TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ QUẢNG TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 23/2024/HS-ST
Ngày 22-8-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ QUẢNG, TỈNH CAO BẰNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nông Thanh Lịch
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Tô Thị Thi – Nguyên là giáo viên
Ông Lê Đại Tiến – Giáo viên nghỉ hưu
- Thư ký phiên tòa: Bà Lô Thị Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hạnh – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2024/TLST-HS ngày 25/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐXXST-HS ngày 07/8/2024 đối với bị cáo :
B1; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 28/9/2006 tại thị trấn X, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Nơi cư trú: Xóm Đ, thị trấn X, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Con ông Bế Văn G, sinh năm 1984 và bà Lý Thị L, sinh năm 1986; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không có;
Nhân thân: Bị cáo bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm phạm sức khỏe của người khác theo Quyết định số 34/QĐ-XPHC ngày 08/02/2022 Công an huyện B1, tỉnh Cao Bằng.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17/5/2024 đến nay. Có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Bà Lý Thị L, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Xóm Đ, thị trấn X, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lục Thị H – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C. Có mặt.
- Người làm chứng đồng thời là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Đàm Vinh H1, sinh ngày 02/8/2008; Nơi cư trú: Xóm H, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của Đàm Vinh H1 đồng thời là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Đàm Văn H2, sinh năm 1979; Nơi cư trú: Xóm H, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.
- Người làm chứng đồng thời là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Nông Khánh D, sinh ngày 18/12/2008; Nơi cư trú: Xóm C, xã C, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của Nông Khánh D đồng thời là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nông Văn N, sinh năm 1968; Nơi cư trú: Xóm C, xã C, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.
- Người làm chứng đồng thời là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ngụy Văn D1, sinh ngày 27/02/2010; Nơi cư trú: Xóm C, xã L, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của Ngụy Văn D1 đồng thời là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Ngụy Văn H3, sinh năm 1976; Nơi cư trú: Xóm C, xã L, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 10/4/2024, Công an huyện B1 tiếp nhận tin báo về việc Bế Hải N1 cất giấu trái phép pháo nổ Trung Quốc. Cùng ngày Công an huyện B1 đã khám xét khẩn cấp nơi ở của Bế H, phát hiện và thu giữ:
- - 03 khối dạng bánh tròn, mỗi khối gồm nhiều ống trụ giấy nhỏ liên kết với nhau một đầu có gắn dây dẫn nhiệt màu xanh, bên ngoài bọc giấy, trên nền có in họa tiết nhiều màu ghi chữ nước ngoài, cùng kích thước: đường kính 19cm, cao 06 cm, khối lượng 2,05 kg;
- - 10 dải băng, mỗi dải băng gồm nhiều ống trụ giấy nhỏ được liên kết với nhau, bên ngoài bọc giấy trên nền có in họa tiết màu ghi chữ nước ngoài, kích thước dài 29cm, rộng 05cm, cao 1,5cm, khối lượng 1,21 kg;
- - 04 khối hình trụ có đáy dạng tròn, mỗi khối gồm nhiều lớp giấy được cuộn ép sát vào nhau, một đầu có gắn dây dẫn màu xanh, bên ngoài có bọc giấy in màu, kích thước cao 16cm, đường kính hai đầu 07cm, khối lượng 0,7 kg;
- - 06 khối hình trụ có đáy dạng tròn, mỗi khối gồm nhiều lớp giấy được cuộn ép sát vào nhau, một đầu có gắn dây dẫn màu xanh, bên ngoài có bọc giấy in màu, trên nền giấy có in hình họa tiết nhiều màu ghi chữ nước ngoài kích thước cao 15cm, đường kính hai đầu 07cm, khối lượng 0,7 kg;
- Tổng khối lượng của 23 vật trên là 4,66 kg.
B1 khai nhận các vật trên là pháo nổ Trung Quốc Nam mua về để sử dụng. Ngoài ra còn có Đàm Vinh H1, Nông Khánh D và Ngụy Văn D1 cùng N1 mua pháo nổ Trung Quốc. Từ lời khai của Bế Hải Nam Công an huyện B1 đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của các đối tượng trên, kết quả:
Tại nơi ở của Đàm Vinh H1 phát hiện và thu giữ:
- - 01 khối dạng bánh hình tròn gồm nhiều ống trụ giấy nhỏ được liên kết với nhau, một đầu có gắn dây dẫn màu xanh, bên ngoài bọc giấy, trên nền có in họa tiết nhiều màu ghi chữ nước ngoài, kích thước: đường kính 19cm, cao 06 cm, khối lượng 0,63 kg
- - 03 dải băng, mỗi dải băng gồm nhiều ống trụ giấy nhỏ được liên kết với nhau, bên ngoài bọc giấy trên nền có in họa tiết màu ghi chữ nước ngoài, kích thước 29cm x 05cm x 1,5cm, khối lượng 0,4 kg
- - 02 khối hình trụ có đáy dạng tròn, mỗi khối gồm nhiều lớp giấy được cuộn ép sát vào nhau, một đầu có gắn dây dẫn màu xanh, bên ngòai bọc giấy màu trên nền giấy có in hình họa tiết nhiều màu ghi chữ nước ngoài, kích thước cao 16cm, đường kính hai đầu 07cm, khối lượng 0,21 kg
- - 01 khối hình trụ có đáy dạng tròn gồm nhiều lớp giấy được cuộn ép sát vào nhau, một đầu có gắn dây dẫn màu xanh, bên ngoài bọc giấy in màu, kích thước cao 16cm, đường kính hai đầu 07cm, khối lượng 0,19 kg
- Tổng khối lượng của 07 vật trên là 1,43 kg.
Tại nơi ở của Nông Khánh D phát hiện và thu giữ:
- - 02 khối hình trụ có đáy dạng tròn, mỗi khối gồm nhiều lớp giấy được cuộn ép sát vào nhau, một đầu có gắn dây dẫn màu xanh, bên ngòai bọc giấy in màu, kích thước cao 16cm, đường kính hai đầu 07cm, khối lượng 0,31kg.
- - 01 khối dạng hình trụ có đáy dạng tròn, gồm nhiều lớp giấy được cuộn ép sát vào nhau, một đầu có gắn dây dẫn màu xanh, bên ngòai bọc giấy in màu, kích thước cao 15cm, đường kính hai đầu 07cm, khối lượng 0,1kg.
- - 01 khối hình trụ có đáy dạng tròn, gồm nhiều lớp giấy được cuộn ép sát vào nhau, một đầu có gắn dây dẫn màu xanh, bên ngòai bọc giấy in màu, trên giấy có in hình họa tiết nhiều màu ghi chữ nước ngoài, kích thước cao 15cm, đường kính hai đầu 07cm, khối lượng 0,11kg.
- - 01 khối dạng bánh hình tròn, gồm nhiều ống trụ giấy nhỏ được liên kết với nhau, một đầu có gắn dây dẫn màu xanh, bên ngoài bọc giấy trên nền có in hình họa tiết nhiều màu ghi chữ nước ngoài, kích thước đường kính 19 cm, cao 6cm, khối lượng 0,7kg.
- - 04 dải băng, mỗi dải băng gồm nhiều ống trụ giấy nhỏ được liên kết với nhau, bên ngoài bọc giấy trên nền giấy có in họa tiết nhiều màu ghi chữ nước ngoài, kích thước dài 29cm, rộng 05cm, cao1,5cm, khối lượng 0,5kg.
- - 01 dải băng gồm 91 ống trụ giấy nhỏ màu đỏ được liên kết với nhau, 01 đầu có gắn dây dẫn màu bạc trắng, bên ngoài được bọc giấy in màu nham nhở, dài 60cm, khối lượng 0,09kg.
- Tổng khối lượng của 10 vật trên là 1,81 kg.
Tại nơi ở của Ngụy Văn D1 phát hiện và thu giữ:
- - 02 khối hình trụ có đáy dạng tròn, mỗi khối gồm nhiều lớp giấy được cuộn ép sát vào nhau, một đầu có gắn dây dẫn màu xanh, bên ngòai bọc giấy in màu, kích thước cao 12cm, đường kính hai đầu 07cm, khối lượng 0,21kg
- - 01 khối dạng bánh tròn gồm nhiều ống trụ giấy nhỏ liên kết với nhau, một đầu có gắn dây dẫn màu xanh, bên ngoài bọc giấy, trên nền có in họa tiết nhiều màu ghi chữ nước ngoài, kích thước: đường kính 19cm, cao 06 cm, khối lượng 0,7kg
- - 02 dải băng, mỗi dải băng gồm nhiều ống trụ giấy nhỏ được liên kết với nhau, bên ngoài bọc giấy trên nền giấy có in họa tiết nhiều màu ghi chữ nước ngoài, kích thước dài 29cm, rộng 05cm, cao 1,5cm, khối lượng 0,23kg
- - 01 dải băng gồm nhiều ống trụ giấy nhỏ được liên kết với nhau, bên ngoài được bọc giấy bao gồm 78 khối ống trụ, tổng chiều dài dải băng là 35cm, khối lượng 0,03kg
- Tổng khối lượng của 06 vật trên là 1,17 kg.
Tại Kết luận giám định số 246/KL- KTHS ngày 19/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh C kết luận:
- - Các mẫu vật gửi giám định đựng trong hộp cát tông, mặt trước ghi "mẫu vật gửi giám định (nghi pháo Trung Quốc) thu giữ được của B Hải Nam vào ngày 10/4/2024" đều là pháo nổ.
- - Các mẫu vật gửi giám định đựng trong hộp cát tông, mặt trước ghi "mẫu vật gửi giám định (nghi pháo Trung Quốc) thu giữ được của Đàm Vinh H1 vào ngày 10/4/2024 " đều là pháo nổ.
- - Các mẫu vật gửi giám định đựng trong hộp cát tông, mặt trước ghi "mẫu vật gửi giám định (nghi pháo Trung Quốc) thu giữ được của Nông khánh Duy vào ngày 10/4/2024" đều là pháo nổ.
- - Các mẫu vật gửi giám định đựng trong hộp cát tông, mặt trước ghi "mẫu vật gửi giám định (nghi pháo Trung Quốc) thu giữ được của Ngụy Văn D1 vào ngày 10/4/2024" đều là pháo nổ.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Bế Hải N1 và Nông Khánh D, Đàm Vinh H1, Ngụy Văn D1 khai nhận: N1, D và H1 là bạn chơi với nhau, tối ngày 02/4/2024 ba người cùng bàn bạc, thống nhất tại quán H4 thuộc khu vực thị trấn X về việc mua pháo để đốt dịp tảo mộ 03/3 âm lịch. D biết Ngụy Văn D1 có thể lấy được pháo nên đã liên lạc qua ứng dụng Messenger hỏi D1. D1 liên hệ qua ứng dụng Wechat với 01 người đàn ông Trung Quốc D1 gọi là “Dè” quen trước đó ở khu vực biên giới để hỏi mua pháo thì biết giá 03 loại pháo theo đồng nhân dân tệ Trung Quốc là: bánh pháo tròn 40 đồng, dây pháo tép 04 đồng, pháo hình trụ 08 đồng. Ngày 04/4/2024 N1, D, D1 gặp nhau tại một quán nước thuộc khu vực thị trấn X, D1 báo giá các loại pháo, N1 và D đặt mua pháo, H1 đến sau cũng biết nội dung sự việc và nhất trí với N1, D về việc đi mua pháo. Cả nhóm thống nhất ngày 06/4/2024 sẽ lên nhà D1 để lấy pháo.
Khoảng 11 giờ ngày 06/4/2024 D1 gọi qua W để đặt mua với một người đàn ông Trung Quốc D1 gọi là "Dè" 06 bánh pháo tròn, 23 dây pháo tép, 22 pháo giấy hình trụ, tổng số tiền 1.875.000 đồng đã bao gồm cả tiền công 150.000 đồng cho "Dè". Trong đó D1 đặt mua riêng với “Dè” 01 bánh pháo tròn, 03 dây pháo tép, 02 pháo giấy hình trụ (N1, D, H1 chưa biết). D1 hẹn " Dè" 17 giờ sẽ mang pháo ra khu vực biên giới cho D1 tại phần đất Việt Nam. Đến 15 giờ cùng ngày, N1 đi xe máy Honda Wave BKS 11S1 - 042.64 đèo D, H1 đi 01 xe hiệu Honda BKS 11Z1 - 4272 lên nhà D1 lấy pháo. Tại nhà D1, H1 góp 300.000 đồng, D góp 500.000 đồng, Nam góp 800.000 đồng, tổng số tiền 1.600.000 đồng để mua pháo. D được nhóm cử cầm tiền đi cùng D1 mua pháo và vận chuyển pháo về nhà D1.
D1 và D đi bộ theo đường mòn sau nhà D1 đến đồi P thuộc xóm C, xã L, rồi D1 một mình đến cách cột mốc số 680 biên giới Việt Nam - Trung Quốc khoảng 150 mét, khoảng 15 phút sau thì người Trung Quốc đi bộ ra đưa cho D1 03 túi pháo, D1 trả tiền cho người Trung Quốc và đi về chỗ D đang đợi. D, D1 để vào 02
ba lô rồi cùng nhau mang về. Lúc này D mới biết D1 đặt mua pháo riêng. Về đến nhà D1 lấy phần pháo đặt mua riêng của mình ra thì N1 và H1 mới biết. Tổng số pháo N1, H1, D mua được có 05 bánh pháo tròn, 20 dây pháo tép, 20 pháo giấy hình trụ. N1 chia pháo tương đối căn cứ vào số tiền đã đưa của từng người. Sau đó, D cho pháo của D vào ba lô một mình đi xe máy về chỗ trọ, Nam đèo H1 chở ba lô pháo của N1 và H1 về nhà, mỗi người tự cất giấu số pháo của bản thân riêng tại nhà. Đến ngày 10, 11/4/2024 thì lực lượng chức năng khám xét nơi ở và thu giữ toàn bộ số pháo đã cất giấu, riêng D đã đốt 02 dây pháo tép, 03 pháo giấy hình trụ vào chiều ngày 10/4/2024.
Bản cáo trạng số: 24/CT-VKSHQ ngày 23/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Bế Hải N1 về tội "Vận chuyển hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng. Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35, khoản 2 Điều 98, Điều 99 BLHS xử phạt tiền bị cáo B Hải Nam từ 26.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: đề nghị HĐXX tịch thu tiêu hủy 01 (một) ba lô màu đen kẻ ka rô và 01 (một) ba lô màu xám đen, mặt trước có ghi chữ MIANHDODA đều đã qua sử dụng; Tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động IPHONE 6S Plus màu hồng đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu POCO C40 màu đen đã qua sử dụng; Trả lại cho ông Ngụy Văn H3 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO A11X màu xanh đen đã qua sử dụng; Trả lại cho ông Đàm Văn H2 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu IPHONE XS, màu đen đã qua sử dụng; Trả lại cho bị cáo B Hải Nam sim điện thoại số 0918.134.xxx; Trả lại cho Nông Khánh D sim điện thoại số 0375.689.xxx; Trả lại cho Ngụy Văn D1 sim điện thoại số 0385.273.xxx; Trả lại cho Đàm Vinh H1 sim điện thoại số 0888.650.xxx.
Về án phí: Đề nghị HĐXX buộc bị cáo phải chịu án phí 200.000 đồng theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo trình bày quan điểm bào chữa: Nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và các điều luật áp dụng. Tuy nhiên khi áp dụng hình phạt đề nghị HĐXX xem xét bị cáo là người chưa thành niên nên nhận thức về pháp luật còn nhiều hạn chế; trước khi phạm tội bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật tại địa phương nơi cư trú; khối lượng hàng cấm vận chuyển không lớn; bản thân bị cáo có công việc riêng và có thu nhập ổn định; mẹ đẻ bị cáo cam đoan sẽ hỗ trợ bị cáo trong quá trình thi hành án nên đề nghị HĐXX áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo; về xử lý vật chứng và án phí đều nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo không có ý kiến gì bào chữa bổ sung.
Tại phần tranh luận bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Trong lời sau cùng bị cáo đã hiểu rõ về hành vi phạm tội của mình, mong HĐXX xử nhẹ để cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Điều tra viên Cơ quan điều tra Công an huyện B1, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện H, người bào chữa cho bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS). Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và tình tiết định khung hình phạt: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng, biên bản khám xét, vật chứng vụ án đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập hợp pháp, qua đó có đủ cơ sở xác định: Ngày 06/4/2024, Đàm Vinh H1 góp 300.000 đồng, Nông Khánh D góp 500.000 đồng, bị cáo B Hải Nam góp 800.000 đồng, tổng số tiền là 1.600.000 đồng mục đích để mua pháo nổ Trung Quốc về sử dụng. N1 được 03 bánh pháo dạng tròn, 10 dây pháo tép, 10 pháo giấy hình trụ tổng khối lượng 4,66kg. H1 được 01 bánh pháo dạng tròn, 03 dây pháo tép, 03 pháo giấy hình trụ tổng khối lượng 1,43kg; D được 01 bánh pháo dạng tròn, 07 dây pháo tép, 07 pháo giấy hình trụ sau khi đã đốt một phần còn tổng khối lượng 1,81kg; D1 mua riêng là 01 bánh pháo dạng tròn, 03 dây pháo tép, 02 pháo giấy hình trụ có khối lượng 1,17kg. Các đối tượng là đồng phạm về hành vi vận chuyển hàng cấm với số pháo cùng mua, vận chuyển là 7,9kg, đối với D, D1 phải chịu trách nhiệm tổng khối lượng 9,07kg. Tuy nhiên, do H1, D, D1 dưới 16 tuổi nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; Bị cáo Bế Hải N1 trên 16 tuổi nên phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đã thực hiện, hành vi của bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự. Do vậy, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật nên được chấp nhận.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện là ít nghiêm trọng nhưng đã xâm phạm tới những quy định của Nhà nước về trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại và xâm phạm tới chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các loại vật liệu nổ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương nhất là trong các dịp lễ, tết.
[4] Về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Bế Hải N1 không có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, năm 2022, bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm phạm sức khỏe của người khác theo Quyết định số 34/QĐ-XPHC ngày 08/02/2022 của Công an huyện B1, tỉnh Cao Bằng.
Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, khối lượng hàng cấm bị cáo vận chuyển ở mức thấp của định khung hình phạt; bị cáo chưa thành niên nhưng có công việc và có thu nhập nên chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi đã thực hiện cũng đảm bảo răn đe, giáo dục bị cáo sau này trở thành người công dân tốt cho xã hội và phòng ngừa tội phạm chung.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng:
- - Về 01 (một) ba lô màu đen kẻ ka rô đã qua sử dụng của Nông Khánh D; 01 (một) ba lô màu xám đen, mặt trước có ghi chữ MIANHDODA đã qua sử dụng của Bế Hải Nam là vật chứng vụ án các đối tượng dùng để vận chuyển pháo nổ nên cần tịch thu tiêu hủy;
- - Về 01 (một) điện thoại di động IPHONE 6S Plus màu hồng đã qua sử dụng, số IMEI: 358628070333527 là điện thoại của bị cáo Bế Hải N1 sử dụng để liên lạc thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước;
- - Về 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO A11X màu xanh đen đã qua sử dụng, số IMEI 1: 864774045158958, số IMEI 2: 864774045158941 là điện thoại của ông Ngụy Văn H3, Ngụy Văn D1 sử dụng để liên lạc mua pháo nổ ông H3 không biết nên cần trả lại cho ông H3;
- - Về 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu IPHONE XS, màu đen đã qua sử dụng, số IMEI: 357223098006692 là điện thoại của ông Đàm Văn H2 không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho ông H2;
- - Về 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu POCO C40 màu đen đã qua sử dụng, số IMEI 1: 862598050945161, số IMEI 2: 862598050945179 là điện thoại của Nông Khánh D liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước;
- - Về các sim điện thoại số 0918.134.xxx của B1; sim số 0385273551 của Ngụy Văn D1; sim số 0888650122 của Đàm Vinh H1; sim số 0375689355 của Nông Khánh D không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho các đối tượng sở hữu.
[8] Về các vấn đề khác:
Về người đàn ông Trung Quốc D1 gọi là “Dè” đã bán pháo nổ cho Ngụy Văn D1, trong quá trình điều tra do không xác định được lai lịch cụ thể của đối tượng này nên HĐXX không có cơ sở để xem xét giải quyết trong vụ án, Cơ quan điều tra cần tiếp tục điều tra và xử lý theo quy định của pháp luật khi có đủ căn cứ.
Về các đối tượng Ngụy Văn D1, Đàm Vinh H1, Nông Khánh D thực hiện
hành vi vận chuyển hàng cấm, tuy nhiên thời điểm thực hiện hành vi phạm tội các đối tượng này chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, Cơ quan chức năng xử phạt vi phạm hành chính các đối tượng trên là đúng quy định.
Về 01 xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE A, BKS 11S1 - 042.64 màu đen bạc, số máy TA39E2797642, số khung RLHJA3922NY300655, là xe của ông Bế Thanh K (ông nội của Bế H), bị cáo N1 mang xe đi chở pháo ông K không biết. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông K là phù hợp.
Về 01 xe máy nhãn hiệu Honda, BKS 11Z1 - 4272 màu đen xám, số máy HC 12E1 506289, số khung: RLHHC12099Y003393, là xe thuộc sở hữu của bà Nông Thị N2 (mẹ của Nông Khánh D), D mang xe đi chở pháo bà N2 không biết. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà N2 là phù hợp.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo dưới 18 tuổi, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
[11] Xét các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa cho bị cáo là có cơ sở, phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Bế Hải N1 phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; 98; 99 Bộ luật hình sự. Xử phạt tiền bị cáo Bế Hải N1 28.000.000 đồng.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 (một) ba lô màu đen kẻ ka rô đã qua sử dụng;
- + 01 (một) ba lô màu xám đen, mặt trước có ghi chữ MIANHDODA đã qua sử dụng;
- - Tịch thu, phát mại nộp ngân sách nhà nước:
- + 01 (một) điện thoại di động IPHONE 6S Plus màu hồng đã qua sử dụng, số IMEI: 358628070333527;
- + 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu POCO C40 màu đen đã qua sử dụng, số IMEI 1: 862598050945161, số IMEI 2: 862598050945179;
- - Trả lại cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ngụy Văn H3 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO A11X màu xanh đen đã qua sử dụng, số IMEI 1: 864774045158958, số IMEI 2: 864774045158941;
- - Trả lại cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Đàm Văn H2 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu IPHONE XS, màu đen đã qua sử dụng, số IMEI: 357223098006692;
- - Trả lại cho bị cáo B Hải Nam 01 (một) sim điện thoại số 0918.134.xxx;
- - Trả lại cho Ngụy Văn D1 01 (một) sim điện thoại số sim số 0385.273.xxx;
- - Trả lại cho Đàm Vinh H1 01 (một) sim điện thoại số sim số 0888.650.xxx;
- - Trả lại cho Nông Khánh D 01 (một) sim điện thoại số sim số 0375.689.xxx.
(Xác nhận toàn bộ vật chứng đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hà Quảng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 29 ngày 24/7/2024).
- Về án phí: Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nông Thanh Lịch |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA
Tô Thị Thi | Lê Đại Tiến | Nông Thanh Lịch |
Bản án số 23/2024/HS-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ QUẢNG, TỈNH CAO BẰNG về vận chuyển hàng cấm (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 23/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển hàng cấm (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ QUẢNG, TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vận chuyển hàng cấm
