Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 23/2024/HS-ST

Ngày 25-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Kim Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Quốc Tuấn, bà Nguyễn Thị Băng.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Giang - Thư ký Tòa án nhân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái tham gia phiên tòa:

Bà Vũ Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2024/HSST ngày 07-3-2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST-HS ngày 05-4-2024, đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Văn L; tên gọi khác: Không; sinh ngày 04 tháng 01 năm 1988 tại thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn A, xã C, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Trọng Đ, sinh năm 1936 và bà: Bùi Thị P, sinh năm: 1960; vợ: Trần Thị N, sinh năm 1987; con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2013; tiền án: 01. Năm 2022, bị Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc” tại Bản án số 21/2022/HS-ST ngày 16-5-2022; tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27-11-2023 đến ngày 03-12-2023 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
  2. Nguyễn Hùng M; tên gọi khác: Không; sinh ngày 27 tháng 6 năm 1978 tại thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: Tổ dân phố C, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1944 (đã chết) và bà: Nghiêm Thị C, sinh năm: 1950; vợ: Lê Thị Thanh T1, sinh năm 1979 (đã ly hôn); con: Có 02 con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2018, bị Công an huyện T tỉnh Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc bằng hình thức phạt tiền theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về an ninh trật tự số 78/QĐ-XPHC ngày 21-11-2018. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27-11-2023 đến ngày 03-12-2023 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
  3. Trần Văn K; tên gọi khác: Không; sinh ngày 20 tháng 10 năm 1983 tại tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Khu V, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn T2 (đã chết) và bà: Nguyễn Thị B, sinh năm: 1946; vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1987; con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2021, bị Công an quận H thành phố Hải Phòng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc bằng hình thức phạt tiền theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 127/QĐ-XPHC ngày 20-9-2021. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27-11-2023 đến ngày 03-12-2023 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
  4. Đoàn Văn T3; tên gọi khác: Không; sinh ngày 29 tháng 3 năm 1983 tại thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: Tổ P, phường Đ, quận K, thành phố Hải Phòng nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đoàn Văn N1sinh năm 1959 và bà: Vũ Thị T4sinh năm: 1961; vợ: Nguyễn Thị V sinh năm 1984; con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27-11-2023 đến ngày 03-12-2023 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
  5. Nguyễn Danh H1; tên gọi khác: Không; sinh ngày 16 tháng 11 năm 1987 tại tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Đ, thôn B, xã C, huyện K, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Doanh K1 (đã chết) và bà: Nguyễn Thị B1, sinh năm: 1960; vợ: Hoàng Thị T5, sinh năm 1989; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27-11-2023 đến ngày 03-12-2023 được thay thế biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
  6. Phạm Văn L1; tên gọi khác: Không; sinh ngày 03 tháng 10 năm 1981 tại thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn Đ1, sinh năm 1954 và bà: Nguyễn Thị T6, sinh năm: 1957; vợ: Phạm Thị D, sinh năm 1985; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27-11-2023 đến ngày 03-12-2023 được bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
  7. Phạm Văn B2; tên gọi khác: Không; sinh ngày 05 tháng 02 năm 1981 tại thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn B3, sinh năm 1948 và bà: Vũ Thị T7, sinh năm: 1954; vợ: Đặng Thị D1, sinh năm 1985; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27-11-2023 đến ngày 03-12-2023 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
  8. Hoàng Văn N2; tên gọi khác: Không; sinh ngày 18 tháng 9 năm 1986 tại thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: Xóm L, thôn Đ, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Xuân N3 (đã chết) và bà: Nguyễn Thị T8, sinh năm: 1963; vợ: Mai Thị Bích V1, sinh năm 1987; con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27-11-2023 đến ngày 03-12-2023 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
  9. Nguyễn Văn K2; tên gọi khác: Không; sinh ngày 26 tháng 9 năm 1989 tại thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn A, xã C, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn K3, sinh năm 1954 và bà: Vũ Thị M1, sinh năm: 1956; vợ: Bùi Thị T9, sinh năm 1999; con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2019, nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27-11-2023 đến ngày 03-12-2023 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
  10. Nguyễn Văn Q; tên gọi khác: Không; sinh ngày 16 tháng 01 năm 1989 tại tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn C1, sinh năm 1962 và bà: Phạm Thị N4, sinh năm: 1969; vợ: Vũ Thị Thúy H2, sinh năm 1989; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27-11-2023 đến ngày 03-12-2023 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
  11. Trần Văn C2; tên gọi khác: Không; sinh ngày 23 tháng 10 năm 1986 tại thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn L2 (đã chết) và bà: Nguyễn Thị G, sinh năm: 1956; vợ: Chu Thị H3, sinh năm 1989; con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27-11-2023 đến ngày 03-12-2023 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Anh Lý Ngọc Đ2; sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn B, xã V, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt (đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
  • - Chị Bùi Thị H4; sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn B, xã V, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt (đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

* Người làm chứng:

  • - Anh Nguyễn Trường X; sinh năm 1990; địa chỉ: Xã M, huyện H, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.
  • - Anh Trịnh Bắc S, sinh năm 1984; địa chỉ: 2 Đ, phường N, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.

* Người chứng kiến: Anh Cao Ngọc T10, sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn B, xã V, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 27-11-2023, sau khi làm việc tại khu Công nghiệp P, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Nguyễn Hùng M, Trần Văn K, Đoàn Văn T3, Nguyễn Danh H1, Phạm Văn L1, Phạm Văn B2, Hoàng Văn N2, Nguyễn Văn K2, Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn Q, Trần Văn C2, Nguyễn Trường X và Trịnh Bắc S là lái xe tải đường dài cùng đi đến quán C3 (chủ quán là Lý Ngọc Đ2, vợ là Bùi Thị H4) thuộc thôn B, xã V, thành phố Y, tỉnh Yên Bái để ăn cơm ở phòng nghỉ tạm phía sau cách quán cơm khoảng 50m, đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, cả nhóm lái xe ăn uống xong. Sau đó, M, K, T3, H1, L1, B2, N2, K2, L, Q, C2 cùng rủ nhau đánh bạc thắng, thua bằng tiền dưới hình thức "Xóc đĩa". X và S không tham gia đánh bạc mà nằm ngủ ở phản bên cạnh. M lấy 01 bát sứ, 01 đĩa sứ là đồ dùng của quán mang đi rửa, K sử dụng 01 chiếc kéo cắt 04 quân vị hình tròn từ 01 quân bài tú lơ khơ để làm công cụ đánh bạc, sử dụng một tấm thảm màu đỏ có sẵn ở quán để làm chỗ đặt cược. M là người trực tiếp cầm “cái”, tất cả cùng thống nhất đặt hai cửa chẵn hoặc lẻ. Sau đó, M đặt bốn quân vị lên đĩa sứ, dùng bát sứ úp lại và giữ trên hai tay để xóc bốn quân vị lấy kết quả. Các bị cáo còn lại đặt tiền theo hai cửa (kết quả) được gọi là “chẵn” và “lẻ”. Nếu 4 quân vị ngửa lên 2 mặt trắng và 2 mặt tối màu, hoặc 4 mặt trắng, 4 mặt tối màu thì là “chẵn”; nếu 4 quân vị ngửa 3 mặt cùng một màu, 1 quân vị còn lại có màu khác thì là “lẻ”. Nếu 4 quân vị cho kết quả là “chẵn” hoặc “lẻ” người đặt tiền đúng theo “chẵn” hoặc “lẻ” sẽ thắng được số tiền bằng với số tiền đã đặt cược và được M trả tiền, còn thua sẽ mất số tiền đã đặt cược cho M, mức đặt cược nhỏ nhất là 100.000 đồng và không giới hạn mức đặt cược lớn nhất. Khi các bị cáo đánh bạc đến khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày thì bị Công an thành phố Y bắt quả tang.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Hùng M Trần Văn K Đoàn Văn T3 Nguyễn Danh H1 Phạm Văn L1 Phạm Văn B2 Hoàng Văn N2 Nguyễn Văn K2 Nguyễn Văn L Nguyễn Văn Q Trần Văn C2 khai nhận số tiền sử dụng để đánh bạc cụ thể như sau:

  • Nguyễn Hùng M mang theo và sử dụng số tiền 7.200.000 đồng để đánh bạc, thua 6.150.000 đồng, khi bị bắt quả tang tự nguyện giao nộp số tiền 1.050.000 đồng trên người.
  • Trần Văn K mang theo và sử dụng số tiền 2.500.000 đồng để đánh bạc, thua 490.000 đồng, thu giữ dưới chiếu bạc số tiền 1.500.000 đồng, tự nguyện giao nộp số tiền 510.000 đồng trên người.
  • Đoàn Văn T3 mang theo và sử dụng số tiền 600.000 đồng để đánh bạc, thắng 100.000 đồng, thu giữ dưới chiếu bạc số tiền 500.000 đồng, tự nguyện giao nộp số tiền 200.000 đồng trên người.
  • Nguyễn Danh H1 mang theo và sử dụng số tiền 900.000 đồng để đánh bạc, thắng 1.860.000 đồng, thu giữ dưới chiếu bạc số tiền 700.000 đồng, tự nguyện giao nộp số tiền 2.060.000 đồng trên người.
  • Phạm Văn L1 mang theo và sử dụng số tiền 2.000.000 đồng để đánh bạc, thắng 3.290.000 đồng, thu giữ dưới chiếu bạc số tiền 1.500.000 đồng, tự nguyện giao nộp số tiền 3.790.000 đồng trên người.
  • Phạm Văn B2 mang theo và sử dụng số tiền 1.300.000 đồng để đánh bạc, thắng 650.000 đồng, thu giữ dưới chiếu bạc số tiền 500.000 đồng, tự nguyện giao nộp số tiền 1.450.000 đồng trên người.
  • Hoàng Văn N2 mang theo và sử dụng số tiền 500.000 đồng để đánh bạc, hòa (không thắng, không thua), thu giữ dưới chiếu bạc số tiền 500.000 đồng.
  • Nguyễn Văn K2 mang theo và sử dụng số tiền 1.600.000 đồng để đánh bạc, thắng 1.100.000 đồng, thu giữ dưới chiếu bạc số tiền 1.000.000 đồng, tự nguyện giao nộp số tiền 1.700.000 đồng trên người.
  • Nguyễn Văn L mang theo và sử dụng số tiền 4.000.000 đồng để đánh bạc, thắng 400.000 đồng, thu giữ dưới chiếu bạc số tiền 2.000.000 đồng, tự nguyện giao nộp số tiền 2.400.000 đồng trên người.
  • Nguyễn Văn Q mang theo và sử dụng số tiền 1.110.000 đồng để đánh bạc, thua 460.000 đồng, thu giữ dưới chiếu bạc số tiền 650.000 đồng.
  • Trần Văn C2 mang theo và sử dụng số tiền 1.800.000 đồng để đánh bạc, thua 300.000 đồng, thu giữ dưới chiếu bạc số tiền 300.000 đồng, tự nguyện giao nộp số tiền 1.200.000 đồng trên người.

Số tiền thu giữ tại chiếu bạc là: 9.150.000 đồng; các bị cáo tự nguyện giao nộp số tiền sử dụng để đánh bạc trên người là: 14.360.000 đồng. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 23.510.000 đồng.

Vật chứng thu giữ: 01 đĩa sứ màu trắng; 01 bát sứ loại bát con màu trắng; 04 quân vị hình tròn, trên mỗi quân vị đều có chấm đỏ; 01 tấm thảm bằng vải len màu đỏ có in nhiều họa tiết, dài khoảng 1m 60, rộng khoảng 50cm, tình trạng đã qua sử dụng; 01 chiếc kéo bằng kim loại, có tay cầm bọc nhựa màu đen, tình trạng đã qua sử dụng; số tiền 23.510.000 đồng.

Cáo trạng số 13/CT-VKS-TP ngày 06-03-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái truy tố Nguyễn Hùng M Trần Văn K Đoàn Văn T3 Nguyễn Danh H1 Phạm Văn L1 Phạm Văn B2 Hoàng Văn N2 Nguyễn Văn K2 Nguyễn Văn Văn Q Trần Văn C2 về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

* Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn L Nguyễn Hùng M Trần Văn K Đoàn Văn T3 Nguyễn Danh H1 Phạm Văn L1 Phạm Văn B2 Hoàng Văn N2 Nguyễn Văn K2 Nguyễn Văn Q Trần Văn C2 phạm tội: “Đánh bạc”.

* Về hình phạt chính:

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 56; khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù. Tổng hợp với hình phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo tại Bản án số 21/2022/HS-ST ngày 16-5-2022 của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Hùng M từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Văn K từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Đoàn Văn T3 từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Danh H1 từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phạm Văn L1 từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phạm Văn B2 từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Hoàng Văn N2 từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K2 từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Văn C2 từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

* Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự, phạt tiền bị cáo Nguyễn Văn L từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng nộp Ngân sách Nhà nước.

Không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với các bị cáo còn lại.

Ngoài ra, Đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, không tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Y tỉnh Yên Bái, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng và người chứng kiến được triệu tập nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng trên không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 292; Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người chứng kiến, vật chứng bị thu giữ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã đủ cơ sở kết luận: Ngày 27-11-2023, tại quán C3 thuộc thôn B, xã V, thành phố Y các bị cáo Nguyễn Hùng M Trần Văn K Đoàn Văn T3 Nguyễn Danh H1 Phạm Văn L1 Phạm Văn B2 Hoàng Văn N2 Nguyễn Văn K2 Nguyễn Văn L Nguyễn Văn Q Trần Văn C2 đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức “Xóc đĩa” với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 23.510.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Hùng M Trần Văn K Đoàn Văn T3 Nguyễn Danh H1 Phạm Văn L1 Phạm Văn B2 Hoàng Văn N2 Nguyễn Văn K2 Nguyễn Văn L Nguyễn Văn Q Trần Văn C2 là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự nếp sống văn minh của xã hội, gây mất trật tự, an toàn và trị an trên địa bàn. Các bị cáo đều là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức để điều chỉnh mọi hành vi của bản thân, biết được hành vi đánh bạc là sát phạt nhau bằng tiền, tước đoạt sức lao động của nhau một cách bất hợp pháp, là tệ nạn xã hội có tác động tiêu cực đến từng cá nhân, gia đình, xã hội, là nguồn gốc phát sinh các tội phạm khác nhưng vẫn cố tình thực hiện, thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Vì vậy, cần phải xử phạt các bị cáo mức án tương xứng hành vi phạm tội của các bị cáo mới có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo nói riêng và góp phần phòng ngừa tội phạm nói chung.

[5] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Nguyễn Văn L có 01 tiền án chưa được xóa án tích về tội “Đánh bạc” nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Các bị cáo Nguyễn Hùng M và Trần Văn K chưa có tiền án, tiền sự. Các bị cáo từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, hình thức xử phạt là phạt tiền. Bị cáo M không biết, không nhận được Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, không có hành vi trốn tránh, cản trở việc xử phạt, theo quy định tại Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính thì đã hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo K đã chấp hành xong quyết định. Theo quy định tại Điều 7 Luật xử lý vi phạm hành chính thì bị cáo M và bị cáo K được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Các bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Hùng M có mẹ đẻ là người có công với cách mạng, được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng Nhất nên bị cáo còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo: Đoàn Văn T3 Nguyễn Danh H1 Phạm Văn L1 Phạm Văn B2 Hoàng Văn N2 Nguyễn Văn K2 Nguyễn Văn Q Trần Văn C2 chưa có tiền án, tiền sự. Các bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Các bị cáo Nguyễn Hùng M Trần Văn K Đoàn Văn T3 Nguyễn Danh H1 Phạm Văn L1 Phạm Văn B2 Hoàng Văn N2 Nguyễn Văn K2 Nguyễn Văn Q Trần Văn C2 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Xét vai trò thực hiện tội phạm của từng bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, không có tổ chức, các bị cáo rủ nhau cùng đánh bạc, tham gia trực tiếp và đánh bạc ngay từ đầu. Trong đó, bị cáo M là người lấy và mang bát, đĩa đi rửa; bị cáo K là người cắt 04 quân vị từ bộ bài tú lơ khơ để làm công cụ đánh bạc. Trong suốt quá trình các bị cáo đánh bạc, bị cáo M là người cầm cái xóc đĩa. Do đó, vai trò của bị cáo M là cao nhất, sau đó đến bị cáo K các bị cáo còn lại có vai trò ngang nhau.

[7] Về hình phạt chính: Từ những phân tích trên, căn cứ vào tính chất, mức độ, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Cần thiết phải cách ly bị cáo Nguyễn Văn L ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ sức răn đe, cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội. Lần phạm tội này của bị cáo là phạm tội trong thời gian thử thách án treo tại Bản án số 21/2022/HS-ST ngày 16-5-2022 của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Do đó, cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án số 21/2022/HS-ST và tổng hợp với hình phạt của bản án này theo quy định tại khoản 5 Điều 65 và khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt chung đối với bị cáo.

Đối với các bị cáo Nguyễn Hùng M Trần Văn K Đoàn Văn T3 Nguyễn Danh H1 Phạm Văn L1 Phạm Văn B2 Hoàng Văn N2 Nguyễn Văn K2 Nguyễn Văn Q Trần Văn C2: Các bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà việc áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với các bị cáo vừa đảm bảo việc thu nộp ngân sách nhà nước, vừa có tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm và đồng thời đảm bảo tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật. Tuy nhiên, xét bị cáo M và bị cáo K là người đã chuẩn bị công cụ đánh bạc, từng bị xử phạt vi phạm hành chính nên các bị cáo phải chịu mức hình phạt cao hơn các bị cáo còn lại.

[8] Về hình phạt bổ sung: Cần phạt bị cáo Nguyễn Văn L một khoản tiền nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với các bị cáo Nguyễn Hùng M Trần Văn K Đoàn Văn T3 Nguyễn Danh H1 Phạm Văn L1 Phạm Văn B2 Hoàng Văn N2 Nguyễn Văn K2 Nguyễn Văn Q Trần Văn C2: Do hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[9] Về các hành vi và người liên quan khác:

Đối với anh Lý Ngọc Đ2 và chị Bùi Thị H4(chủ quán C3: Quá trình điều tra xác định, khi các bị cáo tham gia đánh bạc tại quán cơm, anh Đ2 và chị H4 không biết, không liên quan, không được hưởng lợi gì nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Y không đề cập xử lý là phù hợp.

[10] Về vật chứng và các đồ vật, tài sản tạm giữ:

- Đối với 01 đĩa sứ màu trắng; 01 bát sứ loại bát con màu trắng; 01 tấm thảm bằng vải len màu đỏ có in nhiều họa tiết dài khoảng 1m60 rộng khoảng 50cm; 01 chiếc kéo bằng kim loại, có tay cầm bọc nhựa màu đen: Đây là các vật dụng thuộc quyền sở hữu hợp pháp của anh Lý Ngọc Đ2 và chị Bùi Thị H4. Anh Đ2 và chị H4 không biết, không có lỗi trong việc để các bị cáo sử dụng đánh bạc. Tại phiên tòa, anh Đ2 và chị H4 vắng mặt nhưng trong quá trình điều tra, anh Đ2 và chị H4 đều xác định đây là vật chứng của vụ án, có giá trị thấp nên không đề nghị trả lại. Xét không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu, tiêu hủy.

- Đối 04 quân vị hình tròn, trên mỗi quân vị đều có chấm đỏ: Xét là vật chứng sử dụng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu, tiêu hủy.

- Số tiền 23.510.000 đồng được niêm phong trong 10 phong bì do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Y phát hành là tiền các bị cáo dùng để đánh bạc, cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

[11] Về án phí: Các bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[12] Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[13] Đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái tại phiên tòa là có căn cứ nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh:

Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Văn L Nguyễn Hùng M Trần Văn K Đoàn Văn T3 Nguyễn Danh H1 Phạm Văn L1 Phạm Văn B2 Hoàng Văn N2 Nguyễn Văn K2 Nguyễn Văn Q và Trần Văn C2 phạm tội “Đánh bạc”.

2. Về hình phạt:

2.1. Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 56; khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 01 năm 06 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo tại Bản án số 21/2022/HS-ST ngày 16-5-2022 của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 13-01-2022 đến ngày 20-01-2022 của Bản án số 21/2022/HS-ST và thời gian tạm giữ từ ngày 27-11-2023 đến ngày 03-12-2023 của bản án này.

Phạt bổ sung bị cáo 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

2.2. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hùng M 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng).

2.3. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn K 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng).

2.4. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đoàn Văn T3 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng).

2.5. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Danh H1 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng).

2.6. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn L1 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng).

2.7. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn B2 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng).

2.8. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn N2 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng).

2.9. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K2 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng).

2.10. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng).

2.11. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn C2 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng).

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

3.1 Tịch thu tiêu hủy: 01 đĩa sứ màu trắng; 04 quân vị hình tròn, trên mỗi quân vị đều có chấm đỏ; 01 bát sứ loại bát con màu trắng; 01 tấm thảm bằng vải len màu đỏ có in nhiều họa tiết dài khoảng 1m60 rộng khoảng 50cm; 01 chiếc kéo bằng kim loại, có tay cầm bọc nhựa màu đen

3.2. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: Số tiền 23.510.000 đồng được niêm phong trong 10 phong bì do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái phát hành.

(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08-3-2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Y và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Yên Bái).

4. Về án phí:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 về mức thu, giảm, miễn, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo Nguyễn Văn L Nguyễn Hùng M Trần Văn K Đoàn Văn T3 Nguyễn Danh H1 Phạm Văn L1 Phạm Văn B2 Hoàng Văn N2 Nguyễn Văn K2 Nguyễn Văn Q và Trần Văn C2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

Các bị cáo Nguyễn Văn L Nguyễn Hùng M Trần Văn K Đoàn Văn T3 Nguyễn Danh H1 Phạm Văn L1 Phạm Văn B2 Hoàng Văn N2 Nguyễn Văn K2 Nguyễn Văn Q Trần Văn C2 được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực, bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6,7,7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Yên Bái;
  • - VKSND tỉnh Yên Bái;
  • - Sở tư pháp tỉnh Yên Bái;
  • - VKSND TP Yên Bái;
  • - Công an TP; HSNV;
  • - Chi cục THADS TP Yên Bái;
  • - Bị cáo (11);
  • - Người có QL, NVLQ (02);
  • - Lưu HS, TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tạ Thị Kim Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI về hình sự (tội đánh bạc)

  • Số bản án: 23/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 2.1. Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 56; khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 01 năm 06 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo tại Bản án số 21/2022/HS-ST ngày 16-5-2022 của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 13-01-2022 đến ngày 20-01-2022 của Bản án số 21/2022/HS-ST và thời gian tạm giữ từ ngày 27-11-2023 đến ngày 03-12-2023 của bản án này. Phạt bổ sung bị cáo 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước. 2.2. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hùng M 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng). 2.3. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn K 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng). 2.4. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đoàn Văn T3 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng). 2.5. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Danh H1 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng). 2.6. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn L1 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng). 2.7. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn B2 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng). 2.8. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn N2 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng). 2.9. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K2 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng). 2.10. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng). 2.11. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn C2 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger