|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án: 23/2024/HS-PT Ngày 22 tháng 4 năm 2024 |
-------------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Hà Giang; |
| Các thẩm phán: | Ông Nguyễn Hán Hưởng; |
| Ông Bùi Xuân Trường. |
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Quân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Vũ Công Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đưa ra xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2024/TLPT-HS ngày 26 tháng 02 năm 2024; Do có kháng cáo của bị hại anh Nguyễn Văn G đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2024/HS-ST ngày 03 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ đối với bị cáo:
Nguyễn Anh T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 03 tháng 7 năm 1998 tại C, Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu H, xã H, huyện C, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm: 1975; Con bà Phan Thị H (Đã chết); Anh chị em ruột: Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ Nguyễn Thị K, sinh năm: 2001; Con: Bị cáo có 01 con, sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo không bị bắt, tạm giữ, tạm giam, được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/7/2023. Hiện nay, bị cáo đang tại ngoại tại xã H, huyện C, tỉnh Phú Thọ. (có mặt).
- Bị hại: Anh Nguyễn Văn G, sinh năm 1984;
Trú tại: Khu G, xã X, huyện C, tỉnh Phú Thọ. (có mặt).
- Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị K, sinh năm 2001;
Trú tại: Khu H, xã H, huyện C, tỉnh Phú Thọ. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tháng 9 năm 2022, chị Nguyễn Thị K, sinh năm 2001 ở khu H, xã H, huyện C, tỉnh Phú Thọ vay Công ty T3 số tiền 43.000.000 đồng, mỗi tháng chị K phải thanh toán một phần tiền gốc và lãi là 2.652.000 đồng, thời hạn thực hiện hợp đồng là 30 tháng.
Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 31/5/2023, anh Nguyễn Văn G, sinh năm 1984 ở khu G, xã X, huyện C, tỉnh Phú Thọ - là nhân viên thu hồi nợ tại nhà của Công ty T3, đến nhà chị K ở khu H, xã H, huyện C để thu tiền theo hợp đồng của chị K với Công ty. Tại đây, anh G gặp chồng chị K là Nguyễn Anh T, sinh năm 1998. Anh G ngồi nói chuyện về khoản nợ của chị K, đến khoảng 18 giờ 15 phút cùng ngày, T có hút thuốc lào và cố tình sỉ tàn thuốc lào trúng vào tay anh G nên anh G và T có lời qua tiếng lại với nhau. T cầm chiếc kìm bằng kim loại của gia đình định đánh anh G nhưng bà Phan Thị H, sinh năm 1976 (mẹ đẻ T) chạy lại can ngăn và lấy chiếc kìm cất đi. Anh G đi xe máy của mình (đang dựng ở sân nhà T) xuống đường và dựng xe bên lề đường đối diện nhà T, hai bên tiếp tục lời qua tiếng lại với nhau. Lúc này, T chạy vào bếp lấy 01 (một) con dao bằng kim loại màu trắng, dài 30cm, rộng 10 cm, chuôi dao tròn, bằng kim loại cầm ở tay phải chạy từ nhà ra đường về phía anh G để chém anh G. Thấy vậy, anh G nhặt 01 (một) đoạn gỗ kakeo đã khô, dài 1,1m, đường kính 5cm, trên thân gỗ có nhiều mấu cành sắc nhọn ở đống củi ven đường vụt về phía T một cái, trúng vào dao và tay trái T rồi anh G bỏ chạy, T cầm dao đuổi theo. Anh G chạy được một đoạn thì vấp ngã, T dùng tay phải vung dao chém về phía anh G theo hướng từ trên xuống dưới, từ phải qua trái. Anh G giơ tay lên để đỡ thì T chém một cái trúng vào lòng bàn tay phải của anh G. Sau đó bà H và chị K ngăn cản không cho T gây thương tích cho anh G nữa. Anh G được người dân đưa đi Trạm y tế xã H, sau đó chuyển Trung tâm y tế huyện C điều trị.
Tại Biên bản xác định thương tích ban đầu hồi 18 giờ 40 ngày 31/5/2023 đối với anh Nguyễn Văn G tại Trạm y tế xã H, phát hiện: Bàn tay bên phải có vết rách dài khoảng 10cm, sâu giáp nền xương, chảy máu nhiều.
Tại Biên bản xác định thương tích hồi 09 giờ 45 phút ngày 01/6/2023 đối với anh Nguyễn Văn G và Bệnh án ngoại khoa của anh Nguyễn Văn G tại Trung tâm y tế huyện C thể hiện: Khi vào viện, lòng bàn tay phải vị trí ô mô cái có vết thương chạy dọc từ gốc ngón I đến nếp lằn cổ tay, dập nát cơ ô mô cái, đứt gân gấp, gân dạng ngón I bàn tay phải.
Ngày 28/6/2023, anh G có đơn đề nghị được đi giám định tỉ lệ phần trăm tổn hại sức khoẻ.
Ngày 29/6/2023, Cơ quan CSĐT – Công an huyện C đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 151 trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh P giám định tỉ lệ phần trăm tổn hại sức khoẻ của anh Nguyễn Văn G và cơ chế hình thành vết thương.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 116/KLTTCT/TTPY ngày 04/7/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận:
- Các kết quả chính
- Vết sẹo lòng bàn tay phải: 02%
- Tại thời điểm giám định ngón I bàn tay phải còn sưng nề, tím, vận động gấp duỗi ngón tay đau nên Trung tâm pháp y chưa đánh giá được cứng khớp bàn ngón tay.
- Kết luận:
- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Văn G tại thời điểm giám định là 02% (hai phần trăm).
- Cơ chế hình thành hai vết sẹo lòng bàn tay phải: Do tác động của vật sắc gây nên.
Sau khi được thông báo nội dung kết luận giám định, T và anh G nhất trí, không có ý kiến gì. Ngày 14/7/2023, anh Nguyễn Văn G có đơn đề nghị khởi tố vụ án, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đã gây thương tích cho anh G.
Ngày 19/7/2023, Cơ quan CSĐT – Công an huyện C đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với vụ việc nêu trên và giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ngày 20/7/2023, Cơ quan CSĐT – Công an huyện C ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 06/QĐ-GĐBS, trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh P giám định tỷ lệ phần trăm tổn hại sức khỏe đối với ngón I bàn tay phải của Nguyễn Văn G. Nhưng G không đi giám định.
Ngày 21/7/2023, Cơ quan CSĐT – Công an huyện C thi hành quyết định dẫn giải đối với bị hại G nhưng anh G kiên quyết từ chối không đi giám định bổ sung.
Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng, đồ vật, tài liệu tạm giữ: Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT – Công an huyện C đã tạm giữ: 01 (một) con dao bằng kim loại màu trắng, dài 30cm, rộng 10 cm, chuôi dao tròn, bằng kim loại; 01 (một) đoạn gỗ kakeo đã khô, dài 1,1m, đường kính 5cm, trên thân gỗ có nhiều mấu cành sắc nhọn.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê đã ra Quyết định chuyển vật chứng chuyển toàn bộ các vật chứng, đồ vật nêu trên đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê chờ giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn G yêu cầu T bồi thường tổng cộng 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng). Hiện nay bị cáo T đã tự nguyện nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê số tiền 12.000.000 đồng để bồi thường cho anh G.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2024/HS-ST ngày 03 tháng 01 năm 2024 và Thông báo sửa chữa, bổ sung bản án số 08/2024/TB-TA ngày 18 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ đã Quyết định:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 điều 134, điểm b, i, s khoản 1 điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội: “Cố ý gây thương tích”;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ.
Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện C nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Nguyễn Anh T cho UBND xã H, huyện C tỉnh Thọ giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
Buộc bị cáo Nguyễn Anh T phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 36 của Bộ luật hình sự. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng đối với bị cáo là không quá 04 giờ/01 ngày và không quá 05 ngày/01 tuần. Trong thời gian cải tạo không giam giữ, người bị kết án về cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự về cải tạo không giam giữ. Trường hợp bị cáo vắng mặt tại nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì áp dụng theo quy định tại Điều 100 Luật thi hành án hình sự.
Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 2 điều 48 Bộ luật hình sự; khoản 1 điều 584, điều 585, khoản 1 điều 586, điều 590 và điều 357, điều 468 Bộ luật dân sự; Điểm a khoản 2 Điều 2 Luật thi hành án dân sự:
Buộc bị cáo Nguyễn Anh T có nghĩa vụ phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn G tổng số tiền là 26.997.302 đồng (Hai mươi sáu triệu chín trăm chín mươi bảy nghìn ba trăm linh hai đồng), cụ thể gồm các khoản: Chi phí trong quá trình nhập viện và điều trị tại Trung tâm y tế huyện C: 13.227.302 đồng; Xe đưa đi lại tại bệnh viện và đi lại làm việc với cơ quan công an: 1.000.000 đồng; Tiền xe đưa đi V để chụp X Q và kiểm tra sức khỏe tại bệnh viện tỉnh phục vụ công tác giám định vết thương: 1.000.000 đồng; tiền mất thu nhập 10 ngày là 2.150.000 đồng; tiền công người chăm sóc người bị hại 10 ngày là 1.170.000 đồng; tiền bồi dưỡng sức khỏe: 1.250.000 đồng; Bồi thường tốn thất tinh thần: 7.200.000 đồng. Xác nhận bị cáo T đã tự nguyện bồi thường cho anh Nguyễn Văn G nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê với số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) ngày 15/11/2023 và 9.000.000 đồng (chín triệu đồng) ngày 28/12/2023, tổng cộng là 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng), buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho anh Nguyễn Văn G số tiền 14.997.302 đồng (Mười bốn triệu chín trăm chín mươi bảy nghìn ba trăm linh hai đồng).
Kể từ ngày anh G có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bị cáo T chậm trả số tiền trên thì còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời giam chậm trả theo mức lãi suất quy định tại điều 357, điều 468 Bộ luật dân sự, trừ trường hợp pháp luật quy định khác.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Anh T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 750.000 đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự trong vụ án hình sự. Tổng bị cáo phải chịu 950.000 đồng (Chín trăm năm mươi nghìn đồng).
Bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, quyền kháng cáo và các vấn đề khác đúng quy định của pháp luật.
Ngày 15 tháng 01 năm 2024, bị hại anh Nguyễn Văn G có đơn kháng cáo với các nội dung:
- Đề nghị cấp phúc thẩm giám định lại thương tích;
- Đề nghị tăng mức bồi thường thiệt hại;
- Đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị hại anh Nguyễn Văn G. Giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2024/HS-ST ngày 03 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ đối với bị cáo Nguyễn Anh T.
Về án phí hình sự phúc thẩm, bị hại phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của Người bị hại anh Nguyễn Văn G nộp trong hạn luật định được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung vụ án:
Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 31/5/2023, tại nhà ở của bị cáo Nguyễn Anh T, sinh năm 1998 ở khu H, xã H, huyện C, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Anh T đã dùng 01 (một) con dao bằng kim loại dài 30cm, rộng 10cm, chuôi dao tròn, bằng kim loại chém 01 cái trúng vào lòng bàn tay phải của anh Nguyễn Văn G, gây thương tích cho anh G với tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 02%. Lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người bị hại, Người làm chứng, phù hợp với thời gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án, các kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ và đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Như vậy, hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Anh T đã phạm tội: “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 điều 134 của Bộ luật hình sự.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Anh T về tội: “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 điều 134 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét nội dung kháng cáo của Người bị hại anh Nguyễn Văn G.
[3.1] Về đề nghị giám định lại thương tích.
Ngày 28/6/2023, bị hại anh Nguyễn Văn G có đơn đề nghị được đi giám định tỉ lệ phần trăm tổn hại sức khoẻ. Ngày 29/6/2023, Cơ quan CSĐT – Công an huyện C đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 151 trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh P giám định tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Văn G và cơ chế hình thành vết thương.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 116/KLTTCT/TTPY ngày 04/7/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận:
- Các kết quả chính
- Vết sẹo lòng bàn tay phải: 02%
- Tại thời điểm giám định ngón I bàn tay phải còn sưng nề, tím, vận động gấp duỗi ngón tay đau nên Trung tâm pháp y chưa đánh giá được cứng khớp bàn ngón tay.
- Kết luận:
- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Văn G tại thời điểm giám định là 02% (hai phần trăm).
- Cơ chế hình thành hai vết sẹo lòng bàn tay phải: Do tác động của vật sắc gây nên.
Sau khi được thông báo nội dung kết luận giám định, bị cáo và Người bị hại nhất trí, không có ý kiến gì. Ngày 20/7/2023, Cơ quan CSĐT – Công an huyện C ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 06/QĐ-GĐBS, trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh P giám định tỷ lệ phần trăm tổn hại sức khỏe đối với ngón I bàn tay phải của Nguyễn Văn G nhưng bị hại anh Nguyễn Văn G không đi giám định. Ngày 21/7/2023, Cơ quan CSĐT – Công an huyện C thi hành quyết định dẫn giải đối với bị hại anh G nhưng bị hại anh G kiên quyết từ chối không đi giám định bổ sung.
Như vậy, tại giai đoạn điều tra, bị hại đã có đơn đề nghị yêu cầu giám định và Cơ quan CSĐT đã ra quyết định trưng cầu giám định tỉ lệ thương tích của bị hại. Sau khi có kết luận giám định, bị hại không có ý kiến gì. Sau đó, Cơ quan CSĐT đã ra quyết định trưng cầu giám định bổ sung và ra quyết định dẫn giải đối với bị hại Nguyễn Văn G nhưng bị hại Nguyễn Văn G không chấp hành. Tại phiên tòa, bị hại Nguyễn Văn G xác nhận vết thương do bị cáo gây ra cho bị hại đã có tiến triển theo chiều hướng tốt hơn. Do vậy, không có căn cứ để chấp nhận đề nghị giám định lại thương tích của bị hại.
[3.2] Về đề nghị tăng mức bồi thường thiệt hại.
Quá trình điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm, bị hại anh Nguyễn Văn G yêu cầu bị cáo T phải bồi thường các khoản: Chi phí trong quá trình nhập viện và điều trị tại Trung tâm y tế huyện C: 13.227.302 đồng; Tiền thuốc ngoài, dao mổ, đai, phụ kiện hỗ trợ khác: 5.000.000 đồng; C người chăm sóc 10 ngày và thời gian nghỉ tại nhà là 5.000.000 đồng; tiền thuê xe đi lại tại bệnh viện và đi lại làm việc với cơ quan công an để hỗ trợ điều tra: 2.000.000 đồng; T2 thuê xe đi V, tiền chụp X Q và kiểm tra sức khỏe tại bệnh viện tỉnh phục vụ công tác giám định vết thương: 2.000.000 đồng; Ngày nghỉ không đi làm, không hưởng lương, không có thu nhập là 15.000.000 đồng; T2 thuê xe ôm chở đi làm khi sức khỏe chưa ổn định vào tháng 6/2023 là 5.000.000 đồng; Bồi thường một lần ảnh hưởng đến sức khỏe cá nhân và di chứng về sau: 105.000.000.000 đồng; Tổng cộng là 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng).
Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, các hóa đơn chứng từ hợp lệ bị hại cung cấp để xác định tổng các khoản được chấp nhận là 26.997.302 đồng là đúng quy định pháp luật. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị hại không cung cấp được thêm tài liệu, chứng cứ nào mới chứng minh cho đề nghị tăng mức bồi thường thiệt hại của mình nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị hại.
[3.3] Về đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo.
Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo là người có nhân thân tốt, được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Ngoài ra, thiệt hại về sức khỏe của bị hại không lớn, theo kết luận giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của bị hại là 02%.
Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Nguyễn Anh T để xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ là phù hợp. Tại giai đoạn phúc thẩm, Người bị hại không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào mới để làm căn cứ tăng hình phạt đối với bị cáo nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của Người bị hại.
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ là phù hợp nên chấp nhận.
[5] Về án phí: Bị hại kháng cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại nếu Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên quyết định của bản án, quyết định sơ thẩm.
[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của người bị hại anh Nguyễn Văn G.
Giữ nguyên quyết định Bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2024/HS-ST ngày 03 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.
[2] Về tội danh, hình phạt.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 điều 134, điểm b, i, s khoản 1 điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội: “Cố ý gây thương tích”;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ.
Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện C nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Nguyễn Anh T cho UBND xã H, huyện C tỉnh Thọ giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
Buộc bị cáo Nguyễn Anh T phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 36 của Bộ luật hình sự. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng đối với bị cáo là không quá 04 giờ/01 ngày và không quá 05 ngày/01 tuần. Trong thời gian cải tạo không giam giữ, người bị kết án về cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự về cải tạo không giam giữ. Trường hợp bị cáo vắng mặt tại nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì áp dụng theo quy định tại Điều 100 Luật thi hành án hình sự.
Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
[3] Về trách nhiệm dân sự.
Căn cứ khoản 2 điều 48 Bộ luật hình sự; khoản 1 điều 584, điều 585, khoản 1 điều 586, điều 590 và điều 357, điều 468 Bộ luật dân sự; Điểm a khoản 2 Điều 2 Luật thi hành án dân sự:
Buộc bị cáo Nguyễn Anh T có nghĩa vụ phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn G tổng số tiền là 26.997.302 đồng (Hai mươi sáu triệu chín trăm chín mươi bảy nghìn ba trăm linh hai đồng), cụ thể gồm các khoản: Chi phí trong quá trình nhập viện và điều trị tại Trung tâm y tế huyện C: 13.227.302 đồng; Xe đưa đi lại tại bệnh viện và đi lại làm việc với cơ quan công an: 1.000.000 đồng; Tiền xe đưa đi V để chụp X Q và kiểm tra sức khỏe tại bệnh viện tỉnh phục vụ công tác giám định vết thương: 1.000.000 đồng; tiền mất thu nhập 10 ngày là 2.150.000 đồng; tiền công người chăm sóc người bị hại 10 ngày là 1.170.000 đồng; tiền bồi dưỡng sức khỏe: 1.250.000 đồng; Bồi thường tốn thất tinh thần: 7.200.000 đồng. Xác nhận bị cáo T đã tự nguyện bồi thường cho anh Nguyễn Văn G nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê với số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) ngày 15/11/2023 và 9.000.000 đồng (chín triệu đồng) ngày 28/12/2023, tổng cộng là 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng), buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho anh Nguyễn Văn G số tiền 14.997.302 đồng (Mười bốn triệu chín trăm chín mươi bảy nghìn ba trăm linh hai đồng).
Kể từ ngày anh G có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bị cáo T chậm trả số tiền trên thì còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời giam chậm trả theo mức lãi suất quy định tại điều 357, điều 468 Bộ luật dân sự, trừ trường hợp pháp luật quy định khác.
[4] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Anh T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 750.000 đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự trong vụ án hình sự. Tổng bị cáo phải chịu 950.000 đồng (Chín trăm năm mươi nghìn đồng).
Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Anh Nguyễn Văn G phải chịu án phí 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hà Giang |
Bản án số 23/2024/HS-PT ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về hình sự - cố ý gây thương tích
- Số bản án: 23/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Anh T phạm tội cố ý gây thương tích
