Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ QUẢNG TRỊ

TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 23/2024/HS-ST

Ngày: 16-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phương Tiến.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Võ Thị Nguyệt Ánh.

Bà Nguyễn Thị Thu Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Liên - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị tham gia phiên Tòa: Bà Trần Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 22/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Trần Bình H, sinh ngày 17/8/1988, tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn 12/12; nghề nghiệp: Nhân viên dự án M1; con ông: Trần Khánh D, sinh năm 1952 (đã chết), con bà Đặng Thị Ánh T, sinh năm 1950; vợ Nguyễn Thị H1, sinh năm 1993; có 02 con, con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2024. Tiền án; tiền sự: Không.
  2. Bị cáo đang bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Quảng Trị, từ ngày 06/5/2024 cho đến nay. Có mặt.

  3. Từ Minh H2 (tên gọi khác: R), sinh ngày 17/10/1990, tại tỉnh Quảng Trị; nơi thường trú: Khu phố C, Phường A, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Từ Văn N, sinh năm 1965, con bà: Nguyễn Thị L, sinh năm 1969; vợ: Trần Thị T1, sinh năm: 1992; có 01 con sinh năm 2019. Tiền án; tiền sự: Không.
  4. Bị cáo đang bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Quảng Trị, từ ngày 06/5/2024 cho đến nay. Có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1968, trú tại: Khu phố D, Phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 21 giờ 00 phút ngày 05/5/2024, tại sân đa chức năng thuộc khu phố C, phường A, thị xã Q, Trần Bình H gặp Từ Minh H2 nên đã rủ H2 góp tiền về nhà nghỉ S ở đường T thuộc khu phố D, phường C, thị xã Q do bà Nguyễn Thị L1 (Sinh năm 1968, trú tại xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị) quản lý để cùng nhau sử dụng ma túy. H trực tiếp thuê 01 phòng rồi cùng H2 góp mỗi người 100.000 đồng, H2 cầm 200.000 đồng đi đến nghĩa trang T2 ở đường T gặp người thanh niên tên C để mua 04 viên ma túy loại hồng phiến. H2 cầm túi nilon có chứa 04 viên ma túy để ở giường của phòng nghỉ rồi đi ra khu vực hành lang, đi tới vị trí cuối dãy thì thấy trong sọt rác có 01 chai nhựa, trên thân có đục 01 lỗ và gắn sẵn 1 ống được quấn bằng tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng nên liền lấy đem vào phòng để làm công cụ sử dụng ma túy. H2 mở túi nilon lấy ra 03 viên ma túy đặt ở giữa giường để cùng H sử dụng, còn 01 viên thì vẫn để ở trong túi nilon. Khi H2 và H vừa sử dụng hết 01 viên thì bị Tổ công tác của Đội CSĐTTP về HSKTMT Công an thị xã Q kiểm tra. Lo sợ bị phát hiện nên H liền cầm 02 viên ma túy chưa kịp sử dụng chạy vào bồn cầu trong nhà vệ sinh để dội nước trôi xuống, đồng thời vứt dụng cụ sử dụng vào sọt rác, còn H2 lấy túi nilon có chứa 01 viên ma túy cất vào túi quần jean đang mang. Sau khi bị tổ Tuần tra kiểm tra, H2 tự nguyện lấy ra 01 viên ma túy vừa cất giấu, H2 và H bị Công an lập biên bản phạm tội quả tang về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Tại Kết luận giám định số 555/KL-KTHS, ngày 10/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận:

“01 viên nén màu hồng đựng trong túi niêm phong có ký hiệu NS3 2141797 gửi đến giám định là ma túy loại methamphetamine. Khối lượng mẫu là 0,1008g”.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, STT: 247 Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất”.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ các vật chứng, đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ án như sau:

  • - 01 viên nén màu hồng thu giữ khi bắt quả tang.
  • - 01 túi nilon trong suốt, kích thước (2,2x2) cm.
  • - 01 bật lửa màu vàng trên thân có chữ “HAРНО.СО”.
  • - 01 bật lửa màu đỏ trên thân có chữ “H-VIET”.
  • - 01 chai nhựa trong suốt, cao 18cm, đường kính đáy 05cm, cách đáy 4cm trên thân chai có đục 01 lỗ tròn đường kính 0,6cm.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màu xanh đen, số imei 1: 860750041379313, số imei 2: 860750041379305, kèm theo một thẻ sim điện thoại mã số 8984048000077690715.
  • - 01 tờ tiền có mệnh giá 1.000 đồng, có số seri ZT8892793 (không còn nguyên vẹn).

Xét nghiệm nước tiểu của các bị cáo tại Phiếu kết quả ngày 06/5/2024 cho kết quả dương tính với M.

Cáo trạng số 22/CT-VKS-TXQT ngày 30/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị đã truy tố bị cáo Từ Minh H và Trần Bình H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Qua xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng tuyên bố:

Bị cáo Trần Bình H và Từ Minh H2 về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt 24 (hai mươi bốn) tháng đến 30 (ba mươi) tháng tù đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy:

01 viên nén màu hồng thu giữ khi bắt quả tang; 01 túi nilon trong suốt, kích thước (2,2x2) cm; 01 bật lửa màu vàng trên thân có chữ “НАРНО.CO”; 01 bật lửa màu đỏ trên thân có chữ “H-VIET”; 01 chai nhựa trong suốt, cao 18cm, đường kính đáy 05cm, cách đáy 4cm trên thân chai có đục 01 lỗ tròn đường kính 0,6cm;

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:

01 tờ tiền có mệnh giá 1.000 đồng, có số seri ZT8892793 (không còn nguyên vẹn).

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đề nghị tuyên bị cáo Từ Minh H2, Trần Bình H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo không tranh luận gì, thừa nhận hành vi phạm tội của mình và nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Quảng Trị, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Qua xem xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:

Vào khoảng 22 giờ ngày 05/5/2024, tại phòng nghỉ của nhà nghỉ S thuộc Khu phố D, Phường C, thị xã Q, Trần Bình H và Từ Minh H2 đã có hành vi cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép ma túy. H là người khởi sướng và trực tiếp thuê phòng nghỉ, rồi cùng H2 góp mỗi người 100.000 đồng, H3 là người trực tiếp cầm tiền đi mua ma túy và tìm kiếm công cụ sử dụng ma túy. Cả 02 đã sử dụng hết 01 viên ma túy, thì bị Tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về HSKTMT Công an thị xã Q kiểm tra. Lo sợ bị phát hiện nên H2 cất vào túi quần jean đang mang 01 viên ma túy, H đã lấy 02 viên ma túy vứt vào vào bồn cầu trong nhà vệ sinh rồi dội nước xuống, đồng thời vứt dụng cụ sử dụng vào sọt rác. Cả 02 bị cáo được xét nghiệm đều dương tính với chất ma túy.

Tại Kết luận giám định số 555/KL-KTHS ngày ngày 10/5/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Q kết luận: “01 viên nén màu hồng đựng trong túi niêm phong có ký hiệu NS3 2141797 gửi đến giám định là ma túy loại methamphetamine. Khối lượng mẫu là 0,1008g”. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, STT: 247 Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất”.

Xét thấy hành vi chuẩn bị địa điểm, góp tiền mua ma túy, chuẩn bị dụng cụ để cùng sử dụng ma túy của Trần Bình H, Từ Minh H2 đủ yếu tố cấu thành tội “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị truy tố bị cáo Trần Bình H, Từ Minh Hiền về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội danh và điều khoản áp dụng.

H là người khởi xướng rủ H2 góp tiền sử dụng ma túy và tìm thuê phòng nghỉ để sử dụng, còn H2 là người trực tiếp cầm tiền đi mua ma túy về sử dụng và tìm kiếm dụng cụ để sử dụng ma túy. Xét thấy vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn. (Điều 17 Bộ luật Hình sự)

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Các bị cáo Trần Bình H, Từ Minh H2 là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, thấy rõ tác hại của việc sử dụng ma túy có khả năng gây nghiện mạnh, nguy hiểm cho sức khỏe của con người, nhưng lại cố ý tụ tập thực hiện. Hành vi nêu trên của Trần Bình H, Từ M thuộc trường hợp nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ quản lý Nhà nước về chất ma túy mà còn gây ra nhiều tệ nạn, ảnh hướng xấu đến trật tự, an toàn xã hội. Để đẩy lùi tệ nạn ma túy và các tệ nạn xã hội khác, cần phải xử lý nghiêm đối với hành vi phạm tội của các bị cáo theo quy định của pháp luật để răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thần khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo Trần Bình H có bố, mẹ là người đã tham gia cách mạng trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước và được Nhà nước ghi nhận tặng thưởng nhiều Huân, Huy chương kháng chiến, nên bị cáo được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, khi lượng hình HĐXX cần xem xét áp dụng hình tương xứng với hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo.

[5] Về vấn đề khác:

Đối với đối tượng tên C, là người đã bán ma túy cho Từ Minh H2: Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại khu vực nghĩa trang T2 ở đường T thuộc phường C, thị xã Q nhưng chưa xác định được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với bà Nguyễn Thị L1 là người quản lý nhà nghỉ số 8, không biết việc Từ Minh H2 và Trần Bình H thuê phòng để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự đối với bà L1.

[6] Về xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra xét thấy việc thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màu xanh – đen của H không liên quan đến hành vi phạm tội nên cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu (Chị Nguyễn Thị H1 là vợ của H trực tiếp nhận lại tài sản theo ủy quyền của H) và bị cáo không có ý kiến gì về tài sản đã được trả lại. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.

01(Một) viên nén màu hồng thu giữ khi bắt quả tang; 01 (một) túi nilon trong suốt, kích thước (2,2x2) cm; 01 bật lửa màu vàng trên thân có chữ “HAPHO.CO”; 01 (một) bật lửa màu đỏ trên thân có chữ “H-VIET”; 01 (một) chai nhựa trong suốt, cao 18cm, đường kính đáy 05cm, cách đáy 4cm trên thân chai có đục 01 lỗ tròn đường kính 0,6cm. Là vật không có giá trị sử dụng và cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

01 (một) tờ tiền có mệnh giá 1.000 đồng, có số seri ZT8892793 (không còn nguyên vẹn) là công cụ dùng vào việc phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

(Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự).

[7] Xét các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, áp dụng điều luật, xử lý vật chứng là có căn cứ cần chấp nhận.

[8] Hiện bị cáo Từ Minh H2, Trần Bình H đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam, cần tiếp tục ra quyết định tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo chấp hành án.

[9] Về án phí: Bị cáo Từ Minh H2, Trần Bình H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố:

Bị cáo Từ Minh H2, Trần Bình H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự. Áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Bình H.

    Xử phạt: Bị cáo Từ Minh H1 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 06/5/2024;

    Bị cáo Trần Bình H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 06/5/2024.

  2. Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) túi niêm phong, ký hiệu mã số NS3 1928857 bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong, đóng dấu của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Q; 01 (một) hộp giấy, ký hiệu MT-SGĐ bên ngoài có dấu của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Q cùng chữ ký của những người tham gia niêm phong.

    Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: Tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng (Một nghìn đồng) được niêm phong trong gói niêm phong có mã số NS3A 071349 (Kèm theo kết luận gám định số: 563/KL-KTHS ngày 14/5/2024 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị). Hiện cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Quảng Trị đang bảo quản tại Kho bạc Nhà nước thị xã Q theo Biên bản giao nhận tài sản số: 08.1/2024/BBBG-KBTX ngày 31/7/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Quảng Trị và Kho bạc Nhà nước thị xã Quảng Trị.

    (Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/9/2024 giữa Công an thị xã Quảng Trị và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Trị).

  3. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, nộp án phí Tòa án buộc bị cáo Từ Minh H2, Trần Bình H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Từ Minh H2, Trần Bình H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND thị xã Quảng Trị;
  • - Công an thị xã Quảng Trị;
  • - Phòng nghiệp vụ CA;
  • - Nhà tạm giữ;
  • - Bị cáo, NCQLNVLQ;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Chi cục THADS thị xã Quảng Trị;
  • - Lưu: Hồ sơ, Tổ HCTP.

KT. CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THẨM PHÁN

Nguyễn Phương Tiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2024/HS-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 23/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Bình H và Từ Minh H2 phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger