Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2024/HS-ST

Ngày: 15-4-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Đức Quang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Sỹ Quân

Bà Trần Thị Tuyết Nhung

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Soan - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Phan Thanh Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 05/2024/TLST- HS ngày 23/01/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 18 ngày 26 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Chí T; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh ngày: 12/4/1976; nơi đăng ký HKTT: Tổ A, Khu phố B, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương; chỗ ở: P, Tầng A, Chung cư M, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Nguyễn Văn Đ (đã chết); con bà: Bùi Thị N; sinh năm 1955; anh chị em ruột: Gia đình có 03 người, bị cáo là con thứ nhất; vợ: Khôn Kim T1; sinh năm 1979; con: 02 đứa, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2018;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị khởi tố bị can ngày 06/9/2023, bị bắt tạm giam từ ngày 09/9/2023 cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh H.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn H - Luật sư Văn phòng L3 và Cộng sự; địa chỉ: Số E, ngõ A, đường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.

* Bị hại:

  1. Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn B, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Giáo viên. Có mặt.
  2. Chị Trần Thị H2, sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn B, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Có mặt.
  3. Chị Phạm Thị H3, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn B, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Có mặt.
  4. Anh Trần Đức L, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn B, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt.
  5. Người đại diện theo ủy quyền của anh Trần Đức L: Anh Trần Đức T2, sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn B, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh (Văn bản ủy quyền ngày 02/4/2024). Có mặt.

  6. Anh Trần Văn T3, sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn Đ, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  7. Chị Trần Thị H4, sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn B, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Có mặt.
  8. Anh Phạm Văn L1, sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Có mặt.
  9. Bà Trần Thị H5, sinh năm 1956; địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Có mặt.
  10. Anh Hoàng Minh H6, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn B, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Nguyễn Thị T4, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn B, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.
  2. Anh Nguyễn Văn T5, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn B, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.

* Người làm chứng:

  1. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1960; địa chỉ: Thôn B, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.
  2. Chị Phạm Thị T6, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn Đ, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
  3. Bà Nguyễn Thị T7, sinh năm 1950; địa chỉ: Khu phố C, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 15/01/2016, UBND tỉnh B ban hành Quyết định số 130/QĐ-UBND về việc giao đất và cho thuê đất đầu tư xây dựng khu tái định cư dân cư Ấp D, xã M, huyện C (nay là thị xã C), tỉnh Bình Phước cho Công ty Cổ phần P (gọi tắt Công ty P). Ngày 22/3/2017, UBND tỉnh B ban hành Quyết định số 604/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án chung bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thuộc dự án Khu công nghiệp V. Biết thông tin này, nên năm 2017 Nguyễn Chí T đã liên hệ để mua thửa đất số 07, tờ bản đồ số 62, diện tích 45.315,1m² đất trồng cây lâu năm tại Ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Bình Phước (đất thuộc diện được bồi thường bằng đất ở) của bà Nguyễn Thị T7 (sinh năm 1950, trú tại Khu phố C, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương) với giá 2.480.000.000 đồng/ha, tương đương số tiền 11.200.000.000 đồng; đặt cọc trước số tiền 400.000.000 đồng. Nguyễn Chí T tính toán với diện tích đất mua của bà T7 sẽ được đền bù 29 thửa đất tái định cư, ngoài ra trên đất còn có cây cao su có thể bán để hưởng lợi nhuận. Sau đó, Nguyễn Chí T đã trao đổi với một số người dân ở xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh về phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án, nói rõ về việc mua đất trồng cây lâu năm của người dân thuộc khu quy hoạch dự án của Công ty P để được đền bù bằng đất ở vị trí khác, mỗi thửa đất có diện tích 150m² giá 330.000.000 đồng, cam kết năm 2019 sẽ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nếu người nào đồng ý mua đất thì chuyển tiền cho T. Tin tưởng Nguyễn Chí T, nên 09 người dân ở xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh đã trực tiếp hoặc qua người khác chuyển cho Nguyễn Chí T tổng số tiền 8.920.000.000 đồng. Cụ thể:

1. Hành vi nhận số tiền 1.320.000.000 đồng để mua 04 thửa đất cho chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1984, trú tại thôn B, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh: Chị Nguyễn Thị H1 quen biết với Nguyễn Chí T do hai người ở cùng quê tại xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Đầu năm 2018, Nguyễn Chí T trao đổi với chị Nguyễn Thị H1 về dự án Khu công nghiệp V như trên và đặt vấn đề nói chị H1 góp tiền mua đất. Tin tưởng thông tin Nguyễn Chí T đưa ra, nên ngày 20/4/2018 anh Hoàng Văn L2 (sinh năm 1984 – chồng chị H1) đã chuyển số tiền 298.000.000 đồng vào tài khoản số 0281000222658 tại Ngân hàng V mang tên Nguyễn Chí T để đặt cọc mua 06 thửa đất. Sau đó, Nguyễn Chí T yêu cầu chị H1 chuyển đủ tiền của 06 thửa đất và nói chị H1 đưa tiền cho chị Nguyễn Thị T4, sinh năm 1984, trú tại thôn B, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh (là em dâu của T). Ngày 27/4/2018, chị Nguyễn Thị H1 đã đến nhà giao cho chị Nguyễn Thị T4 số tiền 1.630.000.000 đồng để chị T4 chuyển cho Nguyễn Chí T. Số tiền còn lại 52.000.000 đồng, do trước đó T còn nợ tiền của chị H1 nên hai bên đã thống nhất trừ vào tiền nợ. Sau đó, do chờ đợi lâu nhưng không thấy T mua đất như đã cam kết, nên chị Nguyễn Thị H1 đã đề nghị T rút 02 thửa đất. Đến ngày 10/11/2019, Nguyễn Chí T đã trả lại cho chị H1 số tiền 660.000.000 đồng tương ứng với 02 thửa đất, số tiền còn lại 1.320.000.000 đồng chị H1 vẫn thống nhất nhờ T mua 04 thửa đất như cam kết ban đầu.

2. Hành vi nhận số tiền 1.000.000.000 đồng để mua 03 thửa đất cho ông Trần Văn T3, sinh năm 1969, trú tại thôn Đ, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh: Ông Trần Văn T3 có quan hệ họ hàng với Nguyễn Chí T (vợ ông T3 là em ruột của mẹ T). Đầu năm 2018, Nguyễn Chí T trao đổi với ông T3 về dự án Khu công nghiệp V như trên và nói ông T3 góp tiền mua đất. Tin tưởng Nguyễn Chí T, nên ông Trần Văn T3 đã đồng ý nhờ T mua 03 thửa đất tái định cư. Khoảng tháng 4/2018, khi Nguyễn Chí T về quê ở xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh thì ông T3 đã giao tiền mặt trực tiếp cho T số tiền 1.000.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, Nguyễn Chí T hứa hẹn đến năm 2019 sẽ giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của 03 thửa đất cho ông Trần Văn T3.

3. Hành vi nhận số tiền 990.000.000 đồng để mua 03 thửa đất cho ông Trần Đức L, sinh năm 1977, trú tại thôn B, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh: Anh Trần Đức L có quan hệ anh em, họ hàng với Nguyễn Chí T (mẹ anh L là em ruột của mẹ T). Đầu năm 2018, Nguyễn Chí T trao đổi với anh L về dự án Khu công nghiệp V như trên và nói anh L góp tiền mua đất. Tin tưởng Nguyễn Chí T, nên anh Trần Đức L đã đồng ý nhờ T mua giúp 03 thửa đất tại khu tái định cư với số tiền 990.000.000 đồng. Đầu tháng 4/2018, anh Trần Đức L đã giao cho Nguyễn Chí T số tiền 150.000.000 đồng đặt cọc. Ngày 28/4/2018, chị Trần Thị N1 (vợ anh L) trực tiếp giao cho chị Nguyễn Thị T4 số tiền 740.000.000 đồng để chị T4 chuyển cho T theo yêu cầu của T, còn 100.000.000 đồng thống nhất trừ vào số tiền trước đó T đang nợ anh L.

4. Hành vi nhận số tiền 1.320.000.000 đồng để mua 04 thửa đất cho chị Phạm Thị H3, sinh năm 1982, trú tại thôn B, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh: Chị Phạm Thị H7 có quan hệ họ hàng với Nguyễn Chí T (mẹ chồng chị H7 với mẹ T là chị em ruột). Đầu năm 2018, Nguyễn Chí T trao đổi với vợ chồng chị H7 về dự án Khu công nghiệp V như trên và đặt vấn đề với vợ chồng chị H7 góp tiền mua đất. Thời điểm này, vợ chồng chị H7 đang sinh sống và làm việc tại thành phố T, tỉnh Bình Dương nên anh Trần Đức T8 (chồng chị H7) có đi xem đất tại huyện C, tỉnh Bình Phước do Nguyễn Chí T giới thiệu. Tin tưởng thông tin Nguyễn Chí T đưa ra và đã trực tiếp đi xem dự án, nên chị Phạm Thị H3 đã đồng ý nhờ T mua 04 thửa đất với giá 1.320.000.000 đồng. Sau đó, chị H3 đã nhờ chị Phạm Thị T6 ở C, Nghi X (là con chú ruột của chị H3) nhiều lần chuyển khoản từ tài khoản số [...] tại Ngân hàng L4 của chị T6 đến tài khoản số 65010001901557 tại Ngân hàng hàng B của Nguyễn Chí T, cụ thể: Ngày 18/4/2018 chuyển 02 lần mỗi lần 100.000.000 đồng; ngày 26/4/2018 chuyển 05 lần mỗi lần 100.000.000 đồng và ngày 28/4/2018 chuyển 01 lần 100.000.000 đồng). Còn lại số tiền 520.000.000 đồng chị Phạm Thị H3 trực tiếp giao tiền mặt cho Nguyễn Chí T.

5. Hành vi nhận số tiền 4.290.000.000 đồng để mua 13 thửa đất cho chị Trần Thị H2 (sinh năm 1981), chị Trần Thị H4 (sinh năm 1972), bà Trần Thị H5 (sinh năm 1956), anh Hoàng Minh H6 (sinh năm 1991), anh Phạm Văn L1 (sinh năm 1972) cùng trú tại xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh: Chị Trần Thị H2 có quan hệ họ hàng với Nguyễn Chí T (mẹ chị H2 với mẹ T là chị em ruột). Vào đầu năm 2018, biết chị Phạm Thị H3 và một số người dân ở xã C, huyện N đang chuyển tiền nhờ Nguyễn Chí T mua đất tái định cư của Công ty P ở huyện C, tỉnh Bình Phước, nên chị Trần Thị H2 đã đặt vấn đề nhờ T mua đất tái định cư. Sau đó, chị Trần Thị H2 đã trao thông tin trên với chị Trần Thị H4, bà Trần Thị H5, anh Hoàng Minh H6 và anh Phạm Văn L1 thì những người này đồng ý góp tiền cho chị H2 đề chuyển cho Nguyễn Chí T mua đất. Cụ thể: Chị Trần Thị H2 mua 03 thửa đất với số tiền 990.000.000 đồng, chị Trần Thị H4 mua 02 thửa đất với số tiền 660.000.000 đồng, bà Trần Thị H5 mua 04 thửa đất với số tiền 1.320.000.000 đồng, anh Hoàng Minh H6 mua 02 thửa đất với số tiền 660.000.000 đồng, anh Phạm Văn L1 mua 02 thửa đất với số tiền 660.000.000 đồng. Tổng cộng chị Trần Thị H2 đã chuyển cho Nguyễn Chí T số tiền 4.290.000.000 đồng để nhờ T mua 13 thửa đất.

Sau khi nhận 8.920.000.000 đồng của 09 người dân nói trên, Nguyễn Chí T đã sử dụng cùng với số tiền của T để thanh toán tiền mua thửa đất số 07 tại Ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Bình Phước cho bà Nguyễn Thị T7. Ngày 28/3/2019, Công ty P lập văn bản thống nhất việc thu hồi 45.315,1m² đất sản xuất nông nghiệp của Nguyễn Chí T và hỗ trợ đất ở tương đương 10,5% của diện tích đất bị thu hồi. Cùng ngày, Công ty P ký hợp đồng nguyên tắc số 041/CN/HĐNT/2019 về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc khu tái định cư Ấp D, xã M, huyện C, tỉnh Bình Phước cho Nguyễn Chí T, diện tích đất 4.667,9m², tương đương 29 thửa đất (trong đó có 27 thửa đất với diện tích mỗi thửa 150m², 01 thửa đất có diện tích 300,5m² và 01 thửa đất có diện tích 317,4m²). Đồng thời, Nguyễn Chí T phải nộp thêm số tiền 4.667.900.000 đồng cho Công ty P. Theo cam kết thì Nguyễn Chí T phải thông báo cho những người dân về việc đất của họ góp tiền mua đã được đền bù bằng các thửa đất ở tại khu tái định cư và làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho những người này. Tuy nhiên, do thời điểm này Nguyễn Chí T cần tiền để đầu tư kinh doanh và trả nợ cho nhiều người nên từ ngày 20/8/2019 đến 23/4/2021, Nguyễn Chí T đã tự ký kết các văn bản thỏa thuận bán 29 thửa đất nói trên (trong đó có 27 thửa đất mua cho 09 người bị hại) cho 17 cá nhân ở các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Kiên Giang, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai và Nam Định thu về số tiền 18.285.000.000 đồng. Toàn bộ số tiền trên Nguyễn Chí T sử dụng để đầu tư kinh doanh nhưng bị thua lỗ, trả nợ và chi tiêu cá nhân. Khi những người bị hại hỏi thì Nguyễn Chí T nói dối là chưa được cấp đất và đề nghị mua lại các thửa đất để kéo dài thời gian. Sau đó, Nguyễn Chí T đã chặn liên lạc, trốn tránh gặp những người bị hại. Hiện nay, Nguyễn Chí T vẫn chưa trả lại tiền cho những người bị hại và không còn khả năng để trả.

Về trách nhiệm dân sự: Những người bị hại yêu cầu Nguyễn Chí T phải bồi thường toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt là 8.920.000.000 đồng, cụ thể: Chị Nguyễn Thị H1 1.320.000.000 đồng, ông Trần Văn T3 1.000.000.000 đồng, anh Trần Đức L 990.000.000 đồng, chị Phạm Thị H3 1.320.000.000 đồng, chị Trần Thị H2 990.000.000 đồng, chị Trần Thị H4 660.000.000 đồng, bà Trần Thị H5 1.320.000.000 đồng, anh Hoàng Minh H6 660.000.000 đồng và anh Phạm Văn L1 660.000.000 đồng. Hiện nay, bị cáo Nguyễn Chí T vẫn chưa bồi thường dân sự cho những người bị hại.

Với hành vi trên, tại bản cáo trạng số 11/CT-VKS-P2, ngày 23 tháng 01 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố Nguyễn Chí T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 175 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện VKS nhân dân tỉnh H sau khi phân tích, đánh giá các tình tiết của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 4 Điều 175, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Chí T từ 15 đến 16 năm tù về tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Về dân sự: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự buộc bị cáo Nguyễn Chí T bồi thường cho 08 bị hại bị cáo chưa bồi thường, cụ thể: Bồi thường cho chị Nguyễn Thị H1 1.320.000.000 đồng, anh Trần Đức L 990.000.000 đồng, chị Phạm Thị H3 1.320.000.000 đồng, chị Trần Thị H2 990.000.000 đồng, chị Trần Thị H4 660.000.000 đồng, bà Trần Thị H5 1.320.000.000 đồng, anh Hoàng Minh H6 660.000.000 đồng và anh Phạm Văn L1 660.000.000 đồng.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Chí T đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ để hình phạt cho bị cáo.

Luật sư bào chữa cho bị cáo không có ý kiến về tội danh, điều khoản mà Viện kiểm sát truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại Trần Văn T3, bị hại T3 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để xử bị cáo mức hình phạt thấp nhất có thể.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Xét về hành vi phạm tội của bị cáo:

[2.1] Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Chí T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với bản cáo trạng, phù hợp với lời khai của các bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định: Biết được thông tin về dự án Khu công nghiệp V tại huyện C, tỉnh Bình Phước của Công ty P, nên Nguyễn Chí T đã liên hệ để mua thửa đất số 07, tờ bản đồ số 62, diện tích 45.315,1m² đất trồng cây lâu năm tại Ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Bình Phước (đất thuộc diện được bồi thường bằng đất ở tái định cư) của bà Nguyễn Thị T7. Sau đó, Nguyễn Chí T đã đưa ra thông tin về phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án, đồng thời kêu gọi góp tiền đầu tư mua đất tái định cư. Tin tưởng Nguyễn Chí T, nên trong năm 2018 đã có 09 người bị hại ở xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh chuyển cho Nguyễn Chí T tổng số tiền 8.920.000.000 đồng để mua 27 thửa đất tái định cư thuộc dự án của Công ty P, gồm: Chị Nguyễn Thị H1 chuyển 1.320.000.000 đồng để mua 04 thửa đất; ông Trần Văn T3 chuyển 1.000.000.000 đồng để mua 03 thửa đất; anh Trần Đức L chuyển 990.000.000 đồng để mua 03 thửa đất; chị Phạm Thị H3 chuyển 1.320.000.000 đồng để mua 04 thửa đất; chị Trần Thị H2 chuyển 990.000.000 đồng để mua 03 thửa đất; chị Trần Thị H4 chuyển 660.000.000 đồng để mua 02 thửa đất; bà Trần Thị H5 chuyển 1.320.000.000 đồng để mua 04 thửa đất; anh Hoàng Minh H6 chuyển 660.000.000 đồng để mua 02 thửa đất; anh Phạm Văn L1 chuyển 660.000.000 đồng để mua 02 thửa đất.

Sau khi nhận tiền, Nguyễn Chí T đã dùng số tiền đó cùng với tiền của T để trả tiền mua thửa đất số 07 cho bà Nguyễn Thị T7 và nộp tiền cho Công ty P. Ngày 28/3/2019, Nguyễn Chí T được Công ty P đền bù 29 thửa đất khu tái định cư Ấp D, xã M, huyện C với tổng diện tích đất là 4.667,9m². Do cần tiền để trả nợ và đầu tư kinh doanh nên Nguyễn Chí T đã đưa ra thông tin gian dối và không thông báo cho những người bị hại biết việc Công ty P đền bù đất tái định cư và tự bán toàn bộ 29 thửa đất nói trên với số tiền 18.285.000.000 đồng. Toàn bộ số tiền trên Nguyễn Chí T đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết, hiện nay không còn khả năng để trả lại đất và tiền cho những người bị hại.

[2.2] Nguyễn Chí T là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Tháng 4/2018, T đưa ra thông tin góp tiền mua đất trồng cây lâu năm để được bồi thường tái định cư thuộc dự án Khu công nghiệp V. Sau khi các hộ dân đồng ý và chuyển 8.920.000.000 đồng, T đã thực hiện việc mua đất và làm thủ tục để bồi thường đất ở. Theo cam kết với các hộ dân T phải làm thủ tục để chuyển nhượng sang tên cho những người đã chuyển tiền. Tuy nhiên, do cần tiền đầu tư và chi tiêu cá nhân nên sau đó T thông báo với các hộ dân đất vẫn chưa được cấp và liên hệ với một số người bán các lô đất được Công ty P cấp. Số tiền bán đất T sử dụng đầu tư thua lỗ và chi tiêu cá nhân hết. Ý thức chiếm đoạt của bị cáo phát sinh sau thời điểm T và các hộ dân thỏa thuận phương thức mua đất và chuyển tiền, do đó hành vi chiếm đoạt tài sản của Nguyễn Chí T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Vì vậy, cáo trạng số 11/CT-VKS-P2, ngày 23 tháng 01 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố Nguyễn Chí T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 175 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, không oan sai.

[2.3] Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần, đối với niều người, đã xâm phạm quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ, gây thiệt hại nặng nề về kinh tế đối với các bị hại, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự. Bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Vì vậy, cần xét xử bị cáo mức án nghiêm, nhằm cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe chung đối với xã hội.

[2.4] Tuy nhiên, cần xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Chí T, vì quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo; quá trình chuẩn bị xét xử bị cáo đã tác động để gia đình bồi thường cho bị hại Trần Văn T3 số tiền 1.000.000.000đồng (một tỷ đồng), bị hại Trần Văn T3 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt vị đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Chí T từ 15 đến 16 năm tù là phù hợp.

[3] Căn cứ Điều 109, 113, 119 và 329 Bộ luật tố tụng hình sự cần tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Chí T để đảm bảo cho công tác thi hành án.

[4] Về những nội dung, hành vi khác có liên quan trong vụ án:

- Đối với vợ chồng chị Nguyễn Thị T4 (sinh năm 1984) và anh Nguyễn Văn T5 (sinh năm 1982) trú tại thôn B, xã C, huyện N (là em trai và em dâu của Nguyễn Chí T): Quá trình điều tra xác định, trong khoảng thời gian Nguyễn Chí T đưa ra thông tin việc góp tiền mua đất, do T không ở nhà nên nhờ anh T5, chị T4 nhận tiền của những người bị hại và chuyển cho T, nhưng anh T5 và chị T4 không biết, không hưởng lợi gì từ việc Nguyễn Chí T mua bán đất và chiếm đoạt tiền của những người bị hại. Vì vậy, hành vi của chị Nguyễn Thị T4 và anh Nguyễn Văn T5 không đồng phạm với Nguyễn Chí T.

- Quá trình điều tra, Nguyễn Chí T trình bày đã sử dụng một phần số tiền bán 29 thửa đất để góp vốn cùng với anh Bùi Đức M (sinh năm 1974, trú tại Tổ H, Khu I, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh) mua đất xin chuyển đổi mục đích (từ đất trồng cây sang đất ở) nhưng không được phê duyệt. Tuy nhiên, Nguyễn Chí T không cung cấp được các tài liệu thể hiện việc hợp tác đầu tư, chuyển tiền cho anh Bùi Đức M và hiện nay anh M đã chết. Vì vậy, việc T trình bày giao một phần tiền bán 29 thửa đất cho Bùi Đức M là không có cơ sở.

[5] Về trách nhiệm bồi thường dân sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo Nguyễn Chí T đã chiếm đoạt của 09 bị hại, với tổng số tiền 8.920.000.000 đồng (Tám tỷ chín trăm hai mươi triệu đồng), trong quá trình chuẩn bị xét xử bị cáo Nguyễn Chí T và gia đình đã thỏa thuận bồi thường cho anh Trần Văn T3 số tiền 1.000.000.000đồng (một tỷ đồng), ông T3 đã có đơn không yêu cầu bồi thường thêm về dân sự, nên Hội đồng xét xử miễn xét đối với phần dân sự của ông Trần Văn T3.

Đối với số tài sản Nguyễn Chí T chiếm đoạt của các bị hại khác mà bị cáo chưa bồi thường. Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 589 Bộ luật dân sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc bị cáo Nguyễn Chí T có nghĩa vụ bồi thường toàn bộ số tiền chiếm đoạt từ các bị hại chưa được bồi thường, cụ thể: Bồi thường cho chị Nguyễn Thị H1 1.320.000.000 đồng, anh Trần Đức L 990.000.000 đồng, chị Phạm Thị H3 1.320.000.000 đồng, chị Trần Thị H2 990.000.000 đồng, chị Trần Thị H4 660.000.000 đồng, bà Trần Thị H5 1.320.000.000 đồng, anh Hoàng Minh H6 660.000.000 đồng và anh Phạm Văn L1 660.000.000 đồng.

[6] Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của U, bị cáo Nguyễn Chí T phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 4 Điều 175, Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 586 và Điều 589 Bộ luật dân sự; Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1, khoản 3 Điều 21; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án và Danh mục án phí, lệ phí tòa án kèm theo Pháp lệnh 326/2016/UBTVQH14:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí T phạm tội: "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí T 16 (Mười sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam bị cáo (ngày 09/9/2023).
  3. Về dân sự:
  4. Buộc bị cáo Nguyễn Chí T có nghĩa vụ bồi thường cho các bị hại số tiền 7.920.000.000 đồng (Bảy tỷ chín trăm hai mươi triệu đồng), cụ thể: Bồi thường cho chị Nguyễn Thị H1 1.320.000.000 đồng (Một tỷ ba trăm hai mươi triệu đồng); bồi thường cho anh Trần Đức L 990.000.000 đồng (Chín trăm chín mươi triệu đồng); bồi thường cho chị Phạm Thị H3 1.320.000.000 đồng (Một tỷ ba trăm hai mươi triệu đồng); bồi thường cho chị Trần Thị H2 990.000.000 đồng (Chín trăm chín mươi triệu đồng); bồi thường cho chị Trần Thị H4 660.000.000 đồng (Sáu trăm sáu mươi triệu đồng); bồi thường cho bà bà Trần Thị H5 1.320.000.000 đồng (Một tỷ ba trăm hai mươi triệu đồng); bồi thường cho anh Hoàng Minh H6 660.000.000 đồng (Sáu trăm sáu mươi triệu đồng) và bồi thường cho anh Phạm Văn L1 660.000.000 đồng (Sáu trăm sáu mươi triệu đồng).

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

    Sau khi án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà bên phải thi hành án không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì phải chịu trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

  5. Về án phí:
  6. Buộc bị cáo Nguyễn Chí T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 115.920.000đồng (Một trăm mười lăm triệu chín trăm hai mươi ngàn đồng) án phí dân sự bồi thường.

  7. Về quyền kháng cáo:
  8. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Phòng PV06 Công an tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Phòng PC44 Công an tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Phòng LLTP Sở Tư pháp;
  • - Thi hành án hình sự TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Bị cáo; Bị hại; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu HSVA.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Đức Quang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2024/HS-ST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về vụ án hình sự sơ thẩm về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 23/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Chí Thanh phạm tội: "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger