TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN
| CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 23/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 20 – 4 – 2022
V/v: Tranh chấp “Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG – THÁP CHÀM,
TỈNH NINH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Bình
- Ông Lê Huỳnh Sinh
- Thư ký phiên tòa: Bà Châu Nguyễn Đoan Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố P.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm tham gia phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Tường Vy - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 4 năm 2022, tại Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang-Tháp Chàm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 336/2021/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 9 năm 2021 về việc: Tranh chấp “Ly hôn,” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2022/QĐXX-ST ngày 01 tháng 3 năm 2022; Thông báo dời ngày xét xử ngày 25 tháng 3 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2022/QĐ-ST ngày 08 tháng 4 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Thái Thị Xuân H, sinh năm: 1964.
- Bị đơn: Ông Phan Thiết H1, sinh năm: 1963.
Cùng địa chỉ: B10 Lê Quý Đôn, khu phố 7, phường M, thành phố P, tỉnh N.
(Nguyên đơn bà Thái Thị Xuân H có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn ông Phan Thiết H1 vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 25/08/2021 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Thái Thị Xuân H trình bày:
Bà và ông Phan Thiết H1 chung sống năm 1986 là hoàn toàn tự nguyện, gia đình hai bên có tổ chức cưới hỏi; Vợ chồng tôi đăng ký kết hôn tại UBND phường Đ, thành phố P, tỉnh N.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà riêng ở khu phố 7, phường M, thành phố P, tỉnh N.
Quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do ông Phan Thiết H1 hay tụ tập bạn bè nhậu nhẹt thâu đêm suốt sáng, về đến nhà là chửi bới và đánh đập vợ nhưng vì các con nên bà đã chịu đựng cho đến nay. Hơn nữa, ông Phan Thiết H1 không có trách nhiệm với vợ con, bà đã nhiều lần ngồi lại khuyên bảo chồng nhưng ông Phan Thiết H1 vẫn không sửa đổi; Tinh thần bà ngày càng suy sụp và rất sợ hãi mỗi khi ông Phan Thiết H1 đi nhậu về. Cứ nhậu say là ông Phan Thiết H1 lại quậy phá vợ con, xóm làng. Bà đã nhiều lần trình báo sự việc với Công an phường và ban quản lý khu phố. Năm 2013 và năm 2015 bà đã nộp đơn ly hôn đến Tòa án nhưng sau đó Tòa án mời vợ chồng lên làm việc thì ông Phan Thiết H1 đã làm giấy cam kết hứa sẽ sửa đổi và yêu thương vợ con nên bà đã rút đơn khởi kiện. Nhưng từ đó đến nay, ông Phan Thiết H1 vẫn chứng nào tật đó không chịu thay đổi mà thậm chí còn nhậu nhiều hơn, nhậu xong lại về nhà chửa mắng rồi đòi đánh đập vợ con nên bà phải báo cho Công an phường M xuống lập biên bản. Từ năm 2018 đến nay, mẹ ruột của bà bị tai biến nặng không thể đi lại được nên bà đã dọn về khu phố 2, phường T, thành phố P để chăm sóc cho mẹ, thỉnh thoảng mới về nhà ở khu phố 7, phường M. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2018 đến nay. Bà đã suy nghĩ kỹ và thấy rằng tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phan Thiết H1.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung, các con đều đã trên 18 tuổi và có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung & nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn: Ông Phan Thiết H1 trong suốt quá trình Toà án thụ lý giải quyết vụ án, cũng như tại phiên toà hôm nay ông Phan Thiết H1 vẫn cố tình không đến Toà án.
* Đại diện Viện kiểm sát thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận phát biểu:
Về thủ tục tố tụng:
Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, việc cấp, tống đạt các giấy tờ cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa sơ thẩm, các đương sự đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Thái Thị Xuân H có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt; Bị đơn ông Phan Thiết H1 mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1 điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về phần nội dung: Yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Thái Thị Xuân H là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật trong vụ án này là tranh chấp “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại phường M, thành phố P nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Thái Thị Xuân H có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt; Bị đơn ông Phan Thiết H1 mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1 điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Thái Thị Xuân H và ông Phan Thiết H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Đ, thành phố P, tỉnh N, theo giấy chứng nhận kết hôn số 203; quyển số 01, ngày 14/4/1986, đây là hôn nhân hợp pháp.
Về tình trạng hôn nhân: Theo bà Thái Thị Xuân H trình bày, cuộc sống chung vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, do ông Phan Thiết H1 hay tụ tập bạn bè nhậu nhẹt thâu đêm suốt sáng, về đến nhà là chửi bới và đánh đập vợ nhưng vì các con nên bà Huệ đã chịu đựng cho đến nay. Năm 2013 và năm 2015 bà Huệ đã nộp đơn ly hôn đến Tòa án nhân dân thành phố P và được Thẩm phán Hòa giải thì ông Phan Thiết H1 đã làm giấy cam kết hứa sẽ sửa đổi và yêu thương vợ con nên bà Huệ đã rút đơn khởi kiện. Nhưng từ đó đến nay, ông PhanThiết Hùng vẫn không thay đổi mà thậm chí còn nhậu nhiều hơn, nhậu xong lại về nhà chửa mắng vợ con nên bà Huệ phải báo cho Công an phường M xuống lập biên bản. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2018 đến nay.
Tại đơn xin xác nhận tình trạng hôn nhân ngày 10/9/2021 của bà Thái Thị Xuân H nộp cho Tòa án, Trưởng ban quản lý khu phố 7 và chủ tịch Hội liên hiệp Phụ nữ phường M, thành phố P xác nhận: “Theo đơn trình bày của bà Thái Thị Xuân H là đúng sự thật”. Điều đó thể hiện rõ việc mâu thuẫn vợ chồng giữa ông Phan Thiết H1 và bà Thái Thị Xuân H là có thật. Hơn nữa, trong suốt quá trình giải quyết vụ án ông Phan Thiết H1 không có ý kiến gì đối với yêu cầu xin ly hôn của bà Thái Thị Xuân H mặc dù Toà án đã thực hiện đúng thủ tục tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật về thông báo cho ông Phan Thiết H1 biết để ông Phan Thiết H1 có trách nhiệm: “phải nộp cho Toà án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo” nhưng ông Phan Thiết H1 không chấp hành, chứng tỏ ông Phan Thiết H1 xem thường pháp luật, không có thiện chí đoàn tụ gia đình, gây khó khăn trong quá trình giải quyết vụ án. Điều này cũng thể hiện ông Phan Thiết H1 không thiết tha gì trong việc bảo vệ hạnh phúc gia đình của riêng mình, từ bỏ các quyền mà pháp luật quy định, kể cả quyền yêu cầu Toà án giải quyết cho vợ chồng đoàn tụ.
Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Mâu thuẫn vợ chồng giữa ông Phan Thiết H1 và bà Thái Thị Xuân H đã thật sự gay gắt làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Bà Thái Thị Xuân H yêu cầu xin được ly hôn với ông Phan Thiết H1 là có cơ sở, phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.2] Về con chung: Các con của bà Thái Thị Xuân H và ông Phan Thiết H1 đều đã trên 18 tuổi, có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Thái Thị Xuân H và ông Phan Thiết H1 không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập tới.
[3] Về án phí: Căn cứ khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016/ UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; Bà Thái Thị Xuân H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 1 điều 28; điểm a khoản 1 điều 35; điểm a, khoản 1 điều 39, khoản 4 Điều 147; khoản 2 điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 266 Bộ Luật tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Thái Thị Xuân H được ly hôn với ông Phan Thiết H1 .
- Về án phí: Bà Thái Thị Xuân H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) bà Thái Thị Xuân H đã nộp theo biên lai thu tiền số: 0026011, ngày 30/08/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh N (bà Thái Thị Xuân H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm);
- Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, vắng mặt nguyên đơn bà Thái Thị Xuân H và bị đơn ông Phan Thiết H1. Quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Thị Hồng |
Bản án số 23/2022/HNGĐ-ST ngày 20/04/2022 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG – THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp “ly hôn”
- Số bản án: 23/2022/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp “Ly hôn”
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/04/2022
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG – THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cho ly hôn
