TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG Bản án số: 23/2024/DS-ST Ngày: 31-5-2024 V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phí Thị Phương Nhung.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Hoàng và ông Nguyễn Thanh Thuần.
Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Cẩm Tiên, là Thư ký Toà án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Chi, Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Tịnh Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 119/2023/TLST-DS ngày 05 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2024/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 48/2024/QĐ-ST ngày 15 tháng 5 năm 2024, giữa:
Nguyên đơn: Bà Neàng Sa V, sinh năm 1981; nơi cư trú: tổ E, ấp A, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang; (có mặt).
Bị đơn: Bà Neàng Sa R, sinh năm 1983 và ông Chau C, sinh năm 1980; cùng cư trú: tổ B, ấp A, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang; (bà R vắng mặt, ông C có mặt).
NHẬN THẤY:
Theo đơn khởi kiện ngày 27-6-2023, đơn sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện ngày 28-8-2023 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Neàng Sa V (sau đây gọi tắt là bà V hoặc nguyên đơn) trình bày: Bà V có tham gia 01 dây hụi do bà Neàng Sa R làm chủ, loại hụi hoa hồng. Đến kỳ mở hụi, hụi viên vào mở giá hụi cao nhất thì được lĩnh hụi. Chủ hụi có trách nhiệm thu tiền các hụi viên khác giao cho hụi viên được lĩnh hụi và chủ hụi được hưởng hoa hồng; do quen biết nên việc chơi hụi giữa các bên không có lập danh sách, tuy nhiên những người tham gia chơi hụi cùng như Huỳnh Thị Thu T, Neàng S và một số người khác có biết sự việc. Cụ thể:
Dây hụi 1.000.000 đồng/tháng, mở ngày 09-7-2022, hụi 30 ngày khui một lần, hụi chưa kết thúc, gồm 26 phần, bà V tham gia 05 phần, hụi khui được 09 lần thì vợ chồng Neàng Sa R tuyên bố bể hụi, ngưng mở hụi. Tổng số tiền mà bà V đã góp hụi là 31.500.000 đồng. Nếu tính tiền lãi hụi mỗi tháng, tổng số tiền hụi mà bà Neàng Sa R còn nợ là 45.000.000 đồng.
Do bà Neàng Sa R và ông Chau C là vợ chồng, hôn nhân vẫn tồn tại và bà Neàng Sa R mở hụi lấy lợi nhuận phục vụ sinh hoạt gia đình của bà Neàng Sa R, ông Chau C nên bà V yêu cầu bà Neàng Sa R, ông Chau C cùng có trách nhiệm liên đới trả cho bà V số tiền hụi còn nợ 45.000.000 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, vào ngày 11-01-2024, bà V rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu đối với tiền lãi hụi 13.500.000 đồng; chỉ yêu cầu bà Neàng Sa R, ông Chau C cùng có trách nhiệm liên đới trả tiền vốn 31.500.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện là: danh sách hội viên (bản photo); đơn tường trình của bà Neàng Sa V ngày 27-6-2023 (bản chính); bản tự khai của bà Neàng Sa V ngày 27-6-2023 (bản chính).
Theo lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Chau C trình bày: Ông Chau C với bà Neàng Sa R là vợ chồng, bà Neàng Sa R cho tiền góp, làm chủ hụi ở địa phương đã lâu và không có nghề nghiệp nào khác, ông Chau C có nhiều lần chở bà Neàng Sa R đi thu tiền của người dân, bà Neàng Sa R là người giữ tiền lo chi phí sinh hoạt hằng ngày, chi phí nuôi các con ăn học và mua sắm, tạo lập tài sản chung trong gia đình. Vì tình nghĩa vợ chồng, ông Chau C đồng ý nhận trách nhiệm trả nợ hụi cùng bà Neàng Sa R với điều kiện khi nào các con ăn học thành tài, có công ăn việc làm ổn định, bà Neàng Sa R trở về có lời khai xác định số tiền nợ hụi từng người là bao nhiêu thì ông Chau C đồng ý cùng bà Neàng Sa R trả nợ hụi.
Bà Neàng Sa R đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.
Tại phiên tòa,
- Nguyên đơn trình bày ý kiến, yêu cầu như đã cung cấp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và xác định không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để cung cấp thêm. Bà V tự nguyện rút lại yêu cầu đối với số tiền 13.500.000đồng; chỉ yêu cầu bà Neàng Sa R, ông Chau C cùng có trách nhiệm liên đới trả tiền vốn 31.500.000 đồng của dây hụi nêu trên, không yêu cầu trả lãi.
- Ông Chau C trình bày ý kiến, yêu cầu như đã cung cấp trong giai giai đoạn chuẩn bị xét xử và xác định không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để cung cấp thêm. Ông Chau C xác định các biên bản làm việc tại Tòa án ông đều có đọc lại trước khi ký tên. Vì tình nghĩa vợ chồng, ông Chau C đồng ý nhận trách nhiệm trả nợ hụi cùng bà Neàng Sa R với điều kiện khi nào các con ăn học thành tài, có công ăn việc làm ổn định, bà Neàng Sa R trở về có lời khai xác định số tiền nợ hụi từng người là bao nhiêu thì ông Chau C đồng ý cùng bà Neàng Sa R trả nợ hụi.
- Ý kiến Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn cơ bản đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 71, 72 và 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn bà Neàng Sa R đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Neàng Sa R là phù hợp với quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 280, 288, 471 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 15, 18 và Điều 25 Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Neàng Sa V, buộc bị đơn bà Neàng Sa R, ông Chau C cùng có trách nhiệm liên đới trả cho bà V số tiền 31.500.000 đồng; đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện bà V đã rút đối với số tiền 13.500.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
* Về tố tụng:
- [1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Neàng Sa V khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Neàng Sa R, ông Chau C liên đới cùng có trách nhiệm trả nợ hụi. Bà Neàng Sa R, ông Chau C đang cư trú trên địa bàn thị xã T nên yêu cầu kiện của bà V thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [2] Về sự vắng mặt của đương sự: Trước khi phiên tòa được mở, bà Neàng Sa R đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Cho nên, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Neàng Sa R theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [3] Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bà V tự nguyện rút lại một phần yêu cầu khởi kiện với số tiền 13.500.000 đồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện đã rút theo Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không có yêu cầu phản tố trong vụ án nên Hội đồng xét xử chỉ xem xét yêu cầu của nguyên đơn về yêu cầu bà Neàng Sa R, ông Chau C cùng có trách nhiệm liên đới trả số tiền 31.500.000 đồng, không yêu cầu trả lãi theo khoản 1 Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự.
* Về nội dung:
- [3] Về việc xác lập và thực hiện hợp đồng:
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà V khai: bà Neàng Sa R có làm chủ 01 dây hụi, cụ thể: dây hụi 1.000.000 đồng/tháng, mở hụi ngày 09-7-2022, hụi chưa kết thúc, gồm 26 phần, bà V tham gia 05 phần, góp hụi đầy đủ đến ngày 09-4-2023 (được 09 lần) thì bà Neàng Sa R tuyên bố bể hụi, ngưng mở hụi. Tổng số tiền mà bà V đã góp hụi là 31.500.000 đồng.
Trong số các tài liệu, chứng cứ do bà V cung cấp có danh sách hội viên, đơn tường trình thể hiện bà Huỳnh Thị Thu T, bà Neàng Sóc K có tham gia chơi hụi do bà Neàng Sa R làm chủ cùng với bà V. Tại phiên tòa, bà T, bà K xác định có cùng với bà V tham gia dây hụi 1.000.000 đồng/tháng, mở hụi ngày 09-7-2022, hụi chưa kết thúc, gồm 26 phần, bà V tham gia 05 phần, góp hụi đầy đủ đến ngày 09-4-2023 (được 09 lần) do bà Neàng Sa R làm chủ, bà V chưa hốt phần hụi mà bà V tham gia, tháng 5-2023, bà Neàng Sa R ngưng mở hụi; tổng số tiền bà V đã góp hụi là 31.500.000 đồng.
Theo kết quả xác minh ngày 10-01-2024 và ngày 15-01-2024 tại Công an xã A, thị xã T cung cấp: bà Neàng Sa R, sinh năm 1983 có đăng ký thường trú tại tổ B, ấp A, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang. Hiện bà Neàng Sa R không còn cư trú tại địa phương, bà Neàng Sa R đã bỏ địa phương từ tháng 5-2023 cho đến nay và không rõ địa chỉ, nơi cư trú mới, không rõ lý do bà Neàng Sa R bỏ địa phương. Công an xã không nắm việc bà Neàng Sa R, ông Chau C có làm chủ hụi ở địa phương hay không; qua công tác nắm tình hình và nắm địa bàn thì có thông tin bể hụi trên và có bà Neàng Sa V, Neàng S, Huỳnh Thị Thu T đến hỏi thăm về việc trình báo cơ quan nào thì được hướng dẫn nộp đơn khởi kiện đến Tòa án.
Theo kết quả xác minh ngày 19-01-2024, đại diện ban ấp A, xã A, thị xã T cung cấp: ban ấp không biết việc bà Neàng Sa R, ông Chau C có làm chủ hụi ở địa phương, ban ấp được biết bà Neàng Sa R có cho vay tiền góp ở địa phương, không biết việc bà Neàng Sa R, ông Chau C bể hụi, bà Neàng Sa R bỏ địa phương vào tháng 5-2023, không rõ lý do đi khỏi địa phương.
Lời khai trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa, ông Chau C thừa nhận bà Neàng Sa R làm chủ hụi, cho vay tiền góp ở địa phương từ trước khi kết hôn và chung sống với ông, ông có nhiều lần chở bà Neàng Sa R đi thu tiền của các bà Huỳnh Thị Thu T, Neàng S, Neàng Sa V; bà Neàng Sa R là người giữ tiền để chi trả các mặt chi phí, sinh hoạt trong gia đình; khoảng tháng 4-2023, bà Neàng Sa R bể hụi, có nhiều người tới nhà đòi tiền nợ hụi. Quá trình chung sống, vợ chồng có tích góp dành dụm, tạo lập được một số tài sản chung của vợ chồng; vì tình nghĩa vợ chồng, ông Chau C đồng ý nhận trách nhiệm trả nợ hụi cùng bà Neàng Sa R với điều kiện khi nào các con ăn học thành tài, có công ăn việc làm ổn định, bà Neàng Sa R trở về có lời khai xác định số tiền nợ hụi từng người là bao nhiêu thì ông Chau C đồng ý cùng bà Neàng Sa R trả nợ hụi.
Như vậy, lời khai của bà V phù hợp với danh sách hội viên, đơn tường trình, thông tin do Công an xã A cung cấp và lời khai của bà Neàng Sóc K, bà Huỳnh Thị Thu T, ông Chau C.
Bên cạnh đó, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án ban hành Thông báo số 06/TB-TA ngày 11-01-2024 yêu cầu bà N Sa Ri cung cấp lời khai và giao nộp, bổ sung tài liệu, chứng cứ liên quan đến nội dung sự việc và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng bà Neàng Sa R không thực hiện. Vì vậy, có căn cứ xác định bà V có tham gia dây hụi 1.000.000 đồng/tháng, mở ngày 09-7-2022 do bà Neàng Sa R làm chủ và bà Neàng Sa R còn nợ lại bà V nợ vốn với số tiền 31.500.000 đồng.
- [4] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Bà V yêu cầu bà Neàng Sa R, ông Chau C cùng có trách nhiệm liên đới trả tiền vốn 31.500.000 đồng của dây hụi 1.000.000 đồng/tháng, mở ngày 09-7-2022.
Xem xét yêu cầu của bà V thấy rằng, mặc dù, ông Chau C không cùng bà Neàng Sa R xác lập hợp đồng về hụi với bà V nhưng bà Neàng Sa R và ông Chau C là vợ chồng, vẫn còn sống chung với nhau và bà Neàng Sa R sử dụng tiền thu được từ việc mở các dây hụi để phục vụ nhu cầu thiết yếu của gia đình bà Neàng Sa R, ông Chau C. Cho nên, chấp nhận yêu cầu của bà V về việc buộc ông Chau C liên đới cùng bà Neàng Sa R trả nợ.
Về tiền lãi chậm thanh toán, bà V không yêu cầu trả lãi là có lợi cho người có nghĩa vụ nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Vì vậy, buộc bà Neàng Sa R, ông Chau C cùng có trách nhiệm liên đới trả cho bà V nợ hụi với số tiền 31.500.000 đồng theo quy định tại các Điều 280, 466, 471 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- [5] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Neàng Sa R, ông Chau C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải thanh toán cho bà V là 1.575.000 đồng.
Bà V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn lại cho bà V số tiền tạm ứng án phí 1.125.000 đồng mà bà V đã nộp.
QUYẾT ĐỊNH:
Vì các lẽ trên,
Căn cứ vào:
- Các Điều 147, 244, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 280, 466, 471 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/U TVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Neàng Sa V về việc yêu cầu bà Neàng Sa R, ông Chau C trả số nợ hụi 13.500.000 đồng (Mười ba triệu, năm trăm nghìn đồng).
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Neàng Sa V.
Buộc bà Neàng Sa R, ông Chau C cùng có trách nhiệm liên đới trả cho bà Neàng Sa V số nợ hụi 31.500.000 đồng (Ba mươi mốt triệu, năm trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Neàng Sa R và ông Chau C phải chịu 1.575.000 đồng (Một triệu, năm trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Neàng Sa V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà Neàng Sa V số tiền tạm ứng án phí 1.125.000 đồng (Một triệu, một trăm hai mươi lăm nghìn đồng) mà bà V đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số TU/2022/0009351 do Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên cấp ngày 05 tháng 10 năm 2023.
Đương sự có mặt tham gia phiên toà có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phí Thị Phương Nhung |
Bản án số 23/2024/DS-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Số bản án: 23/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn bà Neàng Sa Vếch tranh chấp hợp đồng góp hụi với bà Neàng Sa Ri, ông Chau Chênh
