyển dụng nhân lực cho Công ty N đang ở trọ tại thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Bắc Ninh từ đầu năm 2023. Khoảng tháng 7 năm 2023, anh Đ có nhắn cho H để tìm việc. Do anh Đ không có căn cước công dân nên H chưa xin được việc làm cho Đ. H có thuê giúp cho anh Đ 01 phòng trọ tại thôn Đ, xã Đ để anh Đ ở, chờ xin việc làm. Anh Đ ở được khoảng 04 ngày thì bỏ đi không nói gì với H nên H đã phải trả cho chủ trọ 200.000 đồng. Khoảng 01 tuần sau, H liên lạc với anh Đ và nói nếu không xuống làm thì phải trả 400.000 đồng bao gồm tiền trọ 200.000 đồng và tiền hỗ trợ trước đó 200.000 đồng. Anh Đ nói qua mùng 02/9 sẽ xuống làm nhưng sau đó anh Đ không xuống và cũng không liên lạc gì với H.

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 08/9/2023, H đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát: 19E1 -43949 chở 02 công nhân nữ là chị Quách Thị Hoài T1 và chị Hà Thị T2, đều sinh năm 2005, trú tại: Xóm B, xã T, huyện M, tỉnh Hòa Bình đi làm về thì gặp anh Đ đang đi bộ trên đường H thuộc khu công nghiệp V, phường P, thành phố T. H điều khiển xe mô tô lên phía trước anh Đ rồi dừng lại, xuống xe H đòi số tiền 400.000 đồng nhưng anh Đ nói chưa có tiền. Sau đó H hỏi tiếp “T3 đã có tiền chưa bây giờ có hai lựa chọn một là hoàn lại hết tiền anh đã hỗ trợ cho anh luôn hai là đưa điện thoại anh giữ khi nào có tiền liên hệ lại anh lấy lại điện thoại”. Lúc này, anh Đ không nói gì và cứ di chuyển đi, thấy anh Đ không có ý định muốn trả tiền nên H gọi điện cho Trần Văn T (là anh em họ với H, làm cùng và ở trọ cùng H) bảo ra đưa anh Đ về chỗ Đ ở trọ lấy căn cước công dân đưa cho H nếu anh Đ không trả nợ.

Một lúc sau, T đi xe mô tô Yamaha Exciter, biển kiểm soát: 19E1 -393.48 đến chỗ H. Lúc này, H đang lời qua tiếng lại với anh Đ. Thấy vậy, T nói “Anh chỉ cần lấy lại tiền bọn anh hỗ trợ em và tiền em trốn trọ cô chủ nhà, còn người bọn anh không cần nữa”, anh Đ trả lời “Bây giờ không có tiền” và tiếp tục bỏ đi không nói chuyện với H và T. Thấy vậy, H dùng tay phải đấm 02 cái vào lưng anh Đ thì anh Đ bỏ chạy, H đuổi theo dùng hai tay quàng qua cổ anh Đàm v ngã và ghì cổ anh Đ xuống đất. H đút tay phải vào túi quần bên trái của anh Đ lấy điện thoại IPhone 6s màu hồng của Đ ra nhưng anh Đ dùng hai tay giữ lại. H tiếp tục dùng hai tay giằng tay anh Đ ra làm chiếc điện thoại của anh Đàm rơi ra đất. H bảo T “Cầm cho cái điện thoại”. T tiến đến cầm chiếc điện thoại Iphone 6s, màu hồng của anh Đ lên. Lúc này, H đứng dậy thì bị anh Đàm v ra bãi cỏ gần đó và ngồi đè lên bụng H. Thấy vậy, T xông đến dùng chân đạp vào vai anh Đ làm anh Đ ngã ra bãi cỏ. H đứng dậy rồi cùng T xông vào dùng tay, chân đấm, đá vào người anh Đ mấy cái nữa. Lúc này, anh Đ sợ hãi không dám chống trả nữa và có nói “Tao đi B2”. Sau đó, T đưa lại điện thoại của anh Đ cho H cầm, rồi H, T cùng ra điều khiển xe mô tô đi về phòng trọ.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 62/KL - HDĐGTS ngày 14/9/2023 của Hội đồng định giá thường xuyên UBND Thành phố T, kết luận: “01 chiếc điện thoại Iphone 6s, màu hồng, IMEI: 355696070301607, dung lượng 16Gb, mất vân tay, đã qua sử dụng, có giá trị là 1.500.000 đồng”.

Qua xem xét dấu vết trên thân thể anh Hà Văn Đ ngày 08/9/2023 thì thấy: Cổ tay phải có vết xây xước kích thước (1x7) cm; cổ tay trái có vết xây xước kích thước (1x5) cm; má phải có vết sưng kích thước (1,5x3) cm. Các vết thương trên của Đ là do H, T dùng tay, chân tác động gây ra. Ngày 09/9/2023, anh Đ có đơn từ chối giám định thương tích và đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H và T. Đối với với việc anh Đàm v ngã H ra bãi cỏ và ngồi đè lên bụng H, nhưng không gây ra thương tích gì cho H. Bản thân H cũng không có yêu cầu đề nghị gì.

Với nội dung nêu trên, Bản án hình sự sơ thẩm số: 85/2024/HSST ngày 31/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xét xử và tuyên bố Trần Quang H, Trần Văn T phạm tội “Cướp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Quang H 42 (Bốn mươi hai) tháng tù; bị cáo Trần Văn T 40 (Bốn mươi) tháng tù. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 05/02/2024, các bị cáo Trần Quang H, Trần Văn T có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm quy kết. Bị cáo H trình bày vì anh Đ nợ tiền, bị cáo chỉ muốn lấy lại tiền của mình. Bị cáo không có ý định chiếm đoạt điện thoại của anh Đ. Bản thân bị cáo nghĩ tạm giữ điện thoại của anh Đ đến khi anh Đ trả tiền thì bị cáo sẽ trả lại điện thoại. Do bị cáo còn trẻ, nhận thức pháp luật không đầy đủ nên mới phạm tội, bị cáo mong Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét hoàn cảnh phạm tội và nhân thân của bị cáo để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo yên tâm cải tạo sớm làm lại cuộc đời.

Bị cáo T trình bày, bị cáo không biết và không mâu thuẫn gì với anh Đ. Khi nghe H bảo ra đưa anh Đ về lấy Căn cước công dân thì bị cáo ra. Khi thấy anh Đ ngồi trên bụng và đánh H thì bị cáo mới nhảy vào đá anh Đ. Bị cáo chỉ cầm điện thoại của anh Đ đưa cho H, bị cáo không có ý thức chiếm đoạt điện thoại của anh H. Bị cáo còn trẻ, nhận thức còn hạn chế nên mới phạm tội. Bị cáo mong HĐXX xem xét mức độ vi phạm của bị cáo, hoàn cảnh phạm tội và nhân thân bị cáo, giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội của các bị cáo, căn cứ vào nội dung kháng cáo của các bị cáo tại phiên tòa, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với các bị cáo; xử bị cáo H 39 tháng tù; bị cáo T 37 tháng tù.

Bị cáo H, T không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt mức thấp nhất cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Các cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, không bị khiếu nại, do đó, các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng là hợp pháp. Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định, các bị cáo Trần Quang H, Trần Văn T có kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa hôm nay, cả hai bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Bản án sơ thẩm đã quy kết. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm; lời khai của bị hại; Biên bản khám nghiệm hiện trường; vật chứng được thu giữ và và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, vì vậy HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 08/9/2023, tại đường H khu công nghiệp V, phường P, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh, các bị cáo Trần Quang H và Trần Văn T đòi 400.000 đồng đã cho anh Hà Văn Đ mượn trước đó nhưng anh Đ không có tiền trả. Sau đó H và T đã có hành vi dùng vũ lực như dùng tay, chân đấm, đá vào người anh Đ và chiếm đoạt chiếc điện thoại Iphone 6s, màu hồng trị giá 1.500.000 đồng của Đ. Hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Cướp tài sản” với số tiền là 1.500.000 đồng. Do vậy, Bản án sơ thẩm xét xử các bị cáo Trần Quang H, Trần Văn T về tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo H 42 tháng tù, bị cáo T 40 tháng tù là có phần nghiêm khắc.

[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Các bị cáo đều có nhân thân tốt. Không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải. Sau khi phạm tội, gia đình các bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại và được bị hại làm đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự. Do đó, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS.

[4] Các bị cáo có ông nội, ông ngoại được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì, Huân chương chiến công hạng ba, Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng nhất. Bị cáo H có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự. Nên các bị cáo được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 BLHS. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã được cấp sơ thẩm áp dụng. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm các bị cáo có nộp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới như Ông nội, ông ngoại của các bị cáo là ông Trần C1 được tặng huy hiệu 60 năm tuổi Đảng; cả hai bị cáo đều được UBND xã V, xã P xác nhận là có hoàn cảnh gia đình thuộc diện khó khăn; bị cáo T có ông ngoại là ông Lê Anh T4 được tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhì; bị cáo H có ông, bà nội là ông Trần Văn T5 và bà Hà Thị H2 đều tham gia dân công hỏa tuyến tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ nên các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Đối với bị cáo T đồng phạm có mức độ thấp hơn H, vai trò không đáng kể, do đó, có căn cứ để áp dụng khoản 1 Điều 54 cho bị cáo được hưởng mức hình phạt dưới khung hình phạt của điều luật được áp dụng là phù hợp.

[6] Xét thấy nguyên nhân phạm tội của các bị cáo có phần xuất phát từ lỗi của người bị hại. Tài sản bị chiếm đoạt có giá trị không lớn, chỉ 1.500.000 đồng. Cả 02 bị cáo đều có thêm nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, do đó cần mở lượng khoan hồng chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo cũng đủ răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị HĐXX không xem xét.

[8] Về án phí: Do kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận nên bị cáo Trần Quang H, Trần Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Quang H, Trần Văn T; sửa Bản án sơ thẩm.
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Quang H 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Nhưng được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/09/2023 đến ngày 31/11/2023.
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn T 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Nhưng được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/09/2023 đến ngày 31/11/2023.
  2. Áp dụng khoản 3 Điều 347 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định bắt tạm giam các bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 15/4/2024) để đảm bảo thi hành án.
  3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  4. Về án phí: Các bị cáo Trần Quang H, Trần Văn Đ1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - Phòng PC 10 - Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - CQCSĐT; VKS; TAND thành phố Từ Sơn;
  • - Cục Thi hành án tỉnh Bắc Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Việt Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2024/HS-PT ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 23/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Quang H và đồng phạm phạm tội cướp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger