Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2024/HS-ST

Ngày 10 - 7 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Doanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vi Thanh Cầm và ông Nguyễn Đình Chính.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Kim Dung, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa:

Ông Đậu Xuân Hà, Kiểm sát viên.

Ngày 10/7/2024 tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 24/2024/TLST-HS ngày 24/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2024/QĐXXST-HS, ngày 07/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2024/HSST-QĐ ngày 25/6/2024 đối với các bị cáo:

  1. HOÀNG VĂN C1 (Tên gọi khác: Không); Sinh ngày 27 tháng 11 năm 1969 tại tỉnh Bắc Kạn; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn P, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Giáo viên; Trình độ học vấn: lớp 12/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn Đ (đã chết) và con bà Sái Thị T; Có vợ là Nông Thị Đ1; Con: Có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: là đảng viên Đ2, đang bị đình chỉ sinh hoạt đảng; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
  2. NGUYỄN NGỌC L1 (Tên gọi khác: Không); Sinh ngày 28 tháng 5 năm 1988 tại tỉnh Bắc Kạn; Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã K, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Kế toán; Trình độ học vấn: lớp 12/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Duy Q và con bà Đinh Thị T1; có chồng là Nguyễn Duy C; Con: Có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: là đảng viên Đ2, đang bị đình chỉ sinh hoạt đảng; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn C1: Bà Nông Thị D, sinh năm 1985; Luật sư thuộc Công ty L3; địa chỉ: Tầng B, số C, ngõ A, phố N, phường N, quận T, thành phố Hà Nội - Có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Ngọc L1: Ông Lý Văn T2 - Trợ giúp

2

viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B - Có mặt.

* Nguyên đơn dân sự: Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn; Người đại diện của nguyên đơn dân sự: Bà Nông Thị Anh T3 - Chức vụ: Trưởng phòng Tài chính Kinh tế huyện N, tỉnh Bắc Kạn - Có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Trường P và Trung học cơ sở K. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nông Văn T4; chức vụ: Hiệu trưởng trường P bán trú Tiểu học và Trung học cơ sở K; địa chỉ xã K, huyện N, tỉnh Bắc Kạn - Có mặt.
  2. Ông Dương Công Y1, sinh năm 1980; Địa chỉ: Thôn T, xã S, huyện N, tỉnh Bắc Kạn - Có mặt.3. Ông Nguyễn Duy C, sinh năm 1985; Địa chỉ: Thôn B, xã K, huyện N, tỉnh Bắc Kạn - Có mặt.
  3. Bà Hoàng Thị L2, sinh năm 1987; Địa chỉ: Thôn N, xã K, huyện N, tỉnh Bắc Kạn - Có mặt.
  4. Ông Nông Văn A, sinh năm 1975; Địa chỉ: Thôn N, xã L, huyện N, tỉnh Bắc Kạn - Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trường Tiểu học K1 được thành lập theo Quyết định số 1355/QĐ-UBND ngày 09/8/2011 của UBND huyện N, theo đó Trường Tiểu học K1 là đơn vị sự nghiệp công lập có tư cách pháp nhân, được sử dụng con dấu riêng để giao dịch. Từ tháng 9 năm 2011 đến tháng 8 năm 2017, Trường Tiểu học K1 do ông Hoàng Văn C1 (sinh năm 1969 trú tại thôn P, thị trấn Y, huyện N) làm Hiệu trưởng, là người đại diện theo pháp luật của đơn vị và đồng thời là chủ tài khoản của đơn vị, người đại diện theo pháp luật của đơn vị kế toán (Theo các Quyết định số 2468/QĐ-UBND ngày 25/8/2011 và Quyết định số 1563/QĐ-UBND ngày 07/9/2011 của UBND huyện N) và bà Nguyễn Ngọc L1 (sinh năm 1988 trú tại thôn Bản Vèn, xã K, huyện N) là viên chức kế toán của đơn vị.

Quá trình điều tra xác định trong năm công tác 2014, Hoàng Văn C1 và Nguyễn Ngọc L1 đã có hành vi cùng nhau lập khống 02 (hai) bộ chứng từ để rút số tiền 33.000.000đ (Ba mươi ba triệu đồng) từ nguồn giao dự toán chi ngân sách năm 2014 của Trường Tiểu học K1 để chi cho hoạt động không đúng quy định, cụ thể:

Tháng 06 năm 2013, Công ty TNHH T6, địa chỉ thôn P, xã L, huyện N do ông Dương Công Ý (sinh năm 1980 trú tại thôn T, xã S, huyện N) là Giám đốc thi công công trình xây dựng, sửa chữa sân bê tông, đường từ nhà hiệu bộ sang phòng đoàn đội và đường vào các lớp học Trường Tiểu học K1 với chi phí xây dựng là 127.738.685đ (Một trăm hai mươi bảy triệu, bảy trăm ba mươi tám

3

nghìn, sáu trăm tám mươi năm đồng). Việc thi công công trình nêu trên không được lập hợp đồng mà thực hiện theo thỏa thuận miệng giữa ông Hoàng Văn C1 và ông Dương Công Y1. Ngoài ra tại thời điểm thỏa thuận và thi công thì ông C1 và ông Ý có lập bản dự toán thẩm định “Công trình sửa chữa, nâng cấp sân bê tông đường nội bộ trường tiểu học K1” trình phòng C4 (Nay là Phòng kinh tế hạ tầng) thuộc UBND huyện N để thẩm định và đã được phê duyệt thẩm định nhưng chưa làm các thủ tục trình các cơ quan có thẩm quyền (UBND huyện, Phòng giáo dục và đào tạo huyện) để phê duyệt chấp thuận theo quy định. Sau khi Công ty TNHH T6 hoàn thành việc thi công do không có kinh phí nên đến năm 2020 ông C1 vẫn chưa thanh toán tiền cho Công ty TNHH T6 nên ông Dương Công Y1 đã có đơn khởi kiện ông Hoàng Văn C1 gửi Tòa án nhân dân huyện N để yêu cầu thanh toán số tiền 127.738.685đ (Một trăm hai mươi bảy triệu, bảy trăm ba mươi tám nghìn, sáu trăm tám mươi năm đồng) chi phí thi công công trình nêu trên.Trong quá trình thi công công trình trên, ông Y1 mua nợ 15 (mười lăm) tấn xi măng của ông Nguyễn Duy C (sinh năm 1985 trú tại thôn B, xã K, huyện N - là chồng của Nguyễn Ngọc L1 kế toán Trường Tiểu học K1) với tổng số tiền 27.000.000₫ (Hai mươi bảy triệu đồng). Do đòi tiền nhiều lần không được và biết ông Y1 mua xi măng để thi công công trình xây dựng, sửa chữa sân bê tông, đường từ nhà hiệu bộ sang phòng đoàn đội và đường vào các lớp học Trường tiểu học K1 năm 2013 nên đến cuối năm 2014, ông C có đến gặp và đề nghị Hoàng Văn C1 là Hiệu trưởng trường Tiểu học K1 thanh toán tiền xi măng mà ông Y1 nợ làm công trình nêu trên cho mình. Khi biết C đòi ông C1 thanh toán số tiền mua xi măng thì L1 có đề xuất C1 sử dụng nguồn chi thường xuyên của đơn vị được cấp năm 2014 để thanh toán tiền ông Y1 mua nợ tiền xi măng cho anh C và được C1 đồng ý. Để làm thủ tục có số tiền thanh toán cho C nên L1 đã liên hệ với Hoàng Văn T5 (sinh năm 1984 trú tại tổ N, thị trấn Y, huyện N) là Giám đốc Công ty TNHH T7 địa chỉ thôn P, thị trấn Y, huyện N để nhờ và được T5 đồng ý giúp lập khống 02 (hai) bộ hồ sơ chứng từ quyết toán tiền xi măng hộ Lê gồm: Hồ sơ quyết toán công trình sửa chữa đường vào lớp 1, 2, 3 và Hồ sơ quyết toán công trình sửa chữa đường từ nhà hiệu bộ sang phòng đoàn đội trường tiểu học K1. Sau đó L1 cùng C2 và nhờ một số viên chức, giáo viên nhà trường là chị Hoàng Thị L2 (cán bộ y tế học đường và anh Nông Văn A (là giáo viên, chủ tịch Công đoàn trường tiểu học K1) ký xác nhận một số tài liệu để giúp lập hoàn thiện 02 (hai) bộ hồ sơ trên gồm: - 01 (một) bộ chứng từ công trình sửa chữa đường vào lớp 1, 2, 3 Trường Tiểu học K1 gồm 12 (mười hai) tài liệu trong đó có hóa đơn giá trị gia tăng số 0000005 ngày 24/3/2014 có giá trị trước thuế là 17.727.000đ (Mười bảy triệu, bảy trăm hai mươi bảy nghìn đồng) và thuế giá trị gia tăng là 1.773.000đ (Một triệu, bảy trăm bảy mươi ba nghìn đồng). Tổng giá trị hóa đơn là 19.500.000đ (Mười chín triệu, năm trăm nghìn đồng). - 01 (một) bộ chứng từ công trình sửa chữa đường từ nhà hiệu bộ sang phòng đoàn đội Trường Tiểu học K1 trong đó có hóa đơn giá trị gia tăng số 0000004 ngày 04/11/2014 có giá trị trước thuế là 12.272.700đ (Mười hai triệu, hai trăm bảy mươi hai nghìn, bảy trăm đồng) và thuế giá trị gia tăng là 1.227.270đ (Một triệu, hai trăm hai mươi bảy nghìn, hai trăm bảy mươi nghìn đồng). Tổng giá trị hóa đơn là 13.500.000đ (Mười ba triệu, năm trăm nghìn

4

đồng). Sau khi hoàn thiện đầy đủ tài liệu, chứng từ 02 (hai) bộ hồ sơ nêu trên, ngày 31/12/2014, L1 cùng C1 lập 01 (một) giấy rút dự toán ngân sách từ tài khoản của Trường tiểu học K1 với số tiền 19.500.000₫ (Mười chín triệu, năm trăm nghìn đồng) và 01 (một) giấy rút dự toán ngân sách từ tài khoản của Trường tiểu học K1 với số tiền 13.500.000đ (Mười ba triệu, năm trăm nghìn đồng) với tổng số tiền 33.000.000₫ (Ba mươi ba triệu đồng) để thanh toán cho Hoàng Văn T5 theo 02 (hai) bộ chứng từ nêu trên. Sau khi chuyển tiền thì T5 rút tiền và giữ lại 3.000.000₫ (Ba triệu đồng) là tiền cho 10% của 02 (hai) hóa đơn giá trị gia tăng. Số tiền 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng) còn lại T5 đưa cho L1 và sau đó Lê mang trả cho anh C (Trong đó có 27.000.000đ tiền ông Ý mua xi măng và 3.000.000₫ là tiền công anh C đi lại tìm ông Ý để đòi tiền, tiền lãi). Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến trưng cầu giám định vấn đề có liên quan đến vụ án và tại Bản Kết luận giám định số 22/KTHS-GĐTL ngày 23/7/2021 của Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận: “1. Chữ ký và các chữ viết “Nông Văn A” dưới mục “NGƯỜI LẬP DỰ TOÁN” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A1, A2) là cùng một người ký và viết ra; 2. Chữ ký và các chữ viết “Nông Văn A” dưới mục “NGƯỜI LẬP DỰ TOÁN” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A1, A2) với chữ ký và chữ viết của Nông Văn A trên các tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu B1, B2, B3) không phải do cùng một người ký và viết ra; 3. Chữ ký và các chữ viết “Nông Văn A” dưới mục “NGƯỜI LẬP DỰ TOÁN” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A1, A2) với chữ ký và các chữ viết “Nông Văn A” dưới mục “KẾT QUẢ LÀM VIỆC” trên Biên bản làm việc (ký hiệu C2) là do cùng một người ký và viết ra; Các chữ viết “Nông Văn A” dưới mục “NGƯỜI LẬP DỰ TOÁN” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A1, A2) với chữ viết trên Bản tường trình của Nguyễn Ngọc L1 (ký hiệu C1) là do cùng một người viết ra.

Các chữ viết “Nông Văn A” dưới mục “NGƯỜI LẬP DỰ TOÁN” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A1, A2) với chữ “Nguyễn Ngọc L1” dưới mục “NGƯỜI KHAI” trên Biên bản ghi lời khai (ký hiệu C3) là do cùng một người viết ra".

Ngày 15/12/2023 bị cáo Nguyễn Ngọc L1 đã tự nguyện nộp số tiền 33.000.000₫ (Ba mươi ba triệu đồng); ngày 08/3/2024 và 10/7/2024 bị cáo Hoàng Văn C1 đã tự nguyện nộp tổng số tiền 17.525.000đ (Mười bảy triệu năm trăm hai mươi lăm nghìn đồng) vào Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn để khắc phục hậu quả.

Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ 02 (hai) bộ chứng từ gồm: 01 (một) bộ chứng từ công trình sửa chữa đường vào lớp 1, 2, 3 Trường Tiểu học K1 và 01 (một) bộ chứng từ công trình sửa chữa đường từ nhà hiệu bộ sang phòng đoàn đội Trường Tiểu học K1 kèm theo 02 (hai) giấy rút dự toán ngân sách từ tài khoản của Trường tiểu học K1 với tổng số tiền 33.000.000₫ (Ba mươi ba triệu đồng) cùng ngày 31/12/2014; 01 (một) quyển dự toán thẩm định công trình sửa chữa, nâng cấp sân bê tông, đường nội bộ Trường tiểu học K1 đã được phòng C4 (Nay là phòng KTHT) UBND huyện N thẩm định liên quan đến vụ án đã được lưu theo hồ sơ vụ án.

5

Đối với số tiền 33.000.000₫ (Ba mươi ba triệu đồng) rút được, Nguyễn Ngọc L1 đã trả cho anh Nguyễn Duy C 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng) và sau đó đã sử dụng hết. Đến năm 2021, khi Cơ quan CSĐT Công an huyện N điều tra, xác minh thì anh C đưa cho vợ mình là Nguyễn Ngọc L1 3 (Ba mươi triệu đồng) để nộp lại cho Cơ quan điều tra và số tiền 3.000.000₫ (Ba triệu đồng) là tiền 10% của 02 (hai) hóa đơn giá trị gia tăng số 0000005 và 0000004 mà Hoàng Văn T5 giữ lại khi lập 02 (hai) bộ chứng từ công trình giúp Nguyễn Ngọc L1 . Quá trình điều tra T5 không có mặt tại địa phương (Đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan) nên Cơ quan điều tra chưa làm việc, xác minh và thu giữ được. Tại Bản Cáo trạng số 21/CT-VKSBK-P1 ngày 24/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn đã truy tố các bị cáo Hoàng Văn C1, Nguyễn Ngọc L1 về tội: “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” quy định tại khoản 1 Điều 356 của Bộ luật Hình sự.Tuy nhiên, trên cơ sở xem xét lại thời điểm hành vi phạm tội (Năm 2014) thì hành vi nêu trên của bị cáo Hoàng Văn C1 và Nguyễn Ngọc L1 đã cấu thành tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” quy định tại khoản 1 Điều 281 Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009). Trên cơ sở so sánh các quy định tại Điều 356 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 281 Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009) thì tại khoản 4 Điều 281 Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009) có quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền ở mức 03 - 30 triệu đồng so với quy định tại khoản 4 Điều 356 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) có quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền ở mức 10 - 100 triệu đồng. Trên cơ sở các quy định như Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và các văn bản hướng dẫn thi hành...

Do đó tại phiên tòa, trong quá trình luận tội, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn để nghị HĐXX xem xét áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009) để xét xử đối với các bị cáo theo nguyên tắc có lợi cho các bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng, đề nghị HĐXX: Tuyên các bị cáo Hoàng Văn C1 và Nguyễn Ngọc L1 về tội: “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”.

Áp dụng khoản 1, khoản 4 Điều 281; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 20, 36, 45, 58, 60 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009); Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) đề nghị xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn C1: Từ 12 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 36 tháng. Bị cáo Nguyễn Ngọc L1 từ 12 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 36 tháng. Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân nơi các bị cáo đang cư trú giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách.

6

* Về hình phạt bổ sung: Cấm đảm nhiệm chức vụ có liên quan đến công tác tài chính, đầu tư, xây dựng trong các cơ quan Nhà nước, trường học...đối với bị cáo Hoàng Văn C1 và Nguyễn Ngọc L1 .

* Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 42 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009), Điều 28 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003; Các Điều 584, 585, 586, 587, 589 của Bộ luật Dân sự buộc cả hai bị cáo có trách nhiệm liên đới bồi thường số tiền 33.000.000₫ (Ba mươi ba triệu đồng) cho Nguyên đơn dân sự là UBND huyện N. Trong đó mỗi bị cáo phải bồi thường số tiền 16.500.000₫ (Mười sáu triệu năm trăm nghìn đồng).

Tiếp tục tạm giữ số tiền 33.000.000₫ (Ba mươi ba triệu đồng) bị cáo Nguyễn Ngọc L1 đã tự nguyện nộp theo biên lai thu tiền số 0000007 ngày 15/12/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn và số tiền 17.525.000₫ (Mười bảy triệu năm trăm hai mươi lăm nghìn đồng) bị cáo Hoàng Văn C1 đã tự nguyện nộp theo các biên lai thu tiền số 0000028 ngày 08/3/2024, biên lai thu số 0000144 ngày 10/7/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn để đảm bảo việc thi hành án cho các bị cáo.

Về vật chứng: Xử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn C1 phải chịu án phí hình sự. Bị cáo Nguyễn Ngọc L1 được miễn án phí hình sự.

Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn C1 và người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Ngọc L1 đều nhất trí với nội dung Cáo trạng và Bản luận tội. Đề nghị HĐXX tuyên phạt các bị cáo mức án thấp nhất theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát và cho cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

[2] Về điều luật áp dụng: Hành vi của các bị cáo Hoàng Văn C1 và Nguyễn Ngọc L1 được thực hiện và hoàn thành vào năm 2014 (trước thời điểm Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực), thiệt hại do hành vi của các bị cáo gây ra là 33.000.000 đồng. Căn cứ khoản 1 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015, hành vi của các bị cáo được xem xét và xử lý theo quy định tại khoản 1 Điều 281 Bộ luật

7

Hình sự năm 1999 (đã sửa đổi bổ sung năm 2009). Trên cơ sở so sánh các quy định tại Điều 356 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 281 Bộ luật Hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009) thì tại khoản 4 Điều 281 Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009) có quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền ở mức 03 - 30 triệu đồng so với quy định tại khoản 4 Điều 356 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) có quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền ở mức 10 - 100 triệu đồng. Trên cơ sở các quy định như Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và các văn bản hướng dẫn thi hành. Do đó Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn đề nghị HĐXX xem xét áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009) để xét xử đối với các bị cáo theo nguyên tắc có lợi cho các bị cáo là hoàn toàn có căn cứ; đảm bảo đúng quy định về giới hạn của việc xét xử quy định tại Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nên HĐXX chấp nhận.

[3] Về hành vị của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội được mô tả trong bản cáo trạng là đúng với thực tế, diễn biến hành vi các bị cáo đã thực hiện. Trên cơ sở lời khai của các bị cáo, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai tại phiên tòa của các bị cáo, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, HĐXX có căn cứ khẳng định:

Vào cuối năm 2014, Hoàng Văn C1 và Nguyễn Ngọc L1 là những người có chức vụ, quyền hạn cùng nhau lập 02 (hai) hồ sơ quyết toán khống công trình sửa chữa đường vào lớp 1, lớp 2, lớp 3 và công trình sửa chữa đường từ nhà hiệu bộ sang phòng đoàn đội Trường Tiểu học K1 mà ông Dương Công Y1 thi công với tổng số tiền là 33.000.000 đồng, sau đó sử dụng để trả cho ông C. chứng từ đề rút và chi sai, gây thiệt hại tổng số tiền 33.000.000đ (Ba mươi ba triệu đồng) từ nguồn giao dự toán chi ngân sách năm 2014 cho các hoạt đồng của Trường Tiểu học K1 để chi trả nợ cho món nợ của Hành vi của Hoàng Văn C1 và Nguyễn Ngọc L1 là vi phạm các quy định của Luật Ngân sách nhà nước, Luật kế toán và các quy định pháp luật khác. Hậu quả của hành vi của các bị cáo là gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước số tiền 33.000.000 đồng.

Hành vi mà các bị cáo thực hiện là nghiêm trọng và cố ý. Bị cáo C1 vì nể nang L1, C và áp lực phải trả khoản nợ của nhà trường; Bị cáo L1 vì tình cảm gia đình và vì áp lục phải trả nợ khoản nợ của nhà trường mà đã thực hiện hành vi trái công vụ.Như vậy, các bị cáo đã phạm vào tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ” quy định tại khoản 1 Điều 281 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).Điều 281 Bộ luật Hình sự năm 1999 có nội dung:

“1. Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm.

8

4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm, có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng”.

[4] Vai trò trong vụ án này của các bị cáo đó là các bị cáo cùng nhau bàn bạc và thực hiện hành vi của mình. Như vậy, có thể thấy trong vụ án này các bị cáo là đồng phạm (Đồng phảm giản đơn) và có vai trò ngang nhau. Do đó các bị cáo phải chịu chung trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội của bản thân.

[5] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo:

Các bị cáo đều có nhân thân tốt và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Ngày 15/12/2023 bị cáo Nguyễn Ngọc L1 đã tự nguyện nộp số tiền 33.000.000₫ (Ba mươi ba triệu đồng); ngày 08/3/2024 bị cáo Hoàng Văn C1 đã tự nguyện nộp số tiền 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) và ngày 10/7/2024 nộp thêm số tiền 7.525.000đ (Bảy triệu năm trăm hai mươi lăm nghìn đồng) vào Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn để khắc phục hậu quả. Ngoài ra đối với bị cáo Hoàng Văn C1 có bố đẻ là ông Hoàng Văn Đ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương bảo vệ Tổ quốc hạng ba và bản thân bị cáo được Chủ tịch UBND huyện N tặng Giấy khen do đã có thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ công tác năm học 2012-2013; Bị cáo Nguyễn Ngọc L1 có ông nội là ông Nguyễn Duy S được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba nên các bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 đó là “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại”; “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Ngoài ra bị cáo C1 được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ; bị cáo L1 được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999.

[6] Xét thấy, hành vi của các bị cáo là nghiêm trọng. Tuy nhiên, bản thân các bị cáo trong quá trình sinh sống tại địa phương chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội. Mặc dù các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, tuy nhiên trên thực tế thì cả hai công trình trên đều đã được thi công và đưa vào sử dụng phục vụ cho cán bộ, giáo viên, học sinh của nhà trường; các bị cáo sau khi rút tiền cũng chi trả cho việc thi công trên thực tế và quá trình điều tra cả hai bị cáo cũng đã tự nguyện việc nộp tiền để khắc phục hậu quả, bồi thường và không hưởng lợi gì từ số tiền rút được. Các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo có khả năng tự cải tạo do đó không cần thiết buộc các bị cáo phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo hưởng án treo và giao các bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục các bị cáo vẫn đảm bảo tính giáo dục cho các bị cáo và tính răn đe, phòng ngừa chung.

[7] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều là người có chức vụ quyền hạn và theo quy định tại khoản 4 Điều 281 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (Sửa đổi,

9

bổ sung năm 2009) quy định “Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng đồng”. Do đó cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là: Cấm đảm nhiệm chức vụ có liên quan đến công tác tài chính, đầu tư, xây dựng trong các cơ quan Nhà nước, trường học trong một thời gian nhất định đối với cả hai bị cáo.

Đối với hình phạt bổ sung là phạt tiền, HĐXX nhận thấy các bị cáo không được hưởng lợi từ số tiền rút được nên không cần thiết phải áp dụng.

[8] Về xử lý vật chứng:

- Lưu vào hồ sơ vụ án các vật chứng, bao gồm: 02 (hai) bộ chứng từ gồm: 01 (một) bộ chứng từ công trình sửa chữa đường vào lớp 1, 2, 3 Trường Tiểu học K1 và 01 (một) bộ chứng từ công trình sửa chữa đường từ nhà hiệu bộ sang phòng đoàn đội Trường Tiểu học K1 kèm theo 02 (hai) giấy rút dự toán ngân sách từ tài khoản của Trường tiểu học K1 với tổng số tiền 33.000.000đ (Ba mươi ba triệu đồng) cùng ngày 31/12/2014; 01 (một) quyển dự toán thẩm định công trình sửa chữa, nâng cấp sân bê tông, đường nội bộ Trường tiểu học K1 đã được phòng C4 (Nay là phòng KTHT) UBND huyện N thẩm định liên quan đến vụ án.

- Tiếp tục tạm giữ số tiền 33.000.000₫ (Ba mươi ba triệu đồng) bị cáo Nguyễn Ngọc L1 đã nộp theo biên lai số 0000007 ngày 15 tháng 12 năm 2023 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn để đảm bảo thi hành án cho bị cáo L1. Tiếp tục tạm giữ số tiền 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) theo biên lai thụ số 0000028 ngày 08 tháng 3 năm 2024 và số tiền 7.525.000₫ (Bảy triệu năm trăm hai mươi lăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số 0000144 ngày 10 tháng 7 năm 2024 bị cáo Hoàng Văn C1 đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn để thi hành án cho bị cáo C1.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và trong đơn xin xét xử vắng mặt, đại diện nguyên đơn dân sự là UBND huyện N yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thiệt hại với số tiền 33.000.000₫ (Ba mươi ba triệu đồng). Tại phiên tòa, các bị cáo nhất trí bồi thường số tiền trên, mỗi bị cáo phải bồi thường số tiền là 16.500.000₫ (Mười sáu triệu năm trăm nghìn đồng). Do đó cần buộc các bị cáo liên đới bồi thường cho nguyên đơn dân sự là UBND huyện N số tiền bị thiệt hại là 33.000.000₫ (Ba mươi ba triệu đồng).

Tại phiên tòa, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt không có yêu cầu, ý kiến gì về trách nhiệm dân sự của các bị cáo nên HĐXX không xem xét.

[10] Trong vụ án còn có nội dung:

Đối với Hoàng Văn T5 là Giám đốc Công ty TNHH T7 là người đã có hành vi giúp Hoàng Văn C1 và Nguyễn Ngọc L1 lập khống 02 (hai) bộ hồ sơ: Hồ sơ quyết toán công trình sửa chữa đường vào lớp 1, 2, 3 và Hồ sơ quyết toán công trình sửa chữa đường đường từ nhà hiệu bộ sang phòng đoàn đội trường tiểu học K1 và xuất 02 (hai) hóa đơn giá trị gia tăng. Để C1 và L1 rút được tổng

10

số tiền 33.000.000₫ (Ba mươi ba triệu đồng) từ tài khoản của Trường tiểu học K1 và bản thân giữ lại số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng) là tiền cho 10% của 02 (hai) hóa đơn giá trị gia tăng. Quá trình điều tra, xác minh T5 không có mặt tại địa phương (Đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan) nên Cơ quan điều tra chưa làm việc, xác minh lấy lời khai được. Nên Cơ quan điều tra đã tách hành vi này của T5 ra để tiếp tục điều tra, làm rõ và xử lý theo quy định (Theo Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự số 268 ngày 08/4/2024).Đối với Nguyễn Duy C là người được hưởng số tiền 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng) do hành vi lập khống 02 (hai) bộ hồ sơ nêu trên của C1 và L1. Quá trình điều tra xác định anh C3 không liên quan đến hành vi của C1 và L1, việc anh được hưởng số tiền là do anh được bán xi măng cho ông Ý để thi công công trình cho Trường tiểu học K1 và đến năm 2021, khi Cơ quan CSĐT Công an huyện N điều tra, xác minh thì anh C đưa cho L1 số tiền 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng) để nộp lại cho Cơ quan điều tra nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý Cương là có căn cứ.

Đối với chị Hoàng Thị L2 là người được ký vào người mua hàng trong 02 (hai) hóa đơn giá trị gia tăng số 0000005 ngày 24/3/2014, số 0000004 ngày 04/11/2014 và anh Nông Văn A là người được ký vào 02 (hai) tờ dự trù trinh phí (Không ghi số tiền) có trong 02 (hai) bộ hồ sơ chứng quyết nêu trên. Quá trình điều tra xác định chị L2 và anh A chỉ là những người được ký tên khi L1 đưa nhờ ký hộ, bản thân không được bàn bạc hay hưởng lợi từ việc làm của C1 và L1 nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý L2 là có căn cứ.

[9] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Ngọc L1 cư trú ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí, do vậy HĐXX quyết định miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo L1. Bị cáo C1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo đã tự nguyện nộp đủ số tiền để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án trong đó có nghĩa vụ bồi thường, căn cứ điểm g khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, các bị cáo không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Hoàng Văn C1 và Nguyễn Ngọc L1 phạm tội: “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”.

1.1. Áp dụng khoản 1, 4 Điều 281; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 20, 36, 60 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009); Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn C1 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (Hai mươi tư) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Hoàng Văn C1 cho Ủy ban nhân dân thị trấn Y, huyện N, tỉnh

11

Bắc Kạn giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo Hoàng Văn C1 đảm nhiệm chức vụ có liên quan đến công tác tài chính, đầu tư, xây dựng trong các cơ quan, tổ chức Nhà nước, trường học trong thời hạn 01 (Một) năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

1.2. Áp dụng khoản 1, 4 Điều 281; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 20, 36, 60 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009); Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc L1 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (Hai mươi tư) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Ngọc L1 cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện N, tỉnh Bắc Kạn giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo Nguyễn Ngọc L1 đảm nhiệm chức vụ có liên quan đến công tác tài chính, đầu tư, xây dựng trong các cơ quan, tổ chức Nhà nước, trường học trong thời hạn 01 (Một) năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của của Bản án trước và tổng hợp với hình phạt của Bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

2. Vật chứng, biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 41, 42/BLHS năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009), Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

- Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án 02 (hai) bộ chứng từ gồm: 02 (hai) bộ chứng từ gồm: 01 (một) bộ chứng từ công trình sửa chữa đường vào lớp 1, 2, 3 Trường Tiểu học K1 và 01 (một) bộ chứng từ công trình sửa chữa đường từ nhà hiệu bộ sang phòng đoàn đội Trường Tiểu học K1 kèm theo 02 (hai) giấy rút dự toán ngân sách từ tài khoản của Trường tiểu học K1 với tổng số tiền 33.000.000₫ (Ba mươi ba triệu đồng) cùng ngày 31/12/2014; 01 (một) quyển dự toán thẩm định công trình sửa chữa, nâng cấp sân bê tông, đường nội bộ Trường tiểu học K1 đã được phòng C4 (Nay là phòng KTHT) UBND huyện N thẩm định liên quan đến vụ án.

- Tiếp tục tạm giữ số tiền 33.000.000₫ (Ba mươi ba triệu đồng) bị cáo Nguyễn Ngọc L1 đã nộp theo biên lai số 0000007 ngày 15 tháng 12 năm 2023 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn để đảm bảo thi hành án cho bị cáo L1;

12

tiếp tục tạm giữ số tiền 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) theo biên lai thu số 0000028 ngày 08 tháng 3 năm 2024 và số tiền 7.525.000đ (Bảy triệu năm trăm hai mươi lăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số 0000144 ngày 10 tháng 7 năm 2024 bị cáo Hoàng Văn C1 đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn để thi hành án cho các bị cáo C1.

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 42 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009); các Điều 584, 585, 586, 587, 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015 buộc các bị cáo Hoàng Văn C1 và Nguyễn Ngọc L1 có trách nhiệm liên đới bồi thường số tiền 33.000.000đ cho Nguyên đơn dân sự là Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Trong đó mỗi bị cáo phải bồi thường số tiền 16.500.000₫ (Mười sáu triệu năm trăm nghìn đồng).

4. Án phí:

4.1. Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Hoàng Văn C1 phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4.2. Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Ngọc L1 được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án,tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn dân sự UBND huyện N, tỉnh Bắc Kạn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT 1 - TANDTC;
  • - TAND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh;
  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh;
  • - Cục THADS tỉnh;
  • - Sở Tư pháp;
  • - THAHS;
  • - Người tham gia tố tụng;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thế Doanh

13

- Lưu HS.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2024/HS-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN về hình sự sơ thẩm về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ

  • Số bản án: 23/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn C1 cùng đồng phạm - Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger