Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

Bản án số: 23/2024/DS-ST

Ngày: 29-7-2024

V/v tranh chấp về thừa kế tài sản

và yêu cầu hủy Giấy CNQSDĐ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

——————————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Sang

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Thùy Vân;

Ông Trần Văn Lô.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài Anh Thư– Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:

Ông Bùi Quốc Việt- Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 05/2024/TLST-DS ngày 22-01-2024 về “Tranh chấp về thừa kế tài sản và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2024/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

  • + Bà Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1971; cư trú tại: Số A đường T, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt có ủy quyền.
  • + Bà Nguyễn Thị Ngọc M, sinh năm 1973; địa chỉ cư trú: Số B Turnhouse Lane S, CA, USA (Hoa kỳ); vắng mặt có ủy quyền.

Người đại diện theo ủy quyền của bà T, bà M: Bà Lưu Ánh N, sinh năm 1965; cư trú tại: Số D P, khu phố A, phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh K, sinh năm 1969; cư trú tại: Khu phố H, phường H, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân thị xã H, tỉnh Tây Ninh. Địa chỉ: Số D, Đường P, khu phố D, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh

Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Văn Ư- Chức vụ: Chủ tịch

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Thanh P- Chức vụ: Trưởng phòng- Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã H; có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 07 tháng 12 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc T, bà Nguyễn Thị Ngọc M và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Lưu Ánh N trình bày:

Bà T, bà M không biết họ tên, năm sinh và lai lịch của người cha; vì cụ bỏ đi từ lúc các bà còn rất nhỏ. Mẹ của bà T, bà M là cụ Nguyễn Thị Kim H có 03 người con là Nguyễn Thanh K, sinh năm 1969; Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1971 và Nguyễn Thị Ngọc M, sinh năm 1973. Sinh thời vào năm 2001, cụ H có nhận chuyển nhượng của ông Hồ Văn Q, bà Ngô Thị Kim O một phần đất tại thửa 151, tờ bản đồ 39, với diện tích 227,5 m² toạ lạc tại ấp H, xã H (nay là khu phố H, phường H), thị xã H, tỉnh Tây Ninh; cụ H đã được UBND huyện H (nay là thị xã H) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số vào sổ cấp GCNQSDĐ: 00326/QSDĐ/3728/XN-UB(HL), ngày 04-12-2001. Cụ H cất trên đất 01 căn nhà cấp 4, nền xi măng, tường xây gạch không tô và sống cùng người con trai là ông Nguyễn Thanh K. Năm 2006, cụ H chết không để lại di chúc; nhưng đến năm 2008, ông K được cấp giấy CNQSDĐ đối với phần đất nêu trên, theo GCNQSDĐ số H03338/02 do UBND huyện H cấp ngày 29-9-2008; nhưng bà T, bà M không biết. Từ sau khi cụ H chết thì ông K vẫn sinh sống trên nhà đất; đến năm 2020, ông K bỏ nhà đi đến nay không rõ tung tích; bà T, bà M đã nhiều lần tìm kiếm và đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhưng không có kết quả tìm kiếm. Hiện nay, ông K đã được Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh tuyên bố mất tích theo Quyết định số 01/2023/QĐÐST-VDS ngày 12/10/2023.

Nay bà T, bà M yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H03338/02, do UBND huyện H cấp ngày 29/9/2008, cho ông Nguyễn Thanh K đứng tên, vì việc ông K tự kê khai nhận thừa kế nhưng không đưa các bà vào hàng thừa kế là không đúng quy định của pháp luật và các bà yêu cầu chia di sản thừa kế theo pháp luật đối với nhà và đất diện tích 227,5 m² toạ lạc tại khu phố H, phường H, thị xã H, tỉnh Tây Ninh do cụ H chết để lại.

Tuy nhiên, sau khi Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hồ sơ cấp giấy CNQSDĐ do ông K đứng tên và xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc, định giá thì phát hiện diện tích đất ông K đứng tên giảm còn 202,3m² ; năm 2013 ông K đã chuyển nhượng 01 phần diện tích 70m² cho ông Đỗ Văn D, bà Võ Thị Lệ H1; nên diện tích còn lại là 132,3m²; nhưng thực tế hiện trạng sau khi đo đạc chỉ còn 94,9m²; do có một số hộ dân xung quanh lấn chiếm.

Do đó, bà N đại diện cho các nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện hủy GCNQSDĐ của ông K, chia di sản của cụ H đối với phần diện tích đất còn lại theo kết quả đo đạc; khấu trừ phần diện tích đất 70m² ông K đã chuyển nhượng cho ông Đỗ Văn D, bà Võ Thị Lệ H1; xem như ông K đã nhận thừa kế; phần đất còn lại giao cho bà T quản lý, sử dụng; bà T có trách nhiệm thanh toán giá trị kỷ phần thừa kế cho bà M. Riêng đối với các phần diện tích đất bị các hộ xung quanh lấn chiếm khoảng 37,4m² thì sau khi giải quyết chia thừa kế xong, nguyên đơn sẽ khởi kiện tranh chấp ở vụ án khác.

Bị đơn ông Nguyễn Thanh K đã bị tuyên bố mất tích theo Quyết định số 01/2023/QÐST-VDS, ngày 12-10-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh; nên không có lời trình bày.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan- Ủy ban nhân dân thị xã H, tỉnh Tây Ninh có văn bản trình bày ý kiến tại Công văn số 797/UBND, ngày 18 tháng 6 năm 2024; cụ thể như sau:

Căn cứ kết quả kiểm tra hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Ủy ban nhân dân thị xã H có ý kiến như sau:

Ngày 15/7/2008, ông Nguyễn Thanh K có đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 151, tờ bản đồ số 39, tọa lạc tại ấp H, xã H, huyện H (nay là khu phố H, phường H, thị xã H), tỉnh Tây Ninh, nguồn gốc sử dụng đất thừa kế. Kèm theo đơn đăng ký là:

  • + Đơn cớ mất GCNQSDĐ số 0326/2001 do UBND huyện H, tỉnh Tây Ninh cấp ngày 04/12/2001 cho bà Nguyễn Thị Kim H tại thửa đất số 151, tờ bản đồ số 39 có xác nhận của Công an phường A, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh và cam kết về việc mất giấy.
  • + Giấy chứng tử của bà Nguyễn Thị Kim H.
  • + Đơn tường trình quan hệ nhân thân.
  • + Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.
  • + Đơn xin xác nhận số con, có xác nhận của BQL ấp và UBND xã H.

Ngày 07/5/2008, Phòng T có Thông báo số 08/TB-PTNMT về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Thanh K gửi UBND xã để niêm yết và Tòa soạn báo T1 theo quy định. Hết thời hạn niêm yết, không có tổ chức, cá nhân nào khiếu nại.

Ngày 28/7/2008, Phòng T đã phối hợp với Ủy ban nhân dân xã H tiến hành kiểm tra thực địa thửa đất ông K yêu cầu cấp giấy.

Ngày 22/8/2008 Ủy ban nhân dân xã H có Tờ trình số 47/TTr.ub đề nghị hủy GCNQSDĐ đã cấp cho bà H và cấp lại GCNQSDD cho ông Nguyễn Thanh K theo hiện trạng sử dụng.

Ngày 05/9/2008 Phòng T có Tờ trình số 68/TTr PTNMT đề nghị hủy GCNQSDĐ đã cấp cho bà H và cấp lại GCNQSDD cho ông Nguyễn Thanh K. Lý do: GCNQSDĐ của bà H bị thất lạc và ông K yêu cầu thừa kế quyền sử dụng đất của cha, mẹ.

Căn cứ Đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Thanh K có xác nhận của UBND xã H về việc không tranh chấp và đề nghị của Phòng T tại Tờ trình số 68/TTr-PTNMT ngày 05/9/2008, ngày 26/9/2008 UBND huyện (nay là thị xã ) H đã ban hành Quyết định số 890/QĐ-UBND hủy GCNQSDĐ do hộ ông (bà) Nguyễn Thị Kim H đứng tên sử dụng và cấp lại GCNQSDĐ số H03338/02 cho ông Nguyễn Thanh K ngày 29/9/2008

Do đó, đối với yêu cầu hủy GCNQSDĐ số H03338/02 cấp ngày 04/12/2001 cho ông Nguyễn Thanh K của bà Nguyễn Thị Ngọc T và bà Nguyễn Thị Ngọc M, đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:

  • + Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng về trình tự, thủ tục giải quyết vụ án theo quy định của Bộ Luật Tố tụng dân sự. Các đương sự chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp hành tốt nội quy phiên tòa.
  • + Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
  • - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện tranh chấp thừa kế tài sản và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị Ngọc T và bà Nguyễn Thị Ngọc M, đối với diện tích đất 202,3m², thửa 151, tờ bản đồ số 39 tọa lạc tại khu phố H, phường H, thị xã H, tỉnh Tây Ninh
  • + Hủy giấy chứng nhận QSD đất số H03338 do UBND huyện H (nay là thị xã H) cấp ngày 29/9/2008 do ông Nguyễn Thanh K đứng tên.
  • + Chia thừa kế đối với di sản của cụ H là nhà, đất đo đạc thực tế diện tích 164,9m² cho ông K được hưởng thửa 402, diện tích 70m², trị giá 326.690.000 đồng (phần diện tích đất này ông K đã chuyển nhượng cho ông D, bà H1); chia cho bà T được hưởng phần đất diện tích 94,9m², thửa 403, tờ bản đồ số 39 và căn nhà trên đất tọa lạc khu phố H, phường H, thị xã H, tỉnh Tây Ninh, trị giá 451.763.426 đồng. Bà T có trách nhiệm thanh toán giá trị kỷ phần thừa kế cho bà M số tiền là 225.881.713 đồng.
  • + Ghi nhận, bà M, bà T không yêu cầu ông K hoàn lại phần giá trị chênh lệch khi chia thừa kế là 67.205.525 đồng.
  • - Xác định nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm của đương sự theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc M là đương sự ở nước ngoài (hiện đang cư trú tại Hoa Kỳ), có yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là quyết định cá biệt. Căn cứ Điều 34; khoản 3 Điều 35; Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

[1.2] Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc T và bà Nguyễn Thị Ngọc M khởi kiện yêu cầu chia thừa kế đối với di sản là nhà, đất do cụ Nguyễn Thị Kim H chết để lại và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông K đứng tên. Do đó, Tòa án xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp về thừa kế tài sản và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” theo quy định tại khoản 5 Điều 26 và Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự,

[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc T và bà Nguyễn Thị Ngọc M vắng mặt có ủy quyền cho bà Lưu Ánh N, bà N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Nguyễn Thanh K vắng mặt, đã bị tuyên bố mất tích theo Quyết định số 01/2023/QÐST-VDS, ngày 12-10-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Thanh P có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt;

Căn cứ vào Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.

[1.4] Về thời hiệu tranh chấp thừa kế tài sản:

Cụ Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1948, chết ngày 23-9-2006. Căn cứ vào Điều 623 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì thời hiệu chia di sản thừa kế đối với bất động sản là 30 năm. Do đó yêu cầu tranh chấp thừa kế tài sản trong vụ án này vẫn còn thời hiệu giải quyết.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc T và bà Nguyễn Thị Ngọc M

[2.1] Về yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H03338/02 do UBND huyện H (nay là thị xã H) cấp ngày 29/9/2008 cho ông Nguyễn Thanh K đứng tên; thấy rằng:

[2.1.1] Sau khi cụ Nguyễn Thị Kim H chết vào năm 2006; ngày 15/7/2008, ông Nguyễn Thanh K có đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) đối với thửa đất số 151, tờ bản đồ số 39, tọa lạc tại ấp H, xã H, huyện H (nay là khu phố H, phường H, thị xã H), tỉnh Tây Ninh, kê khai nguồn gốc sử dụng đất thừa kế của cụ H; kèm theo đơn ông K cung cấp giấy chứng tử cụ H; đơn có mất giấy CNQSDĐ do cụ H đứng tên; giấy xác nhận tình trạng hôn nhân của ông K; đơn tường trình về nhân thân; đơn xin xác nhận cụ H có 02 người con là Nguyễn Thanh K và Nguyễn Thị Ngọc T.

[2.1.2] Qua xem xét hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ của ông K, thấy rằng: Hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ ông K khai được hưởng thừa kế hợp pháp di sản của cụ H. Cụ H có 02 người con là ông K và bà T, nhưng thực tế cụ H có 03 người con là ông K, bà T và bà M; nên thiếu người thừa kế theo quy định. Mặc khác, trong hồ sơ ông K khai cụ H có 02 người con là ông K và bà T, nhưng không thể hiện ý kiến của bà T về việc từ chối nhận di sản thừa kế hay giao cho ông K được nhận thừa kế. Nên việc UBND huyện H (nay là thị xã H) cấp giấy chứng nhận QSD đất số H03338 ngày 29/9/2008 cho ông Nguyễn Thanh K đối với diện tích 202,3m², thửa 151, tờ bản đồ số 39 tọa lạc tại ấp H, xã H, huyện H (nay là khu phố H, phường H, thị xã H), tỉnh Tây Ninh, với lý do nhận thừa kế là chưa đúng quy định tại các Điều 609, Điều 610, Điều 612, Điều 613 và Điều 614 của Bộ luật Dân sự, về thừa kế tài sản.

[2.1.3] Do đó, đối với yêu cầu khởi kiện đề nghị hủy GCNQSD đất số H03338/02 do UBND huyện H cấp ngày 29/9/2008 cho ông Nguyễn Thanh K đứng tên, của bà T và bà M là có căn cứ chấp nhận.

[2.2] Về yêu cầu chia thừa kế tài sản:

[2.2.1] Xác định hàng thừa kế:

Cụ Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1948, chết năm 2006 và chồng (đã bỏ đi rất lâu, không xác định được họ tên, năm sinh, địa chỉ, không biết còn sống hay đã chết), chung sống với nhau có 03 người con chung gồm: Ông Nguyễn Thanh K, bà Nguyễn Thị Ngọc T và bà Nguyễn Thị Ngọc M.

Sau đó cụ Nguyễn Thị Kim H một mình nuôi con, đến năm 2001 cụ H nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Hồ Văn Q, bà Ngô Thị Kim O phần đất có diện tích 227,5 m², thuộc thửa 151, tờ bản đồ số 39 tọa lạc tại ấp H, xã H, huyện H (nay là khu phố H, phường H, thị xã H), tỉnh Tây Ninh. Đến ngày 04/12/2001 cụ H được Ủy ban nhân dân huyện H (nay là Thị xã H) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00326 đối với diện tích 227,5m² đất nêu trên và cụ H cất 01 căn nhà cấp 4 (nền xi măng, xây gạch ống không tô trên đất).

Ngày 23/9/2006 cụ H chết, không để lại di chúc; nên theo quy định tại các Điều 649, Điều 650 và Điều 651 của Bộ luật Dân sự, di sản của cụ H được chia theo quy định pháp luật cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ H bao gồm 03 kỷ phần: Ông Nguyễn Thanh K, bà Nguyễn Thị Ngọc T và bà Nguyễn Thị Ngọc M.

[2.2.2] Xác định di sản thừa kế:

[2.2.3] Tại biên bản làm việc ngày 12/7/2024, bà Lưu Ánh N- đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà T, bà M trình bày: yêu cầu chia thừa kế đối với diện tích 202,3m². Riêng đối với diện tích 70m² ông K đã chuyển nhượng cho ông Đỗ Văn D, bà Võ Thị L thì yêu cầu tính vào phần thừa kế ông K được hưởng để khấu trừ; đối với diện tích 37,4m² đất di sản bị các hộ xung quanh lấn chiếm phía nguyên đơn không có yêu cầu chia, nếu có tranh chấp sẽ khởi kiện ở vụ án khác.

Như vậy, có cơ sở xác định di sản do cụ H chết để lại là phần đất có diện tích 202,3m²; đo đạc thực tế là 164,9m2, gồm: thửa 402 (ông K đã chuyển nhượng cho ông D, bà L) diện tích 70m² và thửa 403, diện tích thực tế còn lại là 94,9m²; đất tọa lạc khu phố H, phường H, thị xã H, tỉnh Tây Ninh. Theo biên bản xem xét, thẩm định, định giá tài sản ngày 04-4-2024 của Hội đồng định giá thì đất có giá trị thực tế là 4.667.000 đồng/m²; căn nhà cấp 4 (nền xi măng, tường xây gạch ống không tô, cột gạch, mái tôn) trị giá 8.865.126 đồng; nên tổng di sản trị giá là 778.453.426 đồng (đất diện tích 164,9m² x 4.667.000 đồng/m² = 769.588.300 đồng + 8.865.126 đồng giá trị căn nhà trên đất)

[2.2.4] Về phân chia di sản: Tổng di sản cụ H trị giá 778.453.426 đồng được chia cho 03 kỷ phần là ông K, bà T, bà M; mỗi người một kỷ phần trị giá 259.484.475 đồng.

Năm 2013, ông K đã chuyển nhượng cho ông Đỗ Văn D, bà Võ Thị L một phần diện tích 70m² trị giá 326.690.000 đồng. Như vậy, ông K đã định đoạt phần di sản nhiều hơn kỷ phần ông K được hưởng là 67.205.525 đồng (326.690.000 đồng - 259.484.475 đồng). Tuy nhiên, bà T, bà M không yêu cầu ông K thanh toán lại phần giá trị chênh lệch, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Chia cho bà T được hưởng thừa kế đối với phần diện tích đất 94,9m², thuộc thửa 403, tờ bản đồ số 39 và căn nhà trên đất tọa lạc khu phố H, phường H, thị xã H, tỉnh Tây Ninh, trị giá 451.763.426 đồng.

Bà T có trách nhiệm thanh toán lại giá trị kỷ phần thừa kế cho bà M với số tiền là 225.881.713 đồng.

[3] Về chi phí tố tụng khác: Căn cứ Điều 157, Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự phải chịu nộp chi phí tố tụng tương ứng với giá trị tài sản được chia.

Tuy nhiên, bà T, bà M tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; chi phí đo đạc, định giá tổng cộng là 16.100.000 (mười sáu triệu một trăm nghìn) đồng. Bà N1 (đại diện cho bà T, bà M) đã nộp và thanh toán xong; nên ghi nhận.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo mức tương ứng với giá trị phần tài sản được chia theo quy định tại điểm a khoản 7 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[5] Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 34, Điều 157, Điều 165, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 612, Điều 613, Điều 623, Điều 649, Điều 650, Điều 651, Điều 660 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 166 Luật Đất đai năm 2013;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc T và bà Nguyễn Thị Ngọc M, về việc tranh chấp thừa kế tài sản và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với ông Nguyễn Thanh K.
    1. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCNQSDĐ: H03338/02, ngày 29/9/2008 do Ủy ban nhân dân huyện H (nay là thị xã H), tỉnh Tây Ninh cấp cho ông Nguyễn Thanh K, đối với thửa đất 151, tờ bản đồ số 39, diện tích 202,3m²; đất tọa lạc tại ấp H, xã H, huyện H (nay là khu phố H, phường H, thị xã H), tỉnh Tây Ninh.
    2. Phân chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị Kim H, cụ thể như sau:
      1. Chia cho bà Nguyễn Thị Ngọc T phần đất có diện tích 94,9m²; thuộc thửa 403, tờ bản đồ số 39; trên đất có căn nhà cấp 4 (nền xi măng, tường xây gạch ống không tô, cột gạch, mái tôn), tọa lạc tại khu phố H, phường H, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; trị giá là 451.763.426 (bốn trăm năm mươi mốt triệu bảy trăm sáu mươi ba nghìn bốn trăm hai mươi sáu) đồng; đất có tứ cận:

        Hướng Đông giáp thửa 403 (còn lại) 4,62m + 5,16m + 4,70m;

        Hướng Tây giáp thửa 119 cạnh 5,07m; giáp thửa 402 cạnh 0,87m; giáp thửa 403 (còn lại) dài 6,76m; giáp thửa 402 dài 2,57m;

        Hướng Nam giáp đường hẻm hiện trạng dài 5,96m; giáp thửa 403 (còn lại) 1,01m;

        Hướng Bắc giáp thửa 403 (còn lại) dài 6,34m.

        (Kèm theo sơ đồ hiện trạng sử dụng đất).

        Căn cứ vào bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án, bà T có quyền liên hệ với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

      2. Ông Nguyễn Thanh K được chia thừa kế phần diện tích đất 70m² tại thửa đất 402, tờ bản đồ số 39; đã chuyển nhượng cho cho ông Đỗ Văn D, bà Võ Thị L; trị giá là 326.690.000 (ba trăm hai mươi sáu nghìn sáu trăm chín mươi) đồng. Ghi nhận bà T, bà M không yêu cầu ông K thanh toán phần giá trị chênh lệch khi chia thừa kế.
      3. Chia cho bà Nguyễn Thị Ngọc M giá trị kỷ phần thừa kế là 225.881.713 (hai trăm hai mươi lăm triệu tám trăm tám mươi mốt nghìn bảy trăm mười ba) đồng do bà T giao lại.
    3. Bà Nguyễn Thị Ngọc T có trách nhiệm thanh toán giá trị kỷ phần thừa kế cho bà Nguyễn Thị Ngọc M, số tiền là 225.881.713 (hai trăm hai mươi lăm triệu tám trăm tám mươi mốt nghìn bảy trăm mười ba) đồng.

      Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  2. Về chi phí tố tụng khác:

    Ghi nhận bà T, bà M tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; chi phí đo đạc, định giá tổng cộng là 16.100.000 (mười sáu triệu một trăm nghìn) đồng. Ghi nhận bà N1 (đại diện cho bà T, bà M) đã nộp và thanh toán xong.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • - Ông Nguyễn Thanh K phải chịu 16.335.000 (mười sáu triệu ba trăm ba mươi lăm nghìn) đồng.
    • - Bà Nguyễn Thị Ngọc T phải chịu 11.294.000 (mười một triệu hai trăm chín mươi bốn nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm; được khấu tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp 6.667.000 đồng theo Biên lai thu số 0000067 ngày 26-12-2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh. Bà T còn phải nộp thêm 4.627.000 (bốn triệu sáu trăm hai mươi bảy nghìn) đồng.
    • - Bà Nguyễn Thị Ngọc M phải chịu 11.294.000 (mười một triệu hai trăm chín mươi bốn nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm; được khấu tiền tạm ứng án phí bà M đã nộp 6.667.000 đồng theo Biên lai thu số 0000068 ngày 26-12-2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh. Bà M còn phải nộp thêm 4.627.000 (bốn triệu sáu trăm hai mươi bảy nghìn) đồng.
  4. Về quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại TPHCM;
  • - VKSND cấp cao tại TPHCM;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - Cục THADS tỉnh Tây Ninh;
  • - Phòng KTNV&THA tỉnh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu tập án;
  • - Lưu VP TAND tỉnh.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Kim Sang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2024/DS-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp về thừa kế tài sản và yêu cầu hủy giấy cnqsdđ

  • Số bản án: 23/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản và yêu cầu hủy Giấy CNQSDĐ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Ngọc T - Nguyễn Thanh K
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger