|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 23/2024/DS-ST Ngày: 04-5-2024 V/v tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Minh Thìn.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Văn Hai.
- Bà Ngô Thị Mỹ Lợi.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Bích Vân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Lê Tiến Trung - Kiểm sát viên.
Trong ngày 04 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 161/2023/TLST-DS ngày 16 tháng 10 năm 2023, về “Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 3 năm 2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 02/2024/QĐST-DS ngày 12 tháng 4 năm 2024, Thông báo mở lại phiên tòa số 51/TB-TA ngày 25 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đắc P, sinh năm 1960.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Tuyết V, sinh năm 1958.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Tô Thanh S, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Số D, Khóm A, Phường D, thành phố S, tỉnh Đ.
Địa chỉ: Số D, Khóm A, Phường D, thành phố S, tỉnh Đ.
Địa chỉ: Số D, Khóm A, Phường D, thành phố S, tỉnh Đ.
Bà Phước, bà V có mặt tại phiên tòa. Anh S vắng mặt tại phiên tòa, nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
3
Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đắc P trình bày:
Phần đất bà Phước đang tranh chấp với bà Vân H 1 diện tích 30m² là một phần của thửa đất số 37, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại khóm A, phường D, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp có nguồn gốc là của cha bà Phước là ông Nguyễn Văn Q chết năm 1997 để lại. Sau khi ông Q chết thì mẹ và các anh chị em thống nhất giao toàn bộ phần đất lại cho bà Phước. Đến ngày 19/01/2018 bà Phước được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 37.
Trước đây, khi thửa đất số 37 còn của cha bà Phước thì phía bà V có trồng cây trên phần đất tranh chấp, do phát sinh tranh chấp nên Thanh tra thị xã S (nay là thành phố S) giải quyết theo Biên bản giải quyết tranh chấp ngày 23/01/1991, lúc này chị bà P1 là bà Nguyễn Thị Yến N đại diện ông Q và chồng bà V là ông Tô Văn C tham dự. Kết quả giải quyết của Thanh tra là phía bà V (ông C) đồng ý đốn cây trồng, trả lại đất, sau khi đã thu hoạch xong số cây đang có trái, phía gia đình bà Phước bồi hoàn cho phía bà V 20.000 đồng, thời gian thực hiện từ ngày 23/01/1991 đến hết ngày 23/3/1991. Nhưng sau đó phía bà V không đốn cây, không trả lại đất cho bên bà Phước và phía bà Phước không bồi hoàn số tiền 20.000 đồng cho phía bà V. Sau khi cơ quan Thanh tra lập biên bản ngày 23/01/1991 thì không có cơ quan hay cán bộ nào đến để thực hiện việc giao đất, cưỡng chế thi hành. Ông C đã chết khoảng năm 2020, bà N đã đi định cư tại nước Thụy Điển từ năm 2006 đến nay.
Đến khoảng năm 2000 bà V tự ý làm mái che trên phần đất Hình 1 có kết cấu khung gỗ tạp, mái tole để làm nơi buôn bán. Đến năm 2021 bà V sửa lại làm bằng khung gỗ, mái tole, nền gạch+xi măng, vách tole một phần, nền lán xi măng và một phần che lưới nhựa, lót đan sử dụng đến nay. Bà Phước có nộp đơn tranh chấp với bà V đến Ủy ban nhân dân phường D, thành phố S; Ủy ban nhân dân phường D tổ chức hòa giải không thành, do bà V yêu cầu được mua lại đất (nhận chuyển nhượng) phần đất này của bà Phước, nhưng bà V không đồng ý với giá tiền bà Phước đưa ra.
Nay bà Phước yêu cầu bà Nguyễn Thị Tuyết V di dời các tài sản trả lại cho bà Phước phần đất diện tích 30m² (Hình 1) theo các mốc M1, M2, M3, M4, M5, M6, M7, M8, M9, M10, M11, M1 được thể hiện trên Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp xác nhận ngày 26/01/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S. Bà Phước không đồng ý chuyển nhượng phần đất tranh chấp cho bà V; bà Phước đồng ý trả giá trị san lắp trên phần đất Hình 1 cho bà V theo giá đã thỏa thuận thống nhất là 4.250.000 đồng. Bà Phước thống nhất kết quả định giá của Hội đồng định giá tài sản và giá trong văn bản thỏa thuận về giá ngày 14/3/2024, không yêu cầu định giá lại.
Ngoài ra, bà Phước không có yêu cầu gì khác.
Quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn bà Nguyễn Thị Tuyết V trình bày:
Phần đất bà Phước đang tranh chấp với bà Vân H 1 diện tích 30m² có nguồn gốc là của cha bà Phước là ông Nguyễn Văn Q để lại cho bà Phước, hiện nay bà Phước đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phần đất này.
4
Trước đây, bà V sinh sống ở nơi khác, đến năm 1981 bà V và chồng là ông Tô Văn C nhận chuyển nhượng đất và xây dựng nhà tại địa chỉ số D, khóm A, phường D, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp để ở (giáp đất bà Phước). Đến năm 1991 bà V làm mái che trên đất đang tranh chấp có kết cấu khung gỗ tạp, mái tole làm nơi buôn bán; Đến năm 2021 bà V sửa lại làm bằng khung gỗ, mái tole, nền gạch + ximăng, vách tole một phần, nền lán xi măng và một phần che lưới nhựa, lót đan sử dụng làm quán buôn bán đến nay.
Trước đây, khi thửa đất số 37 còn của cha bà Phước thì phía bà V có trồng cây trên phần đất tranh chấp, do phát sinh tranh chấp nên Thanh tra thị xã S (nay là thành phố S) giải quyết theo Biên bản giải quyết tranh chấp ngày 23/01/1991, lúc này chị bà P1 là bà Nguyễn Thị Yến N đại diện ông Q và chồng bà V là ông Tô Văn C tham dự. Kết quả giải quyết của Thanh tra thì phía bà V (ông C) đồng ý đốn cây trồng trên đất sau khi đã thu hoạch xong số cây đang có trái, để trả đất cho phía gia đình bà Phước; gia đình bà Phước bồi hoàn cho phía bà V 20.000 đồng, thời gian thực hiện từ ngày 23/01/1991 đến hết ngày 23/3/1991. Nhưng sau đó phía bà V không đốn cây, để trả đất và phía bà Phước cũng không bồi hoàn số tiền 20.000 đồng cho phía bà V. Sau khi cơ quan Thanh tra lập biên bản ngày 23/01/1991, thì không có cơ quan hay cán bộ nào đến để thực hiện việc giao đất, cưỡng chế thi hành. Ông C đã chết khoảng năm 2016, bà N đã đi định cư ở nước ngoài trên 15 năm.
Năm 2021 bà Phước có nộp đơn tranh chấp phần đất Hình 1 diện tích 30m² với bà V đến Ủy ban nhân dân phường D, thành phố S; Ủy ban nhân dân phường D tổ chức hòa giải ngày 28/4/2021 không thành; khi đó bà Phước yêu cầu bà V trả giá trị quyền sử dụng đất là 50.000.000 đồng, nhưng bà V chỉ đồng ý trả giá trị là 30.000.000 đồng, do bà V không có khả năng trả theo số tiền bà Phước yêu cầu.
Nay bà V yêu cầu được tiếp tục quản lý, sử dụng phần đất đang tranh chấp Hình 1 diện tích 30m² các mốc M1, M2, M3, M4, M5, M6, M7, M8, M9, M10, M11, M1 theo Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp xác nhận ngày 26/01/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S và bà V đồng ý trả giá trị quyền sử dụng đất phần đất này cho bà Phước với giá tiền là 30.000.000 đồng. Bà V thống nhất kết quả định giá của Hội đồng định giá tài sản và giá trong văn bản thỏa thuận về giá ngày 14/3/2024, không yêu cầu định giá lại.
Ngoài ra, bà V không có yêu cầu gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Tô Thanh S có đơn yêu cầu giải quyết vụ kiện vắng mặt, có lời khai trong quá trình giải quyết vụ kiện trình bày:
Trước đây, năm 2021 anh S (con bà V) có tự san lắp trên phần đất đang tranh chấp 30m² mười xe gạch vụn với giá 300.000 đồng/xe và lót mười tấm đan với giá 200.000đồng/tấm để bà V sử dụng. Theo anh S trị giá mười xe gạch vụn anh S san lắp hiện nay có giá là 4.250.000 đồng và mười tấm đan có giá 1.700.000 đồng.
Phần san lắp và các tấm đan này anh S đồng ý cho bà V và anh S xác định đây là tài sản của bà V, do đó bà V tự quyết định, tự định đoạt. Anh S không có tranh chấp không có yêu cầu gì trong vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc phát biểu ý kiến:
5
- Về tố tụng: Thống nhất về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, cũng như của người tham gia tố tụng.
- Về nội dung vụ án: Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Đắc P.
Buộc bà Nguyễn Thị Tuyết V di dời tài sản trả lại phần diện tích đất 30m² thể hiện tại Hình 1 các mốc M1, M2, M3, M4, M5, M6, M7, M8, M9, M10, M11, M1 theo Sơ đồ đo đạc ngày 26/01/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S cho bà Nguyễn Thị Đắc P quản lý, sử dụng.
Bà Nguyễn Thị Đắc P có trách nhiệm trả lại giá trị cây trồng và công trình, kiến trúc có trên đất cho bà Nguyễn Thị Tuyết V theo giá Hội đồng định giá đã định và văn bản thỏa thuận giá ngày 14/3/2024 giữa các đương sự, đối với các tài sản không di dời được.
Về án phí và chi phí tố tụng khác đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn tranh chấp yêu cầu bị đơn trả lại quyền sử dụng đất; Do đó, quan hệ pháp luật tranh chấp phải giải quyết của vụ án là “Đòi lại quyền sử dụng đất”. Căn cứ theo quy định tại Điều 26, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Tô Thanh S vắng mặt tại phiên tòa, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh S theo quy định.
[2] Về nội dung vụ án, xét yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn di dời tài sản trên đất, để trả lại diện tích 30m² thuộc một phần thửa đất số 37, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại phường D, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp, thể hiện tại Hình 1 các mốc M1, M2, M3, M4, M5, M6, M7, M8, M9, M10, M11, M1 theo Sơ đồ đo đạc xác nhận ngày 26/01/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S.
[2.1] Hội đồng xét xử nhận thấy: Về nguồn gốc đất, phía bị đơn thừa nhận diện tích đất 30m² nguyên đơn đang tranh chấp là của nguyên đơn và không thắc mắc khiếu nại gì về việc nguyên đơn được đứng tên quyền sử dụng đất. Như vậy, theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tình tiết phía nguyên đơn không phải chứng minh; từ đó xác định diện tích đất 30m² là của nguyên đơn bà Phước.
[2.2] Tại khoản 1 Điều 166 Bộ luật dân sự quy định về quyền đòi lại tài sản như sau:
“1. Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.”
6
Theo quy định nêu trên, diện tích đất 30m² là của bà Phước, nhưng bà V đang quản lý, sử dụng không ngay tình theo Điều 181 Bộ luật dân sự, không có căn cứ pháp luật. Đồng thời, bà V đã có nhà ở ổn định nơi khác. Ngoài ra, nếu giao diện tích đất 30m² cho bà V thì phần đất này không đủ điều kiện để tách thành thửa đất riêng theo Quyết định số 22/2021/QĐ-UBND ngày 31 tháng 8 năm 2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ. Do đó, bà V yêu cầu được tiếp tục quản lý, sử dụng phần đất này và đồng ý trả giá trị quyền sử dụng đất cho bà Phước là không có cơ sở chấp nhận.
Vì vậy, việc bà Phước yêu cầu bà V trả cho bà Phước diện tích đất 30m² là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên chấp nhận.
[3] Đối với các tài sản trên đất đang tranh chấp, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[3.1] Bà V xây cất quán có kết cấu khung gỗ, nền gạch + xi măng, mái tole, vách tole một phần, bà V sử dụng để làm nơi đun nấu, quán bán nước, không phải là căn nhà để ở. Ngoài ra, quán này của bà V ngoài việc cất một phần trên thửa đất số 37 của bà Phước có diện tích 4m², còn nằm trên phần mương công cộng của Nhà nước có diện tích 5,6m². Phần quán cất trên đất của bà Phước 4m² nếu giao cho bà Phước sử dụng và bà Phước trả giá trị cho bà V, sẽ không đảm bảo quyền lợi cho bà Phước, do phần quán còn lại trên đất Nhà nước vẫn là của bà V, hai bên có mâu thuẫn nên không thể sử dụng chung; bên cạnh đó trường hợp Nhà nước yêu cầu bà V di dời phần quán trên diện tích 5,6m² thuộc mương công cộng, sẽ ảnh hưởng đến phần quán 4m² nếu giao cho bà Phước.
Vì vậy, buộc bà V di dời phần quán cất trên đất của bà Phước, để trả đất cho bà Phước.
[3.2] Đối với các tấm đan bà V lót trên phần đất tranh chấp và cây trồng nếu di dời sẽ hư hỏng, không còn sử dụng tiếp được và gây lãng phí. Nên xét thấy cần giao cho bà Phước sử dụng và bà Phước trả giá trị cho bà V theo giá của Hội đồng định giá đã định và giá trong văn bản thỏa thuận về giá ngày 14/3/2024 là 4.630.000 đồng.
[3.3] Đối với phần san lắp trên đất tranh chấp bằng gạch vụn thì bà Phước đồng ý sử dụng, đồng ý trả giá trị san lắp cho bà V 4.250.000 đồng theo giá của văn bản thỏa thuận về giá ngày 14/3/2024 là phù hợp.
[4] Đối với phần quán (nhà) bà Nguyễn Thị Tuyết V xây dựng trên mương công cộng diện tích 5,6m², các mốc M8, M9, D, C, M8 theo Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp xác nhận ngày 26/01/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S, phần đất này do Nhà nước quản lý, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thống nhất với ý kiến phát biểu về việc giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với việc phải trả giá trị tài sản cho bị đơn. Do nguyên đơn, bị đơn là người cao tuổi và có đơn yêu cầu miễn nộp, nên miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn, bị đơn.
7
[7] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Bà Nguyễn Thị Tuyết V phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 3.009.680 đồng. Bà Nguyễn Thị Đắc P đã nộp tạm ứng toàn bộ chi phí; do đó bà V phải trả lại cho bà Phước 3.009.680 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 91, 92, 147, 157, 165, 227, 228, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 163, 166, 181, 192, 357 và 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 100, 166, 167 và 203 của Luật đất đai năm 2013;
Căn cứ Điều 12, 14, 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đắc P.
- Buộc bà Nguyễn Thị Tuyết V di dời quán (nhà) để giao trả cho bà Nguyễn Thị Đắc P diện tích đất 30m² (Hình 1) theo các mốc M1, M2, M3, M4, M5, M6, M7, M8, M9, M10, M11, M1 được thể hiện trên Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp xác nhận ngày 26/01/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S.
- Buộc bà Nguyễn Thị Tuyết V giao cho bà Nguyễn Thị Đắc P sử dụng các tấm đan, gạch san lắp, cây trồng trong phần đất 30m² (Hình 1).
Bà Nguyễn Thị Đắc P được sử dụng và trả giá trị các tấm đan, gạch san lắp, cây trồng cho bà Nguyễn Thị Tuyết V trong phần đất 30m² (Hình 1), tổng cộng là 8.880.000đ (Tám triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng)
(Có Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp xác nhận ngày 26/01/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S, Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ và Biên bản định giá tài sản ngày 02/11/2023 kèm theo).
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn toàn bộ tiền tạm ứng án phí và án phí dân sự sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị Đắc P, bà Nguyễn Thị Tuyết V, do đều là người cao tuổi và có đơn yêu cầu miễn nộp.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Buộc bà Nguyễn Thị Tuyết V phải trả cho bà Nguyễn Thị Đắc P 3.009.680đ (Ba triệu không trăm lẻ chín nghìn sáu trăm tám mươi đồng).
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bên được thi hành án, nếu bên phải thi hành án chưa thi hành xong khoản tiền thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
8
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
7. Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Minh Thìn |
Bản án số 23/2024/DS-ST ngày 04/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất
- Số bản án: 23/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu đòi tài sản của bà P
