|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG XUÂN TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 23/2024/HS-ST Ngày 26/09/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG XUÂN, TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Ngọc Trung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Anh và ông Nguyễn Thái Sơn
Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Trang – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện VKSND huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên tham gia phiên toà: Ông Trình Ngọc T - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 09 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên, mở phiên toà công khai để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 20/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 08 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 09 năm 2024 đối với bị cáo:
Trịnh Thị D; Tên gọi khác: Không; giới tính: Nữ; sinh năm: 1973, tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn P - xã X- huyện Đ - tỉnh Phú Yên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 5/12; Con ông Trịnh L (chết) và bà Nguyễn Thị S (chết); Chồng: Trần Văn H - SN: 1960; Bị cáo có 03 con: Lớn sinh năm 1990, nhỏ sinh năm 2006.
- - Tiền án, tiền sự: Không;
- - Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/7/2024 đến ngày 14/9/2024 tại xã X- huyện Đ.
* Bị hại: Bà Bùi Thị T1, sinh năm 1972; trú tại: Thôn P, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- - Nguyễn Tấn P, sinh năm: 1972; trú tại: KP L, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Phú Yên.
- - Lê Thị Mỹ D1, sinh năm: 1987; trú tại: 8 L, phường E, TP T, tỉnh Phú Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19h50' ngày 14/6/2024,Trịnh Thị D đang ở nhà tại thôn P - xã X- huyện Đ thì thấy nhà của chị Bùi Thị T1 ở cùng thôn không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. D đi vào nhà chị T1 nhưng không thấy tài sản gì nên D về nhà. Khoảng 05 phút sau, D tiếp tục đột nhập vào phòng ngủ nhà chị T1 thấy chiếc ví da để trên đầu giường nên D mở ví lấy 167.000 đồng rồi đi về nhà của mình. Đến khoảng 20h20' cùng ngày, D tiếp tục vào phòng ngủ nhà chị T1 mở tủ sắt lấy trộm số tiền 10.000.000 đồng đang để bên trong túi xách. Sau đó, D mang toàn bộ số tiền về nhà mình cất giấu. Đến ngày 15/6/2024, D đi đến khu phố L - thị trấn L - huyện Đ mua một chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng với số tiền 7.440.000 đồng tại tiệm vàng của ông Nguyễn Tấn P và mua một số đồ tạp hóa với số tiền 227.000 đồng tại tiệm tạp hóa của chị Lê Thị Mỹ D1. Số tiền 2.500.000 đồng còn lại, D1 mang về nhà cất giấu.
Tại bản cáo trạng số: 20/CT-VKSĐX ngày 30/08/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên truy tố bị cáo Trịnh Thị Dung về tội: "Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.
Kiểm sát viên luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng. Kết luận bị cáo Trịnh Thị D phạm tội: "Trộm cắp tài sản”. Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
Đề nghị HĐXX xem xét áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo từ 06- 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12- 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã X 3 giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 Luật thi hành án hình sự. Nếu trong thời gian thử thách bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ của người được hưởng án treo có thể bị buộc chấp hành hình phạt tù theo quy định tại điều 65 BLHS.
- Về vật chứng vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS.
* Tịch thu tiêu huỷ các vật chứng sau:
- - 01 (một) ví da nữ màu hồng đậm có dây kéo bị hỏng không rõ nhãn hiệu, kích thước (21 x 10 x 02)cm.
- - 01 (một) cái áo cộc tay, sát nách nữ bằng vải thun màu xanh đen, in hoa văn hình bông hoa màu đỏ cam và xanh đã qua sử dụng.
- - 01 (một) quần đùi lững, lưng thun, vải thun màu xanh đen, in hoa văn hình bông hoa màu đỏ cam và xanh đã qua sử dụng.
- - 01 (một) đôi dép bằng nhựa, màu đen, quai ngang, size 38-39, trên quai dép có gắn hoạ tiết hình bướm bằng kim loại, mặt trên đế dép màu xám, gót có khắc chữ Fashion.
* Trả lại cho bị cáo Trịnh Thị D số tiền 7.215.000 đồng
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trịnh Thị D đã tự nguyện bồi thường số tiền 10.167.000 đồng cho bị hại Bùi Thị T1. Bị hại không yêu cầu gì thêm, nên đề nghị HĐXX không xem xét.
Đối với Nguyễn Tấn P và Lê Thị Mỹ D1: Không biết Trịnh Thị D dùng số tiền trộm cắp được để mua hàng hóa của mình nên không vi phạm pháp luật.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung bản Cáo trạng; bị cáo xin tòa xem xét, giảm nhẹ hình phạt. Bị hại Bùi Thị T1 đã nhận lại tài sản, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo, các chứng cứ xác định tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo Trịnh Thị D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại về thời gian, địa điểm phạm tội và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Trong khoảng thời gian từ 19h50’đến 20h20' ngày 14/6/2024, tại thôn P - xã X- huyện Đ, Trịnh Thị D đã có hành vi lén lút lấy trộm số tiền 10.167.000 đồng của chị Bùi Thị T1.
[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: Do ở gần nhà, nên D biết được quy luật sinh hoạt của gia đình chị T1, Lợi dụng lúc gia đình chị Thanh vắng nhà, D đã lén lút vào nhà chị Bùi Thị T1 lấy trộm tài sản của chị T1 để tiêu sài cá nhân. Hành vi nêu trên của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân ở địa phương; Vì vậy, cần xử phạt nghiêm đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
Tuy nhiên quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại do mình gây ra; Bị hại đã nhận lại tài sản và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt; Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn: Bị di chứng mạch máu não; Bệnh lý tăng huyết áp; Bệnh đái tháo đường không phụ thuộc insuline; Bệnh tăng huyết áp vô căn; Hội chứng mạch máu não trong bệnh mạch não khác; liệt nửa người; Hội chứng mạch máu não trong bệnh mạch não. Vì vậy cần áp dụng các điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xem xét giảm nhẹ phần nào cho bị cáo, để bị cáo thấy được tính khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo tốt. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, nên áp dụng Điều 65 BLHS, không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS.
* Tịch thu tiêu huỷ các vật chứng sau:
- - 01 (một) ví da nữ màu hồng đậm có dây kéo bị hỏng không rõ nhãn hiệu, kích thước (21 x 10 x 02)cm.
- - 01 (một) cái áo cộc tay, sát nách nữ bằng vải thun màu xanh đen, in hoa văn hình bông hoa màu đỏ cam và xanh đã qua sử dụng.
- - 01 (một) quần đùi lững, lưng thun, vải thun màu xanh đen, in hoa văn hình bông hoa màu đỏ cam và xanh đã qua sử dụng.
- - 01 (một) đôi dép bằng nhựa, màu đen, quai ngang, size 38-39, trên quai dép có gắn hoạ tiết hình bướm bằng kim loại, mặt trên đế dép màu xám, gót có khắc chữ Fashion.
* Trả lại cho bị cáo Trịnh Thị D số tiền 7.215.000 đồng
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo Trịnh Thị D đã tự nguyện bồi thường số tiền 10.167.000 đồng cho bị hại Bùi Thị T1. Bị hại không yêu cầu gì thêm, nên HĐXX không xem xét.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Xuân phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Thị D phạm tội: "Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trịnh Thị D 09 (Chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho UBND xã X 3 giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 Luật thi hành án hình sự. Nếu trong thời gian thử thách bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ của người được hưởng án treo có thể bị buộc chấp hành hình phạt tù theo quy định tại điều 65 BLHS.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu huỷ các vật chứng sau:
- - 01 (một) ví da nữ màu hồng đậm có dây kéo bị hỏng không rõ nhãn hiệu, kích thước (21 x 10 x 02)cm.
- - 01 (một) cái áo cộc tay, sát nách nữ bằng vải thun màu xanh đen, in hoa văn hình bông hoa màu đỏ cam và xanh đã qua sử dụng.
- - 01 (một) quần đùi lững, lưng thun, vải thun màu xanh đen, in hoa văn hình bông hoa màu đỏ cam và xanh đã qua sử dụng.
- - 01 (một) đôi dép bằng nhựa, màu đen, quai ngang, size 38-39, trên quai dép có gắn hoạ tiết hình bướm bằng kim loại, mặt trên đế dép màu xám, gót có khắc chữ Fashion.
Trả lại cho bị cáo Trịnh Thị D số tiền 7.215.000 đồng (Bảy triệu hai trăm mười lăm nghìn đồng).
(Đặc điểm, tình trạng vật chứng như mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 04/09/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Xuân).
* Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo Trịnh Thị D đã tự nguyện bồi thường số tiền 10.167.000 đồng cho bị hại Bùi Thị T1. Bị hại không yêu cầu gì thêm, nên HĐXX không xem xét.
* Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Trịnh Thị D phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
* Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Ngọc Trung |
Bản án số 23/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG XUÂN, TỈNH PHÚ YÊN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 23/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG XUÂN, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp TS
