Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẮC MÊ

TỈNH HÀ GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2024/HS-ST

Ngày 30 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Văn Công.
  • Các Hội thẩm nhân dân.
  • Ông Nguyễn Ngọc Liên.
  • Ông Vũ Đức Khanh.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Lê Minh Hậu - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang: Ông Ngô Quang Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở UBND xã P, huyện B, tỉnh Hà Giang; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 24/2024/TLST-HS ngày 13/9/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Bị cáo: Nông Văn T; sinh năm 1992; nơi sinh: Huyện B, tỉnh Hà Giang; nơi cư trú: Thôn N, xã P, huyện B, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Văn T1, sinh năm 1973 và con bà Mạc Thị M, sinh năm 1972; có vợ: Vương Thị L, sinh năm 1990 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2018; có 03 anh em ruột bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không; căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 13/4/2021, nơi cấp Cục CSQLHC về trật tự xã hội Bộ C; tạm giữ: Ngày 03/6/2024; tạm giam: Ngày 12/6/2024. Hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Hà Giang (có mặt).

  2. Bị cáo: Đoạn Văn T2; sinh năm 1989; nơi sinh: Huyện B, tỉnh Hà Giang; nơi cư trú: Thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoạn Văn N, sinh năm 1946 (đã chết) và con bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1956 (đã chết); vợ con: Chưa có; có 07 anh em ruột bị cáo là con thứ sáu trong gia đình; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 22/8/2023 bị Công an huyện B, tỉnh Cao Bằng xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản bằng hình thức phạt tiền (chưa nộp tiền); nhân thân: Không; căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 16/4/2021, nơi cấp Cục CSQLHC về trật tự xã hội Bộ C; tạm giữ: Ngày 03/6/2024; tạm giam: Ngày 12/6/2024. Hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Hà Giang (có mặt).

Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Nguyễn Minh H - Trợ giúp viên pháp lý; nơi công tác: Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H (vắng mặt).

  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Mạc Thị M, sinh năm 1972; nơi cư trú: Thôn N, xã P, huyện B, tỉnh Hà Giang (có mặt).
  • - Những người làm chứng: Chị Đoạn Thị V, sinh năm 1988 (có mặt); anh Mã Văn L1, sinh năm 1994 (vắng mặt); anh Nông Văn T3, sinh năm 1993 (vắng mặt); anh Mã Văn M1, sinh năm 1987 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng sau tết Nguyên đán 2024, T và T2 xuống tỉnh Hải Dương làm thuê biết tỉnh Bắc Ninh có bán ma túy rẻ hơn xã P, huyện B Ngày 31/5/2024, T và T2 thống nhất cùng nhau xuống tỉnh Bắc Ninh mua ma túy, mục đích bán kiếm lời chia nhau lợi nhuận. Đến sáng ngày 01/6/2024 T và T2 bắt xe khách xuống đi mua ma túy, khi đi qua huyện B, tỉnh Hà Giang T dừng lại rút tiền tại cây ATM số tiền 5.500.000đ rồi tiếp tục bắt xe khách địa điểm mua ma túy. Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, cả hai xuống xe tại ngã tư Đ đi bộ khoảng 30 phút đến địa phận huyện N, tỉnh Bắc Ninh gặp một người đàn ông lạ mặt không rõ tên tuổi, địa chỉ hỏi mua ma tuý và được người đàn ông đồng ý, T đưa cho người đàn ông số tiền 4.500.000đ (bốn triệu năm trăm nghìn đồng), người đàn ông này cầm tiền đi khoảng 10 phút sau quay lại và đưa cho T 01 túi ni lông màu trắng, bên trong có chất ma túy heroine dạng cục. Khi mua được ma túy T và T2 trích một phần để sử dụng và bắt xe khách về nhà. Đến khoảng 06 giờ ngày 02/6/2024 T và T2 về đến nhà chị Đoạn Thị V (chị gái ruột T2) để ngủ. Khoảng 09 giờ, cả hai dậy thấy nhà không có người nên T và T2 chia nhỏ chất ma túy nhiều gói nhỏ để bán kiếm lời. Tuân bẻ cục ma túy thành 02 phần sau đó cùng T2 chia nhỏ một phần chất ma túy (phần nhỏ hơn) được 33 (ba mươi ba) gói nhỏ, sau đó T và T2 lấy 01 gói sử dụng hình thức tiêm chích, còn 32 (ba mươi hai) gói T2 cầm hết, T cầm cục mua tuý chưa chia. Sau đó T2 một mình đi bộ theo Quốc lộ C hướng xuống khu vực giáp ranh huyện B, tỉnh Cao Bằng đến khoảng 13 giờ cùng ngày, T2 gặp Nông Văn T3 tại vị trí trước cửa nhà T3, T2 bán cho T3 01 gói ma túy giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). Bán xong T2 về nhà đưa cho T số tiền trên, sau đó cả hai ngủ tại nhà chị gái T2. Sáng ngày 03/6/2024, T và T2 tiếp tục chia hết số ma túy còn lại được tổng 39 (ba mươi chín) gói ma túy. Sau đó, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA BKS: 26B1-35044 của bà Mạc Thị M (là mẹ đẻ T), T2 ngồi sau đi theo đường quốc lộ 34 hướng huyện B, tỉnh Cao Bằng mục đích tìm người mua ma tuý để bán. Khi đi đến khu vực cống thoát nước ngã ba thôn B, xã P, huyện B gặp Mã Văn L1, T2 đã bán cho L1 01 gói ma túy giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). Sau đó đi đến khu vực cống nước, đầu cầu G huyện B, tỉnh Cao Bằng. T2, T gặp Vương Văn K, T bán cho K 01 gói ma túy giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). Khoảng 10 phút sau tại vị trí trên Nguyễn Văn H1 đi đến và H1 hỏi mua ma túy. T bán cho H1 01 gói ma túy giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) sau đó cả hai quay xe đi về nhà đến khu vực gần quán bán hàng tạp của ông Nguyễn Văn N1, T2 và T gặp Nông Văn T3 hỏi mua ma tuý T2 bán tiếp cho T3 01 gói ma túy nữa giá 100.000đ (một trăm nghìn đồng), sau đó T2 và T mỗi người lấy 01 gói ma túy sử dụng rồi về nhà. Khi đi qua khu vực trạm kiểm lâm N2 gặp Mã Văn M1, cả hai bán cho M1 01 gói ma túy giá 100.000đ (một trăm nghìn đồng), T2 là người đưa ma túy, còn T là người nhận tiền. Khi cả hai đi cùng một xe mô tô BKS: 26B1-350.44 đến km 67+700 quốc lộ C thuộc thôn B, xã P bị tổ công tác tiến hành kiểm tra Nông Văn T (người điều khiển xe mô tô) phát hiện tại túi áo bên trái có 36 gói giấy kẻ ngang màu trắng, bên trong mỗi gói có chất bột màu trắng ma túy heroine, 01 điện thoại VIVO, 01 bơm kim tiêm, tiền Việt Nam đồng 1.071.000đ. Kiểm tra Đoạn Văn T2 (người ngồi sau xe mô tô) phát hiện tại túi áo bên phải có 26 gói giấy kẻ ngang màu trắng, 01 gói giấy bạc bên trong mỗi gói có chất bột màu trắng ma túy heroine, 01 điện thoại IPHONE 11PROMAX, 01 bơm kim tiêm, tiền Việt Nam đồng 411.000đ đồng thời đưa toàn bộ tang vật về Công an huyện B điều tra, xác minh làm rõ.

Ngày 03/6/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B phối hợp với các ngành chức năng tiến hành mở niêm phong và cân tịnh. Kết quả cân tịnh 27 gói chất bột màu trắng nghi là ma tuý Heroine thu trên người Đoạn Văn T2 tổng khối lượng là 0,858g (không phẩy tám trăm năm mươi tám gam); 36 gói chất bột màu trắng nghi là ma tuý Heroine thu trên người Nông Văn T tổng khối lượng là 1,018g (một phẩy không trăm mười tám gam).

Tại bản kết luận giám định ngày 11/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H, kết luận 27 (hai mươi bảy) mẫu gửi giám định ký hiệu từ A1.1 đến A1.27 và 36 (ba mươi sáu) mẫu gửi giám định ký hiệu từ A2.1 đến A2.36 đều là ma túy, loại H (H).

Heroin (Heroine) có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Kết luận giám định ngày 07/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H, kết luận 23 (hai mươi ba) tờ tiền Việt Nam gửi giám định đều là tiền thật.

Tại biên bản xác định hiện trường ngày 05/8/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện B tiến hành xác định vị trí Nông Văn T và Đoạn Văn T2 thực hiện hành vi phạm tội. Kết quả phù hợp với những người mua ma tuý, phù hợp với lời khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Tại bút lục số 271, 272 biên bản xác minh ngày 28/6/2024 tại nơi cư trú đối tượng Nguyễn Văn H1 và đối tượng Vương Văn K quá trình điều tra, xác minh các đối tượng vắng mặt nơi cư trú từ ngày 03/6/2024.

Vật chứng đã xử lý: Quá trình điều tra xét thấy số đồ vật không liên quan đến vụ án Cơ quan CSĐT đã trả lại cho các chủ sở hữu gồm: Đoạn Văn T2 số tiền 411.000đ và 01 điện thoại IPHONE 11PROMAX, màu đen xám. Bà Mạc Thị M 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA sirius, màu đen, trắng, BKS: 26B1-35044 và 01 điện thoại cảm ứng, nhãn hiệu VIVO, màu xanh, tím.

Vật chứng chưa xử lý gồm: 01 phong bì màu trắng niêm phong kín “mẫu vật hoàn lại sau giám định ký hiệu A1.3, A1.5, A1.8, A1.12, A1.17, A1.20, A1.21, A1.23, A1.24, A1.27, A2.2, A2.9, A2.16, A2.18, A2.21, A2.23, A2.29, A2.31, A2.32, A2.36”. 01 phong bì màu trắng niêm phong “vỏ bao gói sau giám định”. 01 phong bì màu trắng “vỏ bao gói sau cân tịnh”. 02 bơm kim tiêm, tiền Việt Nam 1.071.000đ (một triệu không trăm bảy mươi mốt nghìn đồng).

Tại cáo trạng số 24/CT-VKSBM, ngày 13/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê truy tố bị cáo Nông Văn T, Đoạn Văn T2 về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn T, Đoạn Văn T2 phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điều 50; Điều 58; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nông Văn T từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù đến 07 (bảy ) năm 09 (chín) tháng tù. Xử phạt bị cáo Đoạn Văn T2 từ 07 (bảy) năm 05 (năm) tháng tù đến 07 (bảy) năm 08 (tám) tháng tù. Về hình phạt bổ sung: Không. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì màu trắng niêm phong “Mẫu vật hoàn lại sau giám định ký hiệu A1.3, A1.5, A1.8, A1.12, A1.17, A1.20, A1.21, A1.23, A1.24, A1.27, A2.2, A2.9, A2.16, A2.18, A2.21, A2.23, A2.29, A2.31, A2.32, A2.36". 01 phong bì màu trắng niêm phong “Vỏ bao gói sau giám định”. 01 phong bì màu trắng “Vỏ bao gói sau cân tịnh”. 02 bơm kim tiêm. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 1.071.000đ. Về án phí: Áp dụng điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 điều 12; điều 14; khoản 6 điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho các bị cáo T và T2: Cáo trạng truy tố các bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, khoản 2, Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét cân nhắc: Thứ nhất: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo T có nhân thân tốt không có tiền án tiền sự (bị cáo T2 có 01 tiền sự năm 2023) lần đầu phạm tội, các bị cáo là người dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, hoàn cảnh gia đình khó khăn, hiểu biết pháp luật hạn chế, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hưởng sự khoan hồng của pháp luật. Thứ hai: Số lượng chất ma túy không lớn, là người nghiện ma tuý mua về để sử dụng và bán ma tuý kiếm lời. nên cho các bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị về tội danh: Tuyên bị cáo Nông Văn T và bị cáo Đoạn Văn T2 phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy; Hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điều 17; điều 38; điều 50, điều 58 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nông Văn T và bị cáo Đoạn Văn T2 mỗi bị cáo từ 07 năm đến 08 năm tù; Hình phạt bổ sung: Không; Án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 điều 12, khoản 1 điều 14 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đề nghị miễn án phí đối với các bị cáo.

Các bị cáo Nông Văn T và Đoạn Văn T2 và nhất trí với ý kiến của người bào chữa và quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị, thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có tranh luận gì.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án nhất trí với quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị, không có tranh luận gì.

Bị cáo Nông Văn T, Đoạn Văn T2 thực hiện quyền nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Tại phiên tòa vắng mặt: Người bào chữa cho các bị cáo Nông Văn T, Đoạn Văn T2 có đơn xét xử vắng mặt và gửi luận cứ bào chữa; người làm chứng Mã Văn L1, Nông Văn T3, Mã Văn M1. Xét thấy các bị cáo; Kiểm sát viên đồng ý xét xử vắng mặt; trong hồ sơ đã có lời khai, việc vắng mặt những người trên không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 291, khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Hội đồng tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[2] Về tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên. Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo; trợ giúp viên pháp lý; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về tội danh: Lời khai nhận tội các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, biên bản xác định hiện trường, biên bản lời khai của người làm chứng, có đủ cơ sở kết luận: Ngày 01/6/2024, Nông Văn T và Đoạn Văn T2 bắt xe khách đi xuống tỉnh Bắc Ninh đã nhờ một người đàn ông không quen biết mua hộ 01 gói ma túy (heroine) số tiền 4.500.000đ (bốn triệu năm trăm nghìn đồng) tại huyện N, tỉnh Bắc Ninh. Sau đó về chia số ma tuý được 72 (bảy mươi hai) gói ma tuý đã sử dụng 03 gói ma tuý, số ma tuý còn lại đem đi bán từ ngày 02 đến ngày 03/6/2024 cho Vương Văn K, Mã Văn L1, Nguyễn Văn H1, Mã Văn M1 mỗi người 01 lần, bán cho Nông Văn T3 02 lần trên địa bàn huyện B, thu lợi bất chính do bán ma túy mà có là 1.071.000đ (một triệu không trăm bảy mươi mốt nghìn đồng). Mục đích các bị cáo mua ma túy về bán kiếm lời. Kết luận giám định của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận mẫu gửi giám định ký hiệu từ A1.1 đến A1.27 và từ A2.1 đến A2.36 đều là chất ma túy, loại Heroine, tổng khối lượng là 1,018g. Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[4] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Thuộc trường hợp rất nghiêm trọng gây nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy. Bởi lẽ chất ma túy không chỉ đơn thuần là chất gây nghiện mà còn là nguyên nhân làm gia tăng các loại tội phạm khác, làm mất trật tự trị an địa phương, làm phá vỡ hạnh phúc gia đình, thiệt hại đến kinh tế và sức khỏe bản thân, suy giảm giống nòi con người Việt Nam. Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi mua bán trái phép chất ma túy, ai vi phạm xẽ bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật; song với động cơ, mục đích lợi nhuận về kinh tế từ việc mua bán trái phép chất ma túy, các bị cáo bất chấp kỷ cương, coi thường pháp luật; các bị cáo lại cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Nông Văn T và Đoạn Văn T2 nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật nghiêm cấm, thấy trước được tác hại của hành vi mua bán trái phép chất ma túy, nhưng vẫn cố tình thực hiện để nhằm mục đích thu lợi bất chính từ việc bán ma túy cho nhiều người. Do vậy, cần phải xử mức án tương xứng với hành vi phạm tội các bị cáo gây ra và cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định.

[5] Về vai trò phạm tội: Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm mang tính giản đơn, không có sự câu kết chặt chẽ với nhau phân công vai trò khi phạm tội. Khi lượng hình Hội đồng xét xử cân nhắc.

[5.1] Đối với bị cáo Nông Văn T là người khởi xướng rủ rê và ứng trước số tiền 4.500.000₫ đi mua ma túy bán kiếm lời, là người trực tiếp cùng bị cáo T2 thực hiện hành vi chia nhỏ thành nhiều gói số ma túy và bán lẻ cho nhiều đối tượng nghiện ma túy trên địa bàn huyện B thu lợi bất chính được 1.071.000 đồng. Xét về vai trò bị cáo Nông Văn T chịu trách nhiệm hình sự cao hơn so với bị cáo Đoạn Văn T2.

[5.2] Đối với bị cáo Đoạn Văn T2 tuy không trực tiếp trả tiền mua bán ma túy, nhưng đã bàn bạc thống nhất cùng bị cáo Nông Văn T đi mua ma túy, cùng nhau chia nhỏ số ma túy và cùng nhau đi bán ma túy cho những người nghiện với mục đích nhằm hưởng lợi. Xét về vai trò bị cáo Đoạn Văn T2 chịu trách nhiệm hình sự thấp hơn bị cáo Nông Văn T.

[6] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

  • [6.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.
  • [6.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
  • - Đối với bị cáo Nông Văn T chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật còn hạn chế nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  • - Đối với bị cáo Đoạn Văn T2, có 01 tiền sự tháng 8/2023 bị Công an huyện B, tỉnh Cao Bằng xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản hình thức phạt tiền đến nay chưa nộp phạt, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân để sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật mà lại tiếp tục phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Tuy nhiên bị cáo chưa có tiền án, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là người dân tộc thiểu số, nên xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[7] Bị cáo Nông Văn T, Đoạn Văn T2 đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện B, Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục tạm giam các bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án theo quy định tại Điều 329 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

[8] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo lao động tự do, thu nhập không ổn định, sống ở vùng điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[9] Trong vụ án có một số hành vi đối tượng liên quan:

  • [9.1] Đối với bị cáo Nông Văn T, Đoạn Văn T2 ngoài hành vi mua bán trái phép chất ma túy có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an huyện B đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là đúng quy định.
  • [9.2] Đối với Mã Văn L1, Mã Văn M1, Nông Văn T3 đều là những người nghiện ma túy với mục đích mua để sử dụng cho bản thân. Công an huyện B ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là đúng quy định của pháp luật. Đối với Nguyễn Văn H1, Vương Văn K mua ma túy của bị cáo T, bị cáo T2, quá trình xác minh không có mặt tại địa phương từ ngày 03/6/2024 nên Công an huyện B chưa xử lý theo quy định của pháp luật. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • [9.3] Đối với Đoạn Thị V (chị gái ruột bị cáo T2) là chủ nhà, bị cáo T2 và T đã lợi dụng lúc bà V đi vắng đã sử dụng nhà của bà V chia ma tuý sau đó mang đi bán, quá trình điều tra xác định bà V không biết việc bị cáo T và T2 sử dụng nhà của mình hoạt động phạm tội. Do vậy không có cơ sở xem xét xử lý.
  • [9.4] Đối với người đàn ông có hành vi mua ma tuý hộ bị cáo Nông Văn T tại huyện N, tỉnh Bắc Ninh, quá trình điều tra không biết nhân thân lai lịch, địa chỉ của người đàn ông này. Do vậy không có cơ sở xem xét xử lý.
  • [9.5] Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Mạc Thị M (mẹ đẻ của bị cáo T), cho T mượn xe mô tô YAMAHA BKS: 26B1-35044, bà M không biết các bị cáo dùng xe máy của mình đi bán trái phép chất ma túy. Do vậy không có cơ sở xem xét xử lý.

[10] Về xử lý vật chứng:

  • [10.1] Quá trình điều tra xét thấy một số đồ vật không liên quan đến vụ án Cơ quan CSĐT đã ra quyết định xử lý vật chứng đã trả lại các chủ sở hữu hợp pháp gồm: Đoạn Văn T2 số tiền 411.000đ và 01 điện thoại IPHONE 11 PROMAX. Bà Mạc Thị M 01 xe máy BKS: 26B1-35044 và 01 điện thoại nhãn hiệu VIVO là đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • [10.2] Đối với 01 phong bì màu trắng niêm phong “mẫu vật hoàn lại sau giám định ký hiệu A1.3, A1.5, A1.8, A1.12, A1.17, A1.20, A1.21, A1.23, A1.24, A1.27, A2.2, A2.9, A2.16, A2.18, A2.21, A2.23, A2.29, A2.31, A2.32, A2.36"; 01 phong bì màu trắng niêm phong “vỏ bao gói sau giám định”; 01 phong bì màu trắng “vỏ bao gói sau cân tịnh” là vật chứng nhà nước cấm tàng trữ lưu hành cần tịch thu tiêu hủy; 02 bơm kim tiêm các bị cáo dùng việc sử dụng trái phép chất ma túy không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • [10.3] Đối với số tiền 1.071.000 đồng VNĐ từ việc phạm tội do bán ma túy mà có nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

[11] Từ những căn cứ nêu trên, xét thấy đại diện Viện Kiểm sát đề nghị là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[12] Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho các bị cáo đề nghị là phù hợp nên được chấp nhận.

[13] Về án phí: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn đề nghị miễn nộp án phí. Hội đồng xét xử, xét cho các bị cáo được miễn nộp tiền án phí theo quy định của pháp luật.

[14] Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn T, Đoạn Văn T2 phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

  2. Về hình phạt:

    • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điều 50; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
    • Xử phạt: Bị cáo Nông Văn T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 03/6/2024.
    • Xử phạt: Bị cáo Đoạn Văn T2 07 (bảy) năm 05 (năm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 03/6/2024.
  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

    • - Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “Mẫu vật hoàn lại sau giám định ký hiệu A1.3, A1.5, A1.8, A1.12, A1.17, A1.20, A1.21, A1.23, A1.24, A1.27, A2.2, A2.9, A2.16, A2.18, A2.21, A2.23, A2.29, A2.31, A2.32, A2.36”, mặt sau có 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh H và chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong. 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “Vỏ bao gói sau giám định”, mặt sau có 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh H và chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong. 01 (một) phong bì màu trắng, mặt trước phong bì ghi “Vỏ bao gói sau cân tịnh”, bên trong có toàn bộ vỏ bao, gói sau cân tịnh. 02 (hai) bơm kim tiêm, đã qua sử dụng.
    • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: Tiền Việt Nam số tiền 1.071.000₫ (một triệu không trăm bảy mươi mốt nghìn đồng) đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B chuyển vào tài khoản tạm gửi của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang.

    (Tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/9/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Mê).

  4. Về án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 điều 12, điều 14, khoản 6 điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

    Bị cáo Nông Văn T; Đoạn Văn T2 được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

    Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Nếu vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Giang;
  • - VKSND tỉnh Hà Giang;
  • - VKSND huyện Bắc Mê;
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện Bắc Mê;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Giang;
  • - Phòng PV06 CA tỉnh Hà Giang;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Bắc Mê;
  • - Chi cục THADS huyện Bắc Mê;
  • - Bị cáo; Trợ giúp viên pháp lý;
  • - Người có quyền lợi, NVLQ đến vụ án;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Dương Văn Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 23/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nông Văn T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù; Đoạn Văn T 07 (bảy) năm 05 (năm) tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger