Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THẠCH AN

TỈNH CAO BẰNG

Bản án số: 23/2024/HS-ST

Ngày: 27/9/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH AN - TỈNH CAO BẰNG

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Mai

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Ngô Văn Hoàn

2. Bà Nguyễn Thị Hằng

Thư ký phiên tòa: Bà Nông Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Bế Thanh Tuyền - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 23, 27 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2024/HSST ngày 24 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐXXST- HS ngày 22 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số: 01/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số: 02/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng đối với bị cáo:

Nông Thị H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 27/7/1985 tại xã H, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Nơi cư trú: xóm N, xã V, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Dân tộc: Dao; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 03/12 phổ thông;Con ông: Nông Văn S - sinh năm 1966; Con bà: Triệu Thị P - sinh năm 1965; Cùng cư trú: xóm L, xã H, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Anh chị em: Gia đình bị cáo có 03chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Chồng: Triệu Văn L - sinh năm 1982; Nơi cư trú: xóm N, xã V, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2006.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Cao Bằng từ ngày 07/12/2023 đến ngày 07/02/2024. Hiện bị cáo đang được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xóm N, xã V, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nông Văn S1 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh C. Vắng mặt tại phiên toà có lý do.

- Người làm chứng:

  1. Ông Lê Minh H1; Sinh năm 2000; Nơi cư trú: xóm N, xã V, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt tại phiên toà.
  2. Bà Triệu Thị Thùy T; Sinh năm 2004; Nơi cư trú: xóm N, xã L, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt khi tuyên án.
  3. Bà Lầu Thị D; Sinh năm 1996; Nơi cư trú: xóm N, xã V, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt tại phiên toà.
  4. Bà Lầu Thị X; Sinh năm 1998; Nơi cư trú: xóm N, xã V, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt tại phiên toà.
  5. Ông Triệu Văn C (Triệu Văn T1); Sinh năm 2002; Nơi cư trú: xóm C, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt tại phiên toà.
  6. Ông Triệu Văn P1; Sinh năm 1982; Nơi cư trú: xóm C, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt tại phiên toà.
  7. Ông Triệu Văn D1; Sinh năm 1990; Nơi cư trú: xóm C, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt tại phiên toà.
  8. Bà Triệu Thị N; Sinh năm 1978; Nơi cư trú: xóm T, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong quá trình sử dụng mạng xã H phát hiện tài khoản “Hoàng Phong” và “P2” nhận làm giấy tờ xe trên toàn quốc uy tín. Do trước đó con gái của H là Triệu Thị Thùy T bị Công an giao thông huyện T xử phạt vi phạm hành chính vì không có giấy phép lái xe (GPLX) nên H nảy sinh ý định làm GPLX cho T. Qua trao đổi, thỏa thuận nếu làm nhiều GPLXthì giá mỗi GPLX từ 800.000,₫ (tám trăm nghìn đồng) đến 900.000,₫ (chín trăm nghìn đồng). Sau đó, H thông báo một GPLX có giá 1.300.000,₫ (một triệu ba trăm nghìn đồng) cho những người có nhu cầu.Từ tháng 9/2023 đến tháng 10/2023 Nông Thị H nhận làm GPLX giả hạng A1 cho 08 (tám) người gồm:Lê Minh H1, Triệu Thị Thùy T, Lầu Thị D, Lầu Thị X, Triệu Văn C (Triệu Văn T1), Triệu Văn P1, Triệu Văn D1, Triệu Thị N. Cách thức làm giả giấy tờ xe của H như sau:

Khoảng tháng 09/2023, H liên lạc qua tài khoản Facebook “H” đặt vấn đề làm giả GPLX. Sau đó, tài khoản Hoàng P3 đồng ý và nói làm được GPLX, có mã QR để quét xem thông tin cá nhân nếu không đúng sẽ hoàn lại tiền. Sau khi thoả thuận về cách thức và giá cả xong, H thông báo cho con gái Triệu Thị Thùy T chụp ảnh chân dung và căn cước công dân gửi qua tin nhắn Messenger chuyển cho “H”. Đồng thời, H nói với T nếu nhiều người làm thì càng được giảm nhiều. Sau đó, T liên hệ với Triệu Văn T1, Triệu Văn P1 và Triệu Văn D1 làm GPLX với giá là 1.300.000,₫ (một triệu ba trăm nghìn đồng)/01GPLX. Triệu Văn T1 gửi ảnh chân dung và căn cước công dân của T1, P1, Dương qua ứng dụng Messenger cho T. Khi nhận được ảnh và căn cước công dân những người trên, T chuyển tiếp từ tài khoản Facebook Thuỳ Trang sang tài khoản Facebook "Hoa Nong". Nhận đủ thông tin cá nhân của Triệu Thị Thùy T, Triệu Văn T1, Triệu Văn P1 và Triệu Văn D1, H chuyển toàn bộ thông tin cho “H” để làm GPLX. Ngày 04/10/2023, tại xóm C, thị trấn Đ, huyện T, Triệu Thị Thùy T đưa số tiền 3.900.000,₫ (ba triệu chín trăm nghìn đồng) của Triệu Văn T1, Triệu Văn P1 và Triệu Văn D1 để làm GPLX giả cho Nông Thị H còn số tiền làm GPLX của T đã được Triệu Vĩnh T2 (em trai của T) chuyển cho Nông Thị H trước đó. Đến ngày 05/10/2023, Nông Thị H đã nhận được 04 (bốn) GPLX giả và đưa cho Triệu Thị Thùy T, Triệu Văn T1, Triệu Văn P1 và Triệu Văn D1 như cam kết.

Khoảng đầu tháng 10/2023, H trực tiếp nhận làm GPLX giả cho Lầu Thị D, Triệu Thị N, Lầu Thị X. Sau khi thoả thuận giá cả 01 (một) GPLX giả là 1.300.000,₫ (một triệu ba trăm nghìn đồng) và được D, N, X đồng ý nên H yêu cầu D, N, X chụp ảnh chân dung và căn cước công dân chuyển qua ứng dụng Messenger cho H. Do đã biết cách thức làm GPLX giả từ trước nên sau khi nhận được thông tin cá nhân của D, N, X, H đã liên lạc trao đổi thoả thuận giá cả với tài khoản Facebook “Phát” và được P2 báo giá 900.000,₫ (chín trăm nghìn đồng) một GPLX. Sau đó, H chuyển toàn bộ thông tin cá nhân của D, N, X cho P2 để làm GPLX.

Ngày 14/10/2023, H tiếp tục nhận làm GPLX cho Lê Minh H1 với giá là 1.300.000,₫ (một triệu ba trăm nghìn đồng) với cách thức làm giống như những lần trước. Sau khi nhận được thông tin cá nhân của H1, H chuyển thông tin cá nhân H1 qua ứng dụng Facebook cho “H” và thoả thuận giá 800.000,₫ (tám trăm nghìn đồng)/01GPLX. Ngày 19/10/2023, H nhận được 04 (bốn) GPLX của D, N, X vàHoàng. Khi nhận được GPLX H đưa cho D, N, X, H1 và thu số tiền 1.300.000,₫ (một triệu ba trăm nghìn đồng)/01GPLX. Đến ngày 26/10/2023, hành vi làm giả giấy tờ cơ quan, tổ chức của H đã bị cơ quan chức năng phát hiện và bắt giữ.

Ngày 14/11/2023, cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện T đã ban hành văn bản số: 54/QĐ-ĐTTH gửi Phòng K công an tỉnh C trưng cầu giám định tài liệu “Biên bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe” của Triệu Văn C, Triệu Thị Thùy T, Triệu Văn P1, Triệu Văn D1. Tại bản kết luận giám định số: 612/KL-KTHS ngày 30/11/2023 của phòng K Công an tỉnh C, kết luận: Hình dấu tròn có nội dung “CỘNG HÒA X.H.C.N VIỆT NAM TỈNH CAO BẰNG SỞ GIAO THÔNG VẬN TẢI” trên các mẫu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A4 so với hình dấu tròn có cùng nội dung trên mẫu so sánh ký hiệu M không phải do cùng một con dấu đóng ra.

Ngày 14/11/2023, cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện T đã ban hành văn bản số: 53/QĐ-ĐTTH gửi Phòng K công an tỉnh C trưng cầu giám định GPLX hạng A1 mang tên Triệu Văn C, Triệu Thị Thùy T, Triệu Văn P1, Triệu Văn D1, Lê Minh H1, Triệu Thị N, Lầu Thị D, Lầu Thị X. Tại bản kết luận giám định số: 613/KL-KTHS ngày 30/11/2023 của phòng K - Công an tỉnh C kết luận: 08 (tám) GPLX mang tên Triệu Văn C, Triệu Thị Thùy T, Triệu Văn P1, Triệu Văn D1, Lê Minh H1, Triệu Thị N, Lầu Thị D, Lầu Thị X là GPLX giả.

Hành vi của Nông Thị H đã bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Cao Bằng lập hồ sơ đề nghị truy tố trước pháp luật về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 341 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại bản Cáo trạng số: 09/CT-VKSTA ngày 22/5/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Nông Thị H về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 341 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

  • - Bị cáo Nông Thị H thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến và nhất trí với kết luận giám định số: 612/KL-KTHS ngày 30/11/2023 và kết luận giám định số: 613/KL-KTHS ngày 30/11/2023 của phòng K Công an tỉnh C.
  • Bị cáo Nông Thị H khai nhận: Do trước đó con gái bị cáo Triệu Thị Thùy T bị Công an giao thông huyện T xử phạt vi phạm hành chính vì không có GPLX nên bị cáo đã nảy sinh ý định làm GPLX cho T. Trong tháng 09/2023 và tháng 10/2023, bị cáo đã sử dụng tài khoản Facebook "Hoa Nông” để liên lạc với tài khoản Facebook tên là “Hoàng P3" và “Phát” 03 (ba) lần, đặt làm 08 (tám) GPLX giả cho 08 (tám) người gồm: Triệu Thị Thùy T; Lê Minh H1; Lầu Thị D; Lầu Thị X; Triệu Văn T1; Triệu Văn P1; Triệu Văn D1; Triệu Thị N với giá 800.000,₫ (tám trăm nghìn đồng) đến 900.000,₫ (chín trăm nghìn đồng)/01GPLX. Tuy nhiên, bị cáo lấy với mỗi cá nhân làm GPLX 1.300.000,₫ (một triệu ba trăm nghìn đồng)/01GPLX nhằm thu lợi bất chính.
  • Bị cáo chỉ nói với T báo giá cho những người có nhu cầu làm GPLX mỗi GPLX là 1.300.000,₫ (một triệu ba trăm nghìn đồng), nhiều người làm thì càng được giảm giá. T không biết giá trị thực tế mỗi GPLX bị cáo làm chỉ là 900.000,₫ (chín trăm nghìn đồng). Tiền GPLX của T bị cáo lấy số tiền được hưởng lợi từ những người làm GPLX để trả. Trước đó, con trai bị cáo Triệu Vĩnh T2 gửi cho bị cáo 1.000.000,₫ (một triệu đồng) để làm GPLX cho T nhưng bị cáo đã tiêu xài hết. Các GPLX người làm đều gửi cho bị cáo qua dịch vụ thu hộ. Số tiền thu hộ chính là số tiền làm giấy phép lái xe. Bị cáo đưa số tiền 500.000,₫ (năm trăm nghìn đồng) cho T trong đó 100.000,₫ (một trăm nghìn đồng) là tiền thừa của số tiền làm GPLX của T1, D1, P1 mà trước đó T đã bỏ ra trả cho họ còn số tiền 400.000,₫ (bốn trăm nghìn đồng) bị cáo cho T bởi T đang nuôi con nhỏ. Số tiền này không phải là tiền bị cáo chia lời lãi cho T. Bị cáo đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch An số tiền 9.100.000,₫ (chín triệu một trăm nghìn đồng) là tiền bị cáo đã thu của 07 người làm GPLX để khắc phục hậu quả bị cáo gây ra. Bị cáo đã liên lạc với những người làm GPLX bằng chiếc điện thoại bị thu giữ. Bị cáo không có ý kiến gì về chiếc điện thoại này.
  • Triệu Thị Thùy T khai nhận: Bị cáo H nói với bà về việc làm GPLX trên mạng tại nhà bà. Bà biết để có được GPLX thì phải đi học và đi thi. Khi bị cáo H nói với bà về việc làm GPLX trên mạng như vậy bà hiểu đó là GPLX giả nhưng tuy nhiên do có quét mã QR hiện thông tin cá nhân nên đó là một cách khó phát hiện nếu bị kiểm tra. Bị cáo nói với bà làm càng nhiều người thì càng giảm giá và mỗi GPLXlà 1.300.000,₫ (một triệu ba trăm nghìn đồng). Bà không biết bị cáo H làm thực tế mỗi GPLX là bao nhiêu tiền. Bà không phải trả tiền cho GPLX của bản thân bởi bị cáo nói với bà là T2 (em trai bà) đã gửi tiền về để làm GPLX cho bà. Số tiền 500.000,₫ (năm trăm nghìn đồng) bị cáo đưa cho bà trong đó có 100.000,₫ (một trăm nghìn đồng) tiền thừa của số tiền làm GPLX của T1, D1, P1 mà trước đó bà đã bỏ ra trả cho họ còn số tiền 400.000,₫ (bốn trăm nghìn đồng) bị cáo cho bà bởi bà đang nuôi con nhỏ. Ngoài số tiền này ra bà không được bị cáo cho thêm khoản tiền nào.
  • - Lầu Thị D, Lầu Thị X, Triệu Văn C (Triệu Văn T1), Triệu Văn P1, Triệu Văn D1, Triệu Thị N vắng mặt tại phiên toà nhưng trong đơn xin xét xử vắng mặt đều không yêu cầu gì đối với số tiền 1.300.000,₫ (một triệu ba trăm nghìn đồng).

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nông Thị H và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 341; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nông Thị H, tuyên bố bị cáo phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”, xử phạt bị cáo mức án từ 03 năm đến 04 năm tù.

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo thuộc hộ nghèo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị:

- Tịch thu tiêu hủy:

  • + 01 (một) GPLX số [...], cấp ngày 10/8/2023 mang tên Triệu Văn C. Kèm biên bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe của Sở giao thông vận tải tỉnh C đề ngày 06/8/2023; Đơn đề nghị học, sát hạch để cấp GPLX và giấy khám sức khoẻ không có thông tin cá nhân.
  • + 01 (một) GPLX số [...], cấp ngày 10/8/2023 mang tên Triệu Thị Thùy T. Kèm biên bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe của Sở giao thông vận tải tỉnh C đề ngày 06/8/2023; Đơn đề nghị học, sát hạch để cấp GPLX và giấy khám sức khoẻ không có thông tin cá nhân.
  • + 01 (một) GPLX số [...], cấp ngày 10/8/2023 mang tên Triệu Văn P1. Kèm biên bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe của Sở giao thông vận tải tỉnh C đề ngày 06/8/2023; Đơn đề nghị học, sát hạch để cấp GPLX và giấy khám sức khoẻ không có thông tin cá nhân.
  • + 01 (một) GPLX số [...], cấp ngày 10/8/2023 mang tên Triệu Văn D1. Kèm biên bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe của Sở giao thông vận tải tỉnh C đề ngày 06/8/2023; Đơn đề nghị học, sát hạch để cấp GPLX và giấy khám sức khoẻ không có thông tin cá nhân.
  • + 01 (một) GPLX số [...], cấp ngày 15/9/2023 mang tên Lê Minh H1. Kèm biên bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe của Trung tâm D2 và sát hạch lái xe trường Cao đẳng giao thông vận tải, Bộ C1; Đơn đề nghị học, sát hạch để cấp GPLX và giấy khám sức khoẻ không có thông tin cá nhân.
  • + 01 (một) GPLX số [...], cấp ngày 26/9/2023 mang tên Lầu Thị D. Kèm biên bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe mô tô của Trung tâm D2 và sát hạch lái xe, trường Cao đẳng G, Bộ C1; Đơn đề nghị học, sát hạch để cấp GPLX và giấy khám sức khoẻ không có thông tin cá nhân.
  • + 01 (một) GPLX số [...], cấp ngày 26/9/2023 mang tên Lầu Thị X. Kèm biên bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe mô tô của Trung tâm D2 và sát hạch lái xe, trường Cao đẳng G, Bộ C1; Đơn đề nghị học, sát hạch để cấp GPLX và giấy khám sức khoẻ không có thông tin cá nhân.
  • + 01 (một) GPLX số [...], cấp ngày 26/9/2023 mang Triệu Thị N. Kèm biên bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe mô tô của Trung tâm D2 và sát hạch lái xe, trường Cao đẳng G, Bộ C1; Đơn đề nghị học, sát hạch để cấp GPLX và giấy khám sức khoẻ không có thông tin cá nhân.
  • - Tịch thu, phát mại sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu REDMI 9A màu xanh đen, cố số IMEI 1: 86474805419122/78, số IMΕΙ 2: 86474805341930/78, bên trong có gắn 02 thẻ sim điện thoại gồm 01 sim có thuê bao 0852026837 và 01 sim có số thuê bao 0795212133.
  • - Tịch thu, sung công quỹ nhà nước số tiền 9.100.000,₫ (chín triệu một trăm nghìn đồng) bị cáo đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch An do liên quan đến hành vi phạm tội.

Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

- Bản luận cứ bào chữa của trợ giúp viên pháp lý thể hiện nội dung sau:

Về tội danh và khung hình phạt: Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch An truy tố bị cáo Nông Thị H về “Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 341 Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng pháp luật, người bào chữa nhất trí với truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch An về tội danh và khung hình phạt. Tuy nhiên, về mức hình phạt và loại hình phạt kính đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các căn cứ sau để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nông Thị H.

Thứ nhất, bị cáo Nông Thị H có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên toà hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo nhận thức được hậu quả của hành vi làm giả giấy tờ do mình gây ra nên bị cáo đã tự nguyện nộp vào Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch An số tiền 9.000.000,₫ (chín triệu đồng) để khắc phục hậu quả nên được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo là người dân tộc Dao, trình độ văn hóa thấp học lớp 3/12, cư trú tại xóm N, xã V, huyện T, tỉnh Cao Bằng theo Quyết định 861/QĐ-TTg ngày 4/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ thuộc xã vùng III - vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn dẫn đến nhận thức pháp luật và nhận thức xã hội của bị cáo còn thấp và hạn chế nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Thứ hai, về nhân thân của bị cáo: Bị cáo H là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú, ổn định rõ ràng. Bị cáo là trụ cột, lao động chính trong gia đình, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo.

Thứ ba, về tính chất và mức độ tham gia phạm tội của bị cáo: Bị cáo H nhận đặt mua GPLX trên mạng cho người khác mục đích nhằm hưởng chênh lệnh.Bị cáo không phải là người trực tiếp và không thể tự làm giả được GPLX. Bị cáo không phải tham gia với vai trò là người chủ mưu, cầm đầu. Do đó, về tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo H là ít nguy hiểm hơn người đầu vụ trực tiếp làm giả và bán GPLX giả trên mạng.

Về án phí: Bị cáo thuộc diện được miễn án phí hình sự sơ thẩm đã có đơn xin miễn án phí và tài liệu chứng minh kèm theo.

Từ các phân tích trên kính mong Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 3 Điều 341 Bộ luật hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 65 Bộ luật hình sự tuyên xử bị cáo Nông Thị H 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo; miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

- Tại phần tranh luận, bị cáo Nông Thị H nhất trí với ý kiến của trợ giúp viên pháp lý tại bản luận cứ bào chữa.

Bị cáo có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên: Bị cáo nhận thấy bị cáo đủ điều kiện để hưởng án treo bởibị cáo thuộc hộ nghèo; bị cáo đã khắc phục hậu quả bằng việc nộp lại số tiền 9.100.000,₫ (chín triệu một trăm nghìn đồng) tại cơ quan thi hành án dân sự huyện; bị cáo đã ăn năn hối cải và là người có trình độ dân trí thấp không biết hành vi của mình là sai.

Khi được nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm quay trở về với gia đình và cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về các hành vi và quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện T, tỉnh Cao Bằng; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về tư cách tham gia tố tụng:

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2024/QĐXXST- HS ngày 22/7/2024 của Toà án nhân dân huyện Thạch An, Lê Minh H1, Triệu Thị Thùy T, Lầu Thị D, Lầu Thị X, Triệu Văn C (Triệu Văn T1), Triệu Văn P1, Triệu Văn D1, Triệu Thị N tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, qua nghiên cứu toàn diện các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà nhận thấy 08 (tám) cá nhân này đều là những người nhờ bị cáo làm GPLX giả qua Facebook. Lê Minh H1, Lầu Thị D, Lầu Thị X, Triệu Văn C (Triệu Văn T1), Triệu Văn P1, Triệu Văn D1, Triệu Thị N mỗi người đều đã thanh toán số tiền 1.300.000,₫ (một triệu ba trăm nghìn đồng) cho bị cáo H. Việc những cá nhân này nhờ bị cáo H làm GPLX trên mạng xã hội Facebook mà không qua kỳ thi sát hạch lái xe là vi phạm quy định về việc cấp phép GPLX. Tại cơ quan điều tra, chưa ghi nhận ý kiến của Lê Minh H1 về số tiền 1.300.000,₫ (một triệu ba trăm nghìn đồng) còn đối với Lầu Thị D, Lầu Thị X, Triệu Văn C (Triệu Văn T1), Triệu Văn P1, Triệu Văn D1, Triệu Thị N trong đơn xin xét xử vắng mặt đều không yêu cầu gì đối với số tiền 1.300.000,₫ (một triệu ba trăm nghìn đồng). Việc các cá nhân làm GPLX qua Facebook là vi phạm quy định về việc cấp phép GPLX nên số tiền 1.300.000,₫ (một triệu ba trăm nghìn đồng) không trả lại cho họ mà sung công quỹ nhà nước. Đối với Triệu Thị Thùy T được bị cáo H làm GPLX giả cho mà không phải trả khoản tiền nào bởi bị cáo nói với T việc T2 (em trai T) đã gửi tiền cho bị cáo H để làm GPLX. T cũng nhận thức được việc làm GPLX như vậy là giả. Do đó, trong vụ án này Lê Minh H1, Triệu Thị Thùy T, Lầu Thị D, Lầu Thị X, Triệu Văn C (Triệu Văn T1), Triệu Văn P1, Triệu Văn D1, Triệu Thị N được xác định lại là người làm chứng.

[3.]. Về sự vắng mặt của Lê Minh H1, Lầu Thị D, Lầu Thị X, Triệu Văn C (Triệu Văn T1), Triệu Văn P1, Triệu Văn D1, Triệu Thị N

Theo như phân tích ở mục [2] thì Lê Minh H1, Lầu Thị D, Lầu Thị X, Triệu Văn C (Triệu Văn T1), Triệu Văn P1, Triệu Văn D1, Triệu Thị N tham gia tố tụng với tư cách người làm chứng. Họ đã có lời khai trong hồ sơ vụ án nên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án.

[4]. Về tội danh: Tại cơ quan điều tra cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung biên bản khám xét; lời khai của người làm chứng; kết luận giám định;vật chứng cùng các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định: Trong tháng 09/2023 và tháng 10/2023, Nông Thị H đã sử dụng tài khoản Facebook "Hoa Nông” để liên lạc với tài khoản Facebook “Hoàng P3" và “Phát” 03 (ba) lần, đặt làm 08 (tám) GPLX giả cho 08 (tám) người gồm Triệu Thị Thùy T; Lê Minh H1; Lầu Thị D; Lầu Thị X; Triệu Văn T1; Triệu Văn P1; Triệu Văn D1; Triệu Thị N với giá 1.300.000,₫ (một triệu ba trăm nghìn đồng)/01 GPLX nhằm thu lợi bất chính.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi cố ý; động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo để vụ lợi cá nhân của bản thân. Hành vi của bị cáo Nông Thị H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” được quy định tại Điều 341 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Nông Thị H về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 341 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Bị cáo đã làm giả các giấy phép lái xe của Sở Giao thông vận tải tỉnh C với hình thức thu thập các hình ảnh chụp căn cước công dân, ảnh chụp chân dung của những người có nhu cầu làm giấy phép lái xe rồi gửi, đặt làm với các đối tượng trực tiếp làm giả trên mạng xã hội Facebook. Với mỗi giấy phép lái xe, bị cáo đều thu tiền của những người có nhu cầu làm GPLX lớn hơn, qua đó trích lại phần tiền chênh lệch để hưởng lợi. Việc bị cáo đặt làm giả các giấy phép lái xe cho người sử dụng mà không cần phải làm thủ tục thi sát hạch để được cấp giấy phép lái xe theo quy định đã xâm phạm đến sự hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức mà trực tiếp trong vụ án này là Sở Giao thông vận tải tỉnh C, xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính nhà nước về con dấu, tài liệu.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nên cần phải được xử lý nghiêm minh, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Điều 341 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định:

“1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

a)

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Làm 06 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác trở lên;

b)............................”.

[5]. Về nhân thân; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự củabị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo H là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội. Ngày 21/02/2024, bị cáo H đã tự nguyện nộp số tiền 9.100.000,₫ (chín triệu một trăm nghìn đồng) tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch An để khắc phục hậu quả nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Bản thân bị cáo là trụ cột gia đình. Bị cáo cũng là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn. Đây được coi là các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6]. Về hình phạt chính:

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo H từ 03 năm đến 04 năm tù. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 Điều 51 và tình tiết giảm nhẹ ở khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên mức khởi điểm của khung hình phạt là tương xứng với tính chất mức độ phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Bị cáo là người có nhân thân tốt; không có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và có nơi cư trú ổn định, rõ ràng. Do vậy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà vẫn đảm bảo giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

[7]. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, tại khoản 4 Điều 341Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) còn quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng...”. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Do vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8]. Về xử lý vật chứng:

Đối với chiếc điện thoại di động đã tạm giữ của bị cáo, xét thấy chiếc điện thoại này là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, phát mại sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với 08 (tám) GPLX mô tô giả, xét thấy các giấy phép lái xe này không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu huỷ.

[9]. Các vấn đề khác:

Đối với 08 (tám) cá nhân nhờ bị cáo làm GPLX đều chỉ cất giữ tại nhà, chưa sử dụng đến nên cơ quan điều tra không xử lý hình sự về hành vi Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức là có căn cứ.

Liên quan đến vụ án còn có người sử dụng Facebook "Hoàng Phong" và “Phát” tuy nhiên bị cáo không có thông tin về tên, tuổi, địa chỉ, số điện thoại của những người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ mở rộng điều tra.

Đối với số tiền 9.100.000,₫ (chín triệu một trăm nghìn đồng) bị cáo đã tự nguyện nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch An: Xét thấy đây là số tiền bị cáo thu của các cá nhân làm GPLX, do vậy cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

[10]. Về án phí: Theo hồ sơ vụ án, bị cáo H là người dân tộc Dao, cư trú tại xóm N, xã V, huyện T, tỉnh Cao Bằng thuộc khu vực III theo Quyết định số: 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh sách các xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2025. Bị cáo có đơn xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được miễn án phí hình sự sơ thẩm. Do vậy, bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

[11]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1.Tuyên bố: Bị cáo Nông Thị H phạm tội "Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức".

Căn cứ: điểm a khoản 3 Điều 341; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nông Thị H 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 27/9/2024). Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh Cao Bằng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Tịch thu, sung công quỹ nhà nước số tiền 9.100.000,₫ (chín triệu một trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002184 ngày 21/02/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử:

- Tịch thu, tiêu hủy:

  • + 01 (một) GPLX số [...], cấp ngày 10/8/2023 mang tên Triệu Văn C. Kèm biên bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe của Sở giao thông vận tải tỉnh C đề ngày 06/8/2023; Đơn đề nghị học, sát hạch để cấp GPLX và giấy khám sức khoẻ không có thông tin cá nhân.
  • + 01 (một) GPLX số [...], cấp ngày 10/8/2023 mang tên Triệu Thị Thùy T. Kèm biên bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe của Sở giao thông vận tải tỉnh C đề ngày 06/8/2023; Đơn đề nghị học, sát hạch để cấp GPLX và giấy khám sức khoẻ không có thông tin cá nhân.
  • + 01 (một) GPLX số [...], cấp ngày 10/8/2023 mang tên Triệu Văn P1. Kèm biên bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe của Sở giao thông vận tải tỉnh C đề ngày 06/8/2023; Đơn đề nghị học, sát hạch để cấp GPLX và giấy khám sức khoẻ không có thông tin cá nhân.
  • + 01 (một) GPLX số [...], cấp ngày 10/8/2023 mang tên Triệu Văn D1. Kèm biên bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe của Sở giao thông vận tải tỉnh C đề ngày 06/8/2023; Đơn đề nghị học, sát hạch để cấp GPLX và giấy khám sức khoẻ không có thông tin cá nhân.
  • + 01 (một) GPLX số [...], cấp ngày 15/9/2023 mang tên Lê Minh H1. Kèm biên bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe của Trung tâm D2 và sát hạch lái xe trường Cao đẳng giao thông vận tải, Bộ C1; Đơn đề nghị học, sát hạch để cấp GPLX và giấy khám sức khoẻ không có thông tin cá nhân.
  • + 01 (một) GPLX số [...], cấp ngày 26/9/2023 mang tên Lầu Thị D. Kèm biên bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe mô tô của Trung tâm D2 và sát hạch lái xe, trường Cao đẳng G, Bộ C1; Đơn đề nghị học, sát hạch để cấp GPLX và giấy khám sức khoẻ không có thông tin cá nhân.
  • + 01 (một) GPLX số [...], cấp ngày 26/9/2023 mang tên Lầu Thị X. Kèm biên bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe mô tô của Trung tâm D2 và sát hạch lái xe, trường Cao đẳng G, Bộ C1; Đơn đề nghị học, sát hạch để cấp GPLX và giấy khám sức khoẻ không có thông tin cá nhân.
  • + 01 (một) GPLX số [...], cấp ngày 26/9/2023 mang Triệu Thị N. Kèm biên bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe mô tô của Trung tâm D2 và sát hạch lái xe, trường Cao đẳng G, Bộ C1; Đơn đề nghị học, sát hạch để cấp GPLX và giấy khám sức khoẻ không có thông tin cá nhân.
  • Tịch thu, phát mại sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu REDMI 9A màu xanh đen, cố số IMEI 1: 86474805419122/78, số IMΕΙ 2: 86474805341930/78, bên trong có gắn 02 thẻ sim điện thoại gồm 01 sim có thuê bao 0852026837 và 01 sim có số thuê bao 0795212133, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Số IMEI và số thuê bao theo Quyết định chuyển vật chứng, do điện thoại không khởi động được nên không kiểm tra được số IMEI và số thuê bao bên trong máy. Qua kiểm tra thực tế 01 sim có dãy số cuối trên sim là 92401 và 01 sim có dãy số cuối trên sim là 3110.

Xác nhận số vật chứng này hiện nay đang nằm tại kho tang vật của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sảnsố 15 ngày 24/5/2024.

3.Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Bị cáo Nông Thị H được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Cao Bằng;
  • - VKSND tỉnh Cao Bằng;
  • - VKSNDh. Thạch An;
  • - THADS h. Thạch An;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quỳnh Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH AN - TỈNH CAO BẰNG về làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 23/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH AN - TỈNH CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nông Thị Hoa - Làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger