Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÙ NINH

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 23 - 9 - 2024

V/v tranh chấp hôn nhân gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Thanh Huyền

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Tuyết
  2. Ông Lâm Quang Tụng

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Ngọc Minh Châu- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Vương Thị Đàm Chuyên - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 74/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19A/2024/QĐXX-ST ngày 22 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2024/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị T, sinh năm 1989;

Địa chỉ: Khu F, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ.

(Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Bị đơn: Anh Hán Chí H2, sinh năm 1983;

Địa chỉ: Khu E, xã G, huyện P, tỉnh Phú Thọ.

(Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị T1 bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị T2 anh Hán Chí Hiếu yêu thương nhau tự nguyện và đăng ký kết hôn ngày 30/01/2020 tại UBND xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến tháng 7 năm 2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn không thể hòa hợp được, lý do mâu thuẫn là do anh H2 cờ bạc, rượu chè, nợ nần, dọa giết chị T. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc, không thể sống chung nên chị làm đơn xin ly hôn với anh Hiếu.

Về con chung: Chị Lê Thị T xác định vợ chồng có 01 con chung là cháu Hán Lê Thanh L, sinh ngày 17/12/2020. Khi ly hôn chị T đề nghị được nuôi con chung, anh Hán Chí H phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị T3 nguyện không yêu cầu.

Về tài sản chung: Chị T4 yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị T xác nhận vợ chồng có nợ chị Hoàng Thị D, sinh năm 1980, địa chỉ tại khu F, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng); nợ bà Hoàng Thị T5, sinh năm 1964, địa chỉ tại khu F, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) và 01 chiếc xe máy có giá 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng).

Ngày 30/7/2024, chị T làm đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về phần nợ chung, chị Hoàng Thị D và bà Hoàng Thị T5 không yêu cầu giải quyết về việc vay nợ nên Tòa án không xem xét giải quyết về nợ chung của chị T và anh H2.

Về công sức đóng góp: Chị T4 yêu cầu Tòa án giải quyết.

Phía bị đơn là anh Hán Chí H1 mặt: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Hiếu vắng mặt không có lý do. Ngày 14/6/2024, Tòa án tiến hành xác minh tại nơi cư trú của anh Hiếu được đại diện chính quyền địa phương tại xã G, huyện P cho biết: Anh Hán Chí H2 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã G, P, Phú Thọ hiện nay đang ở cùng nhà với bà T6, ông N (bố mẹ đẻ của anh H2) và con riêng của anh H2 tại xã G. Thời gian trước anh H2 ở tại nhà vợ là chị T tại xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Khoảng tháng 12 năm 2023, anh H2 về ở tại nhà bà T6, ông N nhưng không thấy ở cùng chị T. Anh H2 làm lao động tự do nên làm việc và đi về lúc nào khu dân cư cũng không nắm rõ.

Ngoài ra, ngày 02/8/2024, Tòa án tiến hành xác minh tại nơi anh H2 và chị T chung sống được đại diện chính quyền địa phương xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ cho biết: Chị Lê Thị T2 anh Hán Chí H2 kết hôn năm 2020, sau đó có về chung sống với bà Hoàng Thị T5 tại khu F, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Chị T và anh H2 có 01 con chung là cháu Hán Lê Thanh L, sinh ngày 17/12/2020. Đại diện khu dân cư cho biết quá trình chung sống, chị T và anh H2 phát sinh nhiều mâu thuẫn, cãi chửi nhau, anh H2 có dọa giết chị T và chị T có báo cáo với khu dân cư. Từ tháng 6 năm 2023, anh H2 không còn ở tại khu F, xã A nữa mà đã về quê ở xã G, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Còn chị T và cháu L vẫn ở tại khu F, xã A. Nay chị T xin ly hôn với anh H2 thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đồng thời, Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh tiến hành lấy lời khai của bà Hoàng Thị T7 mẹ đẻ của chị Lê Thị T. Bà cho biết chị T và anh H3 hôn năm 2020 sau đó có về chung sống tại nhà bà tại khu F, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống chị T và anh H4 01 con chung là cháu Hán Lê Thanh L, sinh ngày 17/12/2020. Từ khi kết hôn đến tháng 6 năm 2023 chị T và anh H2 phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi chửi nhau, anh H2 có dọa giết chị T. Mâu thuẫn đã được gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Đến tháng 6 năm 2023 anh H2 chửi láo và tự ý bỏ đi, không còn sống tại khu F, xã A nữa. Hiện nay chị T và cháu Lâm vẫn đang ở cùng bà tại khu F, xã A. Nay chị T xin ly hôn với anh H2 thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

  • Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự do vắng mặt không có lý do tại tất cả các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên tòa.

Về nội dung vụ án:

  • Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị T, xử cho chị Lê Thị T8 ly hôn với anh Hán Chí H2.
  • Về con chung: Giao cho chị T8 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 01 con chung là cháu Hán Lê Thanh L, sinh ngày 17/12/2020. Anh Hán Chí H phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị T3 nguyện không yêu cầu.
  • Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Ngày 30/7/2024, chị T làm đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về phần nợ chung và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết trong vụ án này.
  • Về án phí: Chị T9 chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xác nhận chị T đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0001219 ngày 14/5/2024 của Chi cục THADS huyện P. Đối với số tiền 1.150.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0001210 ngày 14/5/2024 của Chi cục THADS huyện P, chị T đã rút yêu cầu giải quyết về nợ chung do đó cần trả lại số tiền tạm ứng án phí này cho chị T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do bị đơn có nơi cư trú tại huyện P, tỉnh Phú Thọ nên Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét về sự vắng mặt của anh Hán Chí H2, Hội đồng xét xử thấy rằng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh H5 để làm việc, nhưng anh Hiếu vẫn vắng mặt, không đến Tòa án để làm việc. Chị T đã có đơn không tiến hành hòa giải cho nên Tòa án không tiến hành hòa giải được là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ngày 06/9/2024, Tòa án đưa vụ án ra xét xử đã tiến hành giao giấy báo trực tiếp tại nơi cư trú của anh H6 nhiên anh H1 mặt cho nên Tòa án đã tiến hành thủ tục niêm yết hợp lệ nhưng anh H7 vắng mặt tại phiên xét xử lần thứ nhất không có lý do nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa. Sau khi hoãn phiên tòa, đã niêm yết hợp lệ Quyết định hoãn phiên tòa tại nơi cư trú của anh H2. Tại phiên tòa hôm nay anh H1 mặt không có lý do, chị T có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Hán Chí H8 phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị T và anh H9 Chí Hiếu đăng ký kết hôn ngày 30/01/2020 tại UBND xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Trước khi kết hôn hai bên được tìm hiểu tự nguyện không ai bị ép buộc. Việc kết hôn giữa chị T và anh H10 đảm các quy định về điều kiện kết hôn và không thuộc trường hợp cấm kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, nên đó là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân theo lời trình bày của chị T là hai bên khác biệt về quan điểm sống và anh H11 bạc, rượu chè, nợ nần, dọa giết chị T. Còn anh H2 quá trình giải quyết vụ án tuy đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, không hợp tác làm việc, cũng không có động thái gì để cải thiện cuộc sống hôn nhân của vợ chồng, như vậy anh H12 thể hiện không cần mối quan hệ hôn nhân này nữa.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị T, Hội đồng xét xử thấy rằng: Giữa chị T2 anh H12 xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là theo lời trình bày của chị T10 hai bên khác biệt về quan điểm sống. Qua xác minh tại khu dân cư và gia đình cũng thể hiện chị T2 anh H4 nhiều mâu thuẫn, hai vợ chồng đã không còn gặp nhau và cũng không liên lạc với nhau. Như vậy, có thể khẳng định vợ chồng chị T và anh H4 mâu thuẫn. Xét yêu cầu xin ly hôn của chị T10 có căn cứ vì cuộc sống chung giữa chị T và anh H có hạnh phúc, mâu thuẫn đã ở mức trầm trọng, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần xử cho chị T8 ly hôn anh H8 phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Về con chung: Chị Lê Thị T11 định vợ chồng có 01 con chung là Hán Lê Thanh L, sinh ngày 17/12/2020 hiện nay đang ở cùng chị T.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, chị T12 được nuôi con chung và không yêu cầu anh H13 cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét yêu cầu xin được nuôi con của chị T10 chính đáng vì anh H có mặt tại Tòa án, không có quan điểm về việc nuôi con. Vì vậy cần giao con chung là cháu H9 Lê Thanh L, sinh ngày 17/12/2020 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Anh H2 không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T do chị T tự nguyện không yêu cầu.

- Về tài sản chung: Anh H2 vắng mặt không có quan điểm, chị T không đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết

- Về nợ chung: Anh H2 vắng mặt không có quan điểm và chị T có làm đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến nợ chung là chị Hoàng Thị D và bà Hoàng Thị T5 không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này và đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của chị T về nợ chung.

- Về công sức đóng góp: Anh H2 vắng mặt không có quan điểm và chị T xác định vợ chồng không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Vì yêu cầu ly hôn của chị T được chấp nhận nên chị Thắm phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Chị T rút một phần yêu cầu khởi kiện là nợ chung nên đình cần đình chỉ yêu cầu này của chị T, trả lại cho chị T số tiền 1.150.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0001210 ngày 14/5/2024 của Chi cục THADS huyện P.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Xử:

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện về nội dung yêu cầu giải quyết về nợ chung.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị T13: Cho chị Lê Thị T8 ly hôn với anh Hán Chí H2.
    • - Về con chung: Giao con chung là Hán Lê Thanh L, sinh ngày 17/12/2020 cho chị T13 trực tiếp nuôi dưỡng, anh H2 không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị T13 tự nguyện không yêu cầu.
    • Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
    • - Về tài sản chung, nợ chung, công sức: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  3. Về án phí: Chị Lê Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị T đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số BLTU/2023/0001209 ngày 14/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Trả lại cho chị T số tiền 1.150.000 đồng (Một triệu một trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số BLTU/2023/0001210 ngày 14/5/2024 của Chi cục THADS huyện P, tỉnh Phú Thọ.

Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ;
  • - Chi cục Thi hành án huyện Phù Ninh;
  • - UBND xã An Đạo, Phù Ninh, Phú Thọ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS- VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lý Thị Thanh Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2024/HNGĐ-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 23/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị T xin ly hôn anh H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger