TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 23/2024/HS - ST Ngày: 17 - 4 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Nhường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nông Khắc Huy.
Bà Phạm Thị Hồng Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Nam Thái - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Minh Trang - Chức danh: Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại nhà văn hóa tổ dân phố V1, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2024/TLST - HS, ngày 26 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Dương Thị L, sinh ngày 20/7/1968. Tên gọi khác: Không.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm T, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Dương Văn H và bà Phạm Thị V; Gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; có chồng là Trần Danh Q, sinh năm 1968 và có 02 con chung; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 42/2015/HS-ST ngày 28/5/2015 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Dương Thị L 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong bản án ngày 20/9/2020.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/12/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên - bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người chứng kiến:
Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1977/ vắng mặt.
Trú tại: Tổ C, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 08 giờ 50 phút ngày 29/12/2023 tổ công tác Công an huyện Đ phối hợp cùng Công an xã V làm nhiệm vụ tại xóm T, xã V, huyện Đ, phát hiện một người phụ nữ đang đi bộ trên đường có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, người phụ nữ đã chấp hành và khai họ tên là Dương Thị L (sinh năm 1968, trú tại xóm T, xã V, huyện Đ) đồng thời tự giác lấy từ trong túi áo đang mặc ra 01 gói giấy bạc màu vàng, bên trong có chứa chất bột màu trắng (L khai là Heroine) giao nộp. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Dương Thị L và thu giữ vật chứng theo quy định.
Tiến hành cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ của Dương Thị L là 0,162 gam. Lấy toàn bộ làm mẫu giám định gửi Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, ký hiệu: A1.
Tại bản Kết luận giám định số 154/KL-KTHS ngày 06/01/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận: Chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy; loại: Heroine; có khối lượng là: 0,162 gam.
Quá trình điều tra xác định được: Bản thân Dương Thị L là người nghiện chất ma túy. Khoảng 08 giờ ngày 29/12/2023, Dương Thị L một mình đi bộ từ nhà đến khu vực đầu cầu treo V thuộc xóm T, xã V, huyện Đ để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Đến nơi, Dương Thị L gặp một người đàn ông khoảng 45 tuổi (không biết tên, địa chỉ) và hỏi mua của người này 01 gói Heroine được gói trong một gói giấy bạc màu vàng, với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được Heroine, L cất vào trong túi áo khoác đang mặc rồi đi bộ về. Khi đi đến khu vực đường dân sinh thuộc xóm T, xã V, huyện Đ thì bị tổ công tác Công an huyện Đ phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng như nêu trên.
Vật chứng vụ án: 02 phong bì niêm phong ký hiệu A1 và LK.
Tại phiên tòa bị cáo Dương Thị L đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo xác định mục đích mua ma túy về sử dụng cho bản thân, không có ý định bán lại kiếm lời và trước đó bị cáo cũng chưa bán ma túy cho ai.
Bản cáo trạng số 21/CT -VKSĐ ngày 25/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Dương Thị L ra trước TAND huyện Đồng Hỷ để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Kết thúc phần xét hỏi đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, nhân thân của bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Dương Thị L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Dương Thị L từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù.
- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Dương Thị L.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy 02 phong bì niêm phong ký hiệu A1, LK.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về án, lệ phí buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt thấp nhất cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập được trong hồ sơ vụ án như: Biên bản phạm tội quả tang, biên bản cân xác định trọng lượng và lấy mẫu giám định, Bản kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các chứng cứ tài liệu khác của vụ án được thu thập trong quá trình điều tra.
Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Hồi 08 giờ 50 phút ngày 29/12/2023, tại khu vực đường dân sinh thuộc xóm T, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Dương Thị L đang có hành vi tàng trữ 0,162 gam Heroine để sử dụng cho bản thân thì bị Công an huyện Đ phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng có liên quan.
Hành vi nêu trên của bị cáo Dương Thị L đã phạm vào Tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Nội dung Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) ... Heroine ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”.
Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 BLHS viện dẫn ở trên.
[2] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi phạm tội của bị cáo Dương Thị L là hành vi nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng; xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về ma túy, làm tệ nạn ma túy diễn biến ngày càng phức tạp khiến dư luận quần chúng bất bình. Vì ma túy là nguồn gốc của nhiều loại tội phạm, con đường lây nhiễm nhiều bệnh nan y, là nguyên nhân làm tan vỡ hạnh phúc gia đình. Mặt khác ma túy còn hủy hoại sức khỏe, kinh tế của chính người nghiện. Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, vì vậy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục thành người lương thiện, đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung đối với mọi người.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan Cảnh sát điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn nhận tội, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do đó trong lượng hình, HĐXX đã có xem xét giảm nhẹ phần nào mức hình phạt đối với bị cáo.
[3] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thấy bị cáo mua ma túy về sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích bán cho người khác thu lời bất chính và bị cáo không có điều kiện, khả năng thi hành án nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
[4] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì niêm phong ký hiệu A1, LK.
[5] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt chính là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
[6] Về nguồn gốc ma túy (Hêrôin) bị cáo khai mua ma túy của một người đàn ông không rõ họ tên, tuổi, địa chỉ, do vậy cơ quan Cảnh sát điều tra không có cơ sở để mở rộng điều tra vụ án.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước, theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8]Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[9] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
[1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Thị L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
[2]. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Dương Thị L 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/12/2023.
Áp dụng Điều 329 BLTTHS ra quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án.
[3]. Về xử lý vật chứng. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu A1, LK. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/4/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra của Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ).
[4]. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Dương Thị L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đỗ Hữu Nhường |
Bản án số 23/2024/HS - ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự: tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 23/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập được trong hồ sơ vụ án như: Biên bản phạm tội quả tang, biên bản cân xác định trọng lượng và lấy mẫu giám định, Bản kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các chứng cứ tài liệu khác của vụ án được thu thập trong quá trình điều tra. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Hồi 08 giờ 50 phút ngày 29/12/2023, tại khu vực đường dân sinh thuộc xóm T, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Dương Thị L đang có hành vi tàng trữ 0,162 gam Heroine để sử dụng cho bản thân thì bị Công an huyện Đ phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng có liên quan.
