|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 23/2024/DSST
Ngày: 16/5/2024
V/v: “Đòi lại tài sản, yêu cầu huỷ
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trúc Lâm;
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Chùm và ông Huỳnh Công Trí.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thúy An – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên toà: Ông Phan Văn Công - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 15 và 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 47/2023/DSST ngày 07/6/2023 về việc “Đòi lại tài sản, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2024/QĐXXST-DS ngày 12/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa ngày 26/4/2024 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Vợ chồng ông Bùi Văn P – sinh năm 1946 (tên tiếng Anh: BUI PHONG VAN, Passport No A09938896), bà Nguyễn Thị L – sinh năm 1954 (tên tiếng Anh: BUI LANG THỊ NGUYEN, Passport No A), địa chỉ: B Redfish Island M Hoa Kỳ; có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Danh T – sinh năm 1958, địa chỉ: G T, thị trấn C, huyện T, tỉnh Phú Yên; có mặt.
-
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L1 – sinh năm 1954, địa chỉ: Khu phố D, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Thanh M – sinh năm 1959, địa chỉ: C N, phường G, T, Phú Yên; có mặt.
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Vợ chồng ông Bùi Văn L2 – sinh năm 1968, bà Hồ Thị Kim L3 – sinh năm 1967, địa chỉ: D Redfish Reef DR B Hoa Kỳ. Ông L2 có mặt; bà L3 vắng mặt có yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Bà Bùi Hồng L4 – sinh năm 1989, địa chỉ: C Gulf Winds DR B Hoa Kỳ; vắng mặt.
- UBND thị xã S; vắng mặt.
- UBND phường X, thị xã S; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung, các lời khai có tại hồ sơ và tại phiên tòa đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:
Năm 2006-2008, khi vợ chồng ông P và bà L đang định cư tại Hoa Kỳ có gửi tiền về Việt Nam nhờ vợ chồng em trai là ông L2, bà L3 và cháu là Bùi Hồng L4 (con ruột ông L2, bà L3) đứng tên mua giúp hai thửa đất tại khu phố D, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Sau khi mua đất, vợ chồng ông P, bà L gửi tiền cho Bùi Văn L2 đứng ra xây dựng ngôi nhà trên hai thửa đất nêu trên. Tổng cộng số tiền mà vợ chồng ông P gửi về cho ông L2 nhờ mua đất, xây dựng nhà ở khoảng 80.000 USD đến 90.000 USD. Nhà, đất được UBND thị xã S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (GCN) số AI 478118 ngày 04/4/2008 đứng tên Bùi Văn L2, Hồ Thị Kim L3 thửa đất số L2-09, tờ bản đồ QHPL (tờ số 13/2905 bản đồ 299TTg), tại địa chỉ: khu phố D, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên, diện tích 100m², loại đất ở đô thị, tài sản gắn liền với đất có nhà ở, 2 tầng, diện tích xây dựng 88m², loại nhà BTCT; GCN số BC 158763 ngày 08/6/2011 đứng tên Bùi Hồng L4 thửa đất số L2-10, tờ bản đồ số 13/2905 bản đồ 299TTg, tại địa chỉ: khu phố D, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên, diện tích 100m², loại đất ở đô thị. Mục đích gửi tiền nhờ mua đất, xây dựng nhà ở là để mỗi khi về Việt Nam thì vợ chồng ông P bà L và các con có chỗ ở.
Đến năm 2011, vợ chồng ông L2, bà L3 và cháu L4 có dự định xuất cảnh sang Hoa Kỳ để định cư nên có trao đổi với vợ chồng ông P về việc nhờ người khác trông coi nhà, đất; khi đó vợ chồng ông P trao đổi với bà L1 (là chị ruột của bà L) thì bà L1 đồng ý thỏa thuận trông coi nhà, đất với thù lao 1.000 USD/năm; theo đó vợ chồng ông L2, bà L3 và cháu L4 ký hợp đồng chuyển nhượng lại nhà, đất cho bà L1 đứng tên hộ để trông coi nhà, đất. Hàng năm vợ chồng ông P đều gửi tiền trả chi phí trông coi cho bà L1 (1.000 USD/năm).
Vì chính sách pháp luật thời điểm này không cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam nên vợ chồng ông P mới nhờ vợ chồng ông L2, bà L3 và cháu L4 đứng tên hộ. Đến khi vợ chồng ông L2, bà L3 và cháu L4 xuất cảnh sang Hoa Kỳ thì mới nhờ bà L1 đứng tên hộ. Chứ chưa hề có ý định tặng cho nhà, đất cho bà L1.
Hiện trạng, ngôi nhà vẫn không có gì thay đổi so với thời điểm xây dựng, trong thời gian trông coi nhà thì bà L1 có yêu cầu vợ chồng ông P gửi tiền về cho bà L1 sơn sửa một số hư hỏng lặt vặt. Toàn bộ nội thất trong nhà đều do vợ chồng ông P gửi tiền về nhờ bà L1 mua, trang bị.
Nay vợ chồng ông P có nhu cầu về sinh sống, làm việc tại Việt Nam nên yêu cầu bà L1 giao lại nhà, đất và sang tên trên GCN nhưng bà L1 không đồng ý. Qua nhiều lần nói chuyện với nhau thì bà L1 đưa ra nhiều lý do nhằm không trả lại nhà, đất; thực tế bà L1 tìm mọi cách để ép vợ chồng ông P bán lại nhà với giá rẻ hoặc phải trả cho bà L1 số tiền 02-03 tỷ đồng thì bà L1 mới chịu ký giấy sang tên nhà, đất lại cho vợ chồng ông P.
Do đó, vợ chồng ông P khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng, sở hữu nhà, đất cho vợ chồng ông P; Tuyên bố các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông L2 với bà Nguyễn Thị L1 và giữa bà Bùi Hồng L4 với bà Nguyễn Thị L1 vô hiệu; Hủy 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BB 779473 và số BB 779006 được UBND thị xã S cấp ngày 09/8/2011 đứng tên bà Nguyễn Thị L1; Buộc bà L1 giao trả lại nhà (bao gồm cả công trình phụ, tường rào, cổng, sân, chái), đất cho vợ chồng ông P quản lý, sử dụng, sở hữu.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:
Năm 2007-2008, vợ chồng em gái bà L1 là Nguyễn Thị L, Bùi Văn P có gửi tiền về cho Bùi Văn L2 (em ruột ông P) trực tiếp nhận, mua đất, xây dựng nhà, đứng tên trên GCN. Sau khi xây dựng nhà xong thì bảo bà L1 đến ở để trông coi nhà và thờ cúng ông bà tổ tiên cho đến nay. Khi chuyển đến ở thì vợ chồng ông P, bà L có nói tặng cho luôn nhà, đất cho bà L1, chứ không phải cho ở nhờ. Vì vậy, năm 2011 vợ chồng ông L2, bà L3 và cháu L4 làm thủ tục sang tên toàn bộ nhà, đất cho bà L1 quản lý, sử dụng và thờ cúng ông bà tổ tiên theo yêu cầu của vợ chồng ông P, bà L. Nay, vợ chồng ông P khởi kiện đòi lại nhà, đất thì bà L1 không đồng ý, vì vợ chồng ông P đã tặng cho, sang tên nhà, đất cho bà L1 nên đã thuộc quyền sử dụng, sở hữu của bà L1.
Ngoài ra, có lời khai bà L1 đề nghị Tòa giải quyết vụ án theo quy định pháp luật. Đồng thời, bà L1 đề nghị khi Tòa án giải quyết phải bảo đảm quyền lợi về chỗ ở cho bà L1; tính công sức quản lý, giữ gìn, bảo quản, tôn tạo nhà, đất trong nhiều năm qua; xác định số tiền vợ chồng ông P gửi về mua đất, xây dựng nhà; xác định nơi thờ cúng ông bà tổ tiên và trách nhiệm thờ cúng.
Theo lời khai có tại hồ sơ vụ án, vợ chồng ông L2, bà L3 trình bày:
Khoảng năm 2007-2008, vợ chồng ông P, bà L là người Việt Nam định cư tại Hoa Kỳ có gửi tiền về Việt Nam cho ông L2 (ông L2 là em ruột ông P), nhờ ông L2 mua đất, xây dựng nhà tại D, X, Sông C, Phú Yên. Mục đích để khi nào vợ chồng ông P về Việt Nam thì có nhà để ở. Nên ông L2 đã đứng ra mua đất, xây dựng nhà ở cho vợ chồng ông P tại thửa đất L2-09 và L2-10 tờ bản đồ QHPL tại D, X, Sông C, Phú Yên. Đã được UBND thị xã S cấp 02 GCN đứng tên vợ chồng ông L2, bà L3 và Bùi Hồng L4.
Toàn bộ số tiền mua đất, xây dựng nhà đều do vợ chồng ông P, bà L bỏ ra, ông L2 chỉ đứng đại diện mua đất, xây dựng nhà giúp cho vợ chồng ông P, bà L. Vì tại thời điểm đó một mình vợ chồng ông L2, bà L3 không thể đứng tên mua 02 thửa đất, nên mới để con gái là Bùi Hồng L4 đứng tên hộ 01 thửa đất.
Năm 2011, vợ chồng ông L2, bà L3 và con gái Bùi Hồng L4 có nhu cầu xuất cảnh sang Hoa Kỳ định cư nên mới trao đổi với vợ chồng ông P để nhờ người khác đứng tên hộ; khi đó vợ chồng ông P mới nhờ bà L1 (chị ruột của bà Nguyễn Thị L) đứng tên hộ 02 thửa đất và trông coi nhà, có hưởng thù lao. Theo đó vợ chồng ông L2, bà L3 ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất L2-09 cho bà L1; còn Bùi Hồng L4 thì ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất L2-10 cho bà L1. Thực chất chỉ là 02 hợp đồng chuyển nhượng giả tạo, nhờ bà L1 đứng tên hộ, chứ không có giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Giá trị chuyển nhượng ghi trên các hợp đồng chỉ 40.000.000đ là giả tạo, không có việc giao nhận tiền.
Vợ chồng ông L2, bà L3 khẳng định nhà, đất của vợ chồng ông P; việc bà L1 đứng tên chỉ là đứng tên hộ và trông coi nhà cho vợ chồng ông P để hưởng thù lao. Vợ chồng ông L2 bà L3 không có yêu cầu gì trong vụ án này. Hiện nay vợ chồng ông L2 bà L3 đang sinh sống, làm việc tại Hoa Kỳ, không có điều kiện về Việt Nam nên đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
UBND phường X, UBND thị xã S không có văn bản trình bày ý kiến.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
- Bị đơn thừa nhận nhà và đất là của vợ chồng nguyên đơn bỏ tiền ra gây dựng, nhờ vợ chồng ông L2 mua đất và xây dựng nhà ở, khi vợ chồng ông L2, bà L3 và bà L4 xuất cảnh sang Hoa Kỳ có nhờ bị đơn đứng tên hộ trên giấy tờ nhà và đất. Nay Bị đơn không chấp nhận trả lại nhà và đất cho nguyên đơn, do có phần công sức bảo quản, tôn tạo, sửa chữa nhà của bị đơn làm tăng giá trị nhà, đất nên nguyên đơn phải tính phần này cho bị đơn.
- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: Thừa nhận có sự việc bị đơn đứng tên giùm cho vợ chồng nguyên đơn đối nhà và đất đang có tranh chấp. Đề nghị Tòa áp dụng Điều 186 Luật đất đai; Án lệ số 02/2016; Biên bản định giá ngày 05/5/2023, tính giá theo quy định Nhà nước; đồng thời tính công sức đóng góp của bị đơn trong việc sửa chữa nhà ở, trông giữ nhà làm tăng giá trị nhà như hiện nay, để bị đơn nhận nhà và đất, thanh toán lại tiền chênh lệch cho nguyên đơn. Đối với số tiền USD hàng năm, nguyên đơn gửi về cho bị đơn là nguyên đơn tự nguyện cho bị đơn chứ không phải tiền công trông giữ nhà cho nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Vụ án đã được Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên thụ lý đúng thẩm quyền, còn thời hiệu khởi kiện, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp và tư cách tham gia tố tụng. Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký đã tiến hành tố tụng đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự. Đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền của mình theo quy định pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; công nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở cho nguyên đơn; tuyên bố 02 hợp đồng chuyển nhượng là vô hiệu do giả tạo; hủy 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đứng tên bà Nguyễn Thị L1; buộc bà L1 giao trả nhà, đất cho nguyên đơn quản lý, sử dụng, sở hữu; nguyên đơn được quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Buộc nguyên đơn phải thanh toán cho bị đơn công sức đóng góp của bị đơn trong việc sửa chữa nhà ở, trông giữ nhà với mức 10% tổng giá trị nhà và đất theo Biên bản định giá ngày 05/5/2023. Về án phí, chi phí tố tụng: Đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của các đương sự, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn có đơn khởi kiện đòi lại tài sản và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, căn cứ khoản 4 Điều 34, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 4 Điều 32 Luật tố tụng hành chính thì thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
[2] Về thủ tục tố tụng: Các đương sự vắng mặt tại phiên toà nhưng có người đại diện theo uỷ quyền, đã được triệu tập đến lần thứ hai, ủy thác tư pháp theo quy định pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 228, Điều 477 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[3] Về nội dung:
[3.1] Xét yêu cầu công nhận nhà, đất thuộc quyền sử dụng, sở hữu của nguyên đơn; buộc bị đơn giao trả lại nhà, đất cho nguyên đơn:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời khai của vợ chồng ông P, bà L, vợ chồng ông L2, bà L3, lời khai của những người làm chứng là người sinh sống gần ngôi nhà tranh chấp, người trong dòng họ của nguyên đơn, bị đơn, người làm thầu xây dựng và sự thừa nhận của bị đơn bà L1 tại phiên tòa, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định: Ngôi nhà gắn liền 02 thửa đất L2-09 và L2-10, tờ bản đồ QHPL (tờ số 13/2905 bản đồ 299TTg), tại D, X, Sông C, Phú Yên do vợ chồng ông P, bà L bỏ tiền ra tạo lập; cụ thể: vợ chồng ông P, bà L là người Việt Nam định cư tại Hoa Kỳ, do có nhu cầu nhà ở tại Việt Nam mỗi khi về nước, nên vào năm 2007-2008 vợ chồng ông P, bà L có gửi tiền về Việt Nam cho ông L2 (em ruột ông P) đại diện mua đất, xây dựng nhà ở giúp cho vợ chồng ông P, bà L. Vì thời điểm này pháp luật chưa cho phép người Việt Nam định cư ở nước ngoài đứng tên sử dụng đất, sở hữu nhà ở riêng lẻ tại Việt Nam nên vợ chồng ông P, bà L mới nhờ vợ chồng ông L2 bà L3 và cháu L4 đứng tên trên GCN. Đến năm 2011, do vợ chồng ông L2, bà L3 và cháu L4 chuẩn bị sang Hoa Kỳ định cư nên có trao đổi với vợ chồng ông P để tìm người khác trông coi nhà và đứng tên hộ trên GCN. Khi đó vợ chồng ông P có trao đổi với bà L1 (là chị vợ ông P) và đi đến thống nhất thỏa thuận bà L1 sẽ chuyển đến ở để trông coi nhà cho vợ chồng ông P và vợ chồng ông P sẽ trả chi phí trông coi nhà cho bà L1 hàng năm; theo đó vợ chồng ông L2, bà L3 và cháu L4 sang tên nhà, đất để bà L1 đứng tên hộ cho vợ chồng ông P. Quá trình thực hiện thỏa thuận, hàng năm vợ chồng ông P, bà L đã thanh toán tiền thù lao thuê bà L1 trông coi nhà, đứng tên hộ trên GCN. Cụ thể là, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L đã cung cấp 14 giấy tờ xác nhận (từ năm 2009 đến năm 2022) bà L 14 lần gửi tiền từ Hoa Kỳ về Việt Nam cho bị đơn bà Nguyễn Thị L1, số tiền mỗi lần gửi từ 1000 USD đến 1600 USD. Tổng giá trị được quy đổi ra tiền đồng Việt Nam tại từng thời điểm gửi hàng năm là 376.168.000 đồng (có Bảng kê chi tiết kèm theo Bản án này). Tài liệu này mặc dù chưa được hợp pháp hóa lãnh sự nhưng phù hợp với lời khai của vợ chồng ông P, bà L, vợ chồng ông L2, bà L3, lời khai của những người làm chứng và lời thừa nhận của bị đơn nên có đủ cơ sở khẳng định thực tế bà L1 được vợ chồng ông P thuê trông coi nhà, trả thù lao từ 1.000 đến 1.600 USD/năm và chi phí sơn sửa nhà lặt vặt hàng năm do vợ chồng ông P gửi cho bà L1.
Vì vậy, nay nguyên đơn, tuy định cư ở Mỹ nhưng vẫn còn quốc tịch Việt Nam và có yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở cho nguyên đơn, buộc bị đơn bà Nguyễn Thị L1 là người được thuê trông coi nhà phải giao trả nhà, đất cho nguyên đơn quản lý, sử dụng, sở hữu là có căn cứ chấp nhận.
[3.2] Xét yêu cầu tuyên bố 02 hợp đồng chuyển nhượng là vô hiệu:
Theo phân tích tại Mục [3.1] nêu trên thì tài sản thuộc sở hữu của vợ chồng ông P, việc vợ chồng ông L2, bà L3 đứng tên trên GCN chỉ là đứng tên hộ cho vợ chồng ông P; giao dịch chuyển nhượng nhà, đất giữa vợ chồng ông L2, bà L3 với bà L1 và giữa bà L4 với bà L1 là giả tạo, chỉ nhằm để bà L1 đứng tên thay cho vợ chồng ông P. Do đó, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa ông Bùi Văn L2, bà Hồ Thị Kim L3 với bà Nguyễn Thị L1, thửa đất số L2-09 và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa bà Bùi Hồng L4 với bà Nguyễn Thị L1, thửa đất số L2-10 đều vô hiệu do giả tạo.
Xử lý hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Do 02 hợp đồng giả tạo chỉ nhằm để bà L1 đứng tên giúp cho vợ chồng ông P trên GCN, chứ không có việc chuyển nhượng, thanh toán. Bà L1 đang quản lý nhà và đất nên cần buộc bà L1 giao trả lại đối tượng của 02 hợp đồng chuyển nhượng là phù hợp.
[3.3] Xét yêu cầu hủy GCN: Do hợp đồng chuyển nhượng bị vô hiệu do giả tạo nên cần phải hủy 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BB 779473 và số BB 779006 được UBND thị xã S cấp ngày 09/8/2011 đứng tên bà Nguyễn Thị L1 để cấp lại theo quyết định của bản án này.
Đối với GCN số AI 478118 ngày 04/4/2008 đứng tên Bùi Văn L2, Hồ Thị Kim L3 và GCN số BC 158763 ngày 08/6/2011 đứng tên Bùi Hồng L4 đã được Nhà nước thu hồi theo quy định pháp luật khi cấp mới GCN cho bà Nguyễn Thị L1, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3.4] Xét yêu cầu tính công sức bà L1 đã quản lý, giữ gìn, bảo quản, tôn tạo nhà, đất: Theo phân tích tại M [3.1] thì bị đơn bà Nguyễn Thị L1 được vợ chồng ông P thuê trông coi nhà, đất và trả thù lao từ 1.000 đến 1.600 USD/năm. Xét, vợ chồng ông L2, bà L3 là người có công lớn trong việc nhận chuyển nhượng đất, xây dựng nhà, tạo thành khối tài sản, tuy nhiên tại phiên tòa và quá trình giải quyết vụ án vợ chồng ông L2, bà L3 không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử miễn xét. Đối với bà L1, chỉ có một phần nhỏ công sức trong việc trông coi nhà và đã được nguyên đơn trả công hàng năm, nên để đảm bảo quyền lợi cho tất cả các bên, Hội đồng xét xử chấp nhận phần công sức của bà L1 với mức 10% như Đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, tuy nhiên cần phải khấu trừ số tiền bà đã nhận hàng năm, được quy đổi tỷ giá USD sang tiền Việt Nam đồng, tại từng thời điểm nguyên đơn chuyển tiền. Cụ thể: Theo Biên bản định giá ngày 05/5/2023, giá trị căn nhà và đất là 4.688.621.000 đồng, phần công sức 10% của bà L1 là 468.862.000 đồng, khấu trừ số tiền bà L1 đã nhận 376.168.000 đồng; còn lại 92.694.000 đồng, cần buộc nguyên đơn phải trả cho bị đơn.
[3.5] Xét bà L1 có ý kiến khi Tòa án giải quyết vụ án phải bảo đảm quyền lợi về chỗ ở cho bà L1; tính công sức quản lý, giữ gìn, bảo quản, tôn tạo nhà, đất trong nhiều năm qua; xác định số tiền vợ chồng ông P gửi về mua đất, xây dựng nhà; xác định nơi thờ cúng ông bà tổ tiên và trách nhiệm thờ cúng.
Theo tài liệu có tại hồ sơ vụ án thì ngoài 02 thửa đất tranh chấp, bà L1 còn đứng tên sử dụng thửa đất số L4-27, tờ bản đồ số 13/2905-QHPL tại D, X, Sông C, Phú Yên, diện tích 110m² đất ở tại đô thị. Mặt khác, như phân tích tại Mục [3.1] thì bà L1 được thuê trông coi nhà, chỉ đứng tên hộ cho vợ chồng ông P; nay vợ chồng ông P là chủ sở hữu yêu cầu giao trả lại nhà thì lẽ ra bà L1 phải tự chuẩn bị chỗ ở cho mình vì từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến nay đã hơn 11 tháng. Việc bà L1 yêu cầu giải quyết về chỗ ở là không có cơ sở để chấp nhận.
Việc bà L1 đề nghị xác định số tiền vợ chồng ông P gửi cho ông L2 để nhờ mua đất, xây dựng nhà ở là không cần thiết, bởi bị đơn bà L1 đã thừa nhận nhà, đất do vợ chồng ông P bỏ tiền ra nhờ ông L2 mua đất, xây dựng nhà và đứng tên hộ cho vợ chồng ông P.
Ngoài ra, bà L1 cho rằng khi giải quyết vụ án này phải xem xét việc thờ cúng ông bà tổ tiên, người có trách nhiệm thờ cúng; tuy nhiên Hội đồng xét xử thấy rằng đây là vụ án đòi lại tài sản do nguyên đơn vợ chồng ông P tạo lập, không phải tranh chấp di sản dùng vào việc thờ cúng, các bên cũng không tranh chấp về vấn đề này nên ý kiến của bà L1 không thuộc phạm vi xem xét giải quyết trong vụ án. Bà L1 có thể thờ cúng ông bà tổ tiên theo truyền thống văn hóa, phong tục tập quán của địa phương.
Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ pháp luật, phù hợp đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về chi phí tố tụng:
Về lệ phí ủy thác tư pháp: Nguyên đơn vợ chồng ông P, bà L phải chịu 400.000đ lệ phí ủy thác tư pháp, đã nộp đủ.
Chi phí ủy thác tư pháp 02 lần là 380 USD (tương đương 9.673.660 đồng); chi phí dịch thuật lần một là 950.000 đồng, lần hai là 3.000.000 đồng. Tổng cộng: 13.623.660 đồng, Nguyên đơn và bị đơn mỗi bên chịu ½ là 6.811.830 đồng. Nguyên đơn đã nộp tạm ứng nên bị đơn phải thanh toán lại cho nguyên đơn 6.811.830 đồng.
Chi phí xem xét thẩm định, đo đạc, định giá tài sản, tổng cộng là 8.714.000 đồng. Nguyên đơn, bị đơn phải chịu mỗi bên ½; nguyên đơn đã nộp tạm ứng nên bị đơn phải thanh toán lại cho nguyên đơn 4.357.000 đồng.
[5] Về án phí: Nguyên đơn, bị đơn đều là người cao tuổi nên được miễn án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 34, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 153, 157, 165, 228, 266, 477 và Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, 127, 129, 137 và Điều 170 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 221 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 95, Điều 99 Luật đất đai năm 2013; Điều 12, 26, 27, 44 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vợ chồng ông Bùi Văn P, bà Nguyễn Thị L.
- Công nhận ngôi nhà (bao gồm cả công trình phụ, tường rào, cổng, sân, chái) gắn liền thửa đất số L2-09 và L2-10, tờ bản đồ QHPL (tờ số 13/2905 bản đồ 299TTg), tại khu phố D, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên thuộc quyền sử dụng, sở hữu của nguyên đơn vợ chồng ông Bùi Văn P, bà Nguyễn Thị L.
- Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị L1 giao trả ngôi nhà (bao gồm cả công trình phụ, tường rào, cổng, sân, chái) gắn liền quyền sử dụng thửa đất số L2-09 và L2-10, tờ bản đồ QHPL (tờ số 13/2905 bản đồ 299TTg), tại khu phố D, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên cho nguyên đơn vợ chồng ông Bùi Văn P, bà Nguyễn Thị L quản lý, sử dụng, sở hữu. (Nhà, đất được ghi nhận cụ thể tại M đo đạc hiện trạng số 33-2023 được đính kèm theo bản án này).
- Buộc nguyên đơn vợ chồng ông Bùi Văn P, bà Nguyễn Thị L trả cho bị đơn bà Nguyễn Thị L1 số tiền 92.694.000 (Chín mươi hai triệu sáu trăm chín mươi bốn nghìn) đồng.
- Tuyên bố:
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa ông Bùi Văn L2, bà Hồ Thị Kim L3 với bà Nguyễn Thị L1, thửa đất số L2-09, tờ bản đồ QHPL, tại địa chỉ khu phố D, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên, diện tích 100m² đất ở đô thị, nhà ở 02 tầng, diện tích xây dựng 88m², loại nhà BTCT được UBND phường X chứng thực ngày 06/7/2011 là vô hiệu do giả tạo.
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa bà Bùi Hồng L4 với bà Nguyễn Thị L1, thửa đất số L2-10, tờ bản đồ số 13/2905, tại địa chỉ khu phố D, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên, diện tích 100m² đất ở đô thị được UBND phường X chứng thực ngày 06/7/2011 là vô hiệu do giả tạo.
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BB 779473 được Ủy ban nhân dân thị xã S cấp ngày 09/8/2011 đứng tên bà Nguyễn Thị L1 – sinh năm 1954, địa chỉ: khu phố D, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên, thửa đất số L2-09, tờ bản đồ QHPL, tại địa chỉ khu phố D, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên, diện tích 100m² đất ở đô thị.
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BB 779006 được Ủy ban nhân dân thị xã S cấp ngày 09/8/2011 đứng tên bà Nguyễn Thị L1 – sinh năm 1954, địa chỉ: khu phố D, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên, thửa đất số L2-10, tờ bản đồ QHPL, tại địa chỉ khu phố D, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên, diện tích 100m² đất ở đô thị.
- Nguyên đơn vợ chồng ông Bùi Văn P, bà Nguyễn Thị L được quyền liên hệ các cơ quan có thẩm quyền để kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với nhà, đất nêu trên.
- Về án phí: Hoàn trả cho vợ chồng ông Bùi Văn P, bà Nguyễn Thị L số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 8293 ngày 08/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên.
- Về lệ phí ủy thác tư pháp: Nguyên đơn vợ chồng ông P, bà L phải chịu 400.000đ lệ phí ủy thác tư pháp, được khấu trừ 200.000đ tạm ứng đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003577 ngày 15/9/2023 và 200.000đ tạm ứng đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000485 ngày 06/7/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên; đã nộp đủ.
- Về chi phí ủy thác tư pháp và dịch thuật tổng cộng là: 13.623.660 đồng, Nguyên đơn và bị đơn mỗi bên chịu ½ là 6.811.830 đồng. Nguyên đơn đã nộp tạm ứng đủ nên bị đơn phải thanh toán lại cho nguyên đơn số tiền 6.811.830 (Sáu triệu tám trăm mười một nghìn tám trăm ba mươi) đồng.
- Về chi phí xem xét thẩm định, đo đạc, định giá tài sản, tổng cộng là: 8.714.000 đồng. Nguyên đơn, bị đơn phải chịu mỗi bên ½; nguyên đơn đã nộp tạm ứng đủ nên bị đơn phải thanh toán lại cho nguyên đơn 4.357.000 (Bốn triệu ba trăm năm mươi bảy nghìn) đồng.
- Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai. Đương sự cư trú ở nước ngoài không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án là 01 tháng, kể từ ngày bản án, quyết định được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án, quyết định được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Trúc Lâm |
Bản án số 23/2024/DSST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về đòi lại tài sản, yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 23/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: Đòi lại tài sản, yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đòi lại tài sản, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giữa ông Bùi Văn P và bà Nguyễn Thị L
