Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN K
TỈNH NINH BÌNH

Bản án số: 23/2021/HNGĐ-ST
Ngày 25/6/2021
“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thế Anh.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Đức Bính và ông Vũ Xuân Dự.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ninh, thư ký Tòa án nhân dân huyện K - tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Doan, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình xét xử công khai vụ án thụ lý số 26/2021/TLST - HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2021 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2021 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1987; ĐKHKTT: xóm 5, xã C, huyện K, tỉnh Ninh Bình; Tạm trú: Khối 8, thị trấn B, huyện K, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)
  • - Bị đơn: Anh Phạm Quang S, sinh năm 1979; ĐKHKTT: xóm 5, xã C, huyện K, tỉnh Ninh Bình; Tạm trú: Khối 8, thị trấn B, huyện K, tỉnh Ninh Bình (Vắng mặt lần 2 không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết trình bày như sau: Chị và anh Phạm Quang S kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu có đăng ký kết hôn năm 2005 tại UBND xã K, huyện K, là quê của chị. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại xóm 5, xã C là quê của anh S, đến đầu năm 2020 thì chuyển về sinh sống tại khối 8, thị trấn B.

Trong quá trình chung sống, giữa chị và anh S có xảy ra mâu thuẫn. Theo chị H thì nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng lối sống, quan điểm làm ăn kinh tế. Anh S thường xuyên vô cớ chửi bới, xúc phạm chị. Bản thân chị đã nhiều lần khuyên giải, gia đình 2 bên nhiều lần hòa giải cho vợ chồng nhưng không có kết quả. Do vậy chị đã nhiều lần bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại xóm M, xã K để sinh sống, sau đó anh S có khuyên giải nên vì các con, chị quay về. Thời gian gần đây, mâu thuẫn của anh chị không được khắc phục mà còn trầm trọng hơn nên chị đã chuyển về sinh sống tại nhà bố mẹ đẻ, sống ly thân với anh S, không ai quan tâm đến ai. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể quay về chung sống với nhau được nữa. Chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh S để chị ổn định cuộc sống.

Về con chung: Chị xác định vợ chồng có 02 con chung là Phạm Thị Anh T, sinh ngày 09/3/2017 và Phạm Quốc N, sinh ngày 03/10/2012. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi cháu T, để anh Sáng nuôi cháu N. Hai bên không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

Về tài sản: Chị xác định vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Phạm Quang S trong bản tự khai có trình bày: anh xác nhận điều kiện, thời gian kết hôn như chị H đã trình bày. Về mâu thuẫn vợ chồng anh cho rằng nguyên nhân không phải do bất đồng quan điểm làm ăn kinh tế. Đối với gia đình anh, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do chị H chơi bời, không quan tâm đến cuộc sống gia đình. Anh cũng đã có lần phát hiện chị H có nhắn tin qua lại với người đàn ông khác về chuyện yêu đương. Anh đã nhiều lần khuyên giải nhưng chị H không thay đổi. Nay chị H yêu cầu ly hôn với anh, anh cũng xác định vợ chồng không thể quay về tiếp tục chung sống với nhau được nữa nhưng anh không nhất trí ly hôn vì anh là người theo đạo Thiên chúa, không được phép ly hôn, anh đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Anh S cũng xác nhận vợ chồng có 02 con chung là Phạm Thị Anh T, sinh ngày 09/3/2017 và Phạm Quốc N, sinh ngày 03/10/2012. Trường hợp ly hôn, anh yêu cầu được nuôi cháu N, để chị H nuôi cháu T, hai bên không phải đóng góp tiền nuôi con cho nhau.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K đề xuất giải quyết: Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Phạm Quang S; Giao chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Thị Anh T; giao cho anh Phạm Quang S trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Quốc N. Hai bên không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu giải quyết việc ly hôn và tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn với anh Phạm Quang S, hiện cư trú tại khối 8, thị trấn B, huyện K, tỉnh Ninh Bình; căn cứ quy định tại điều 28 và 39 BLTTDS vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện K.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Phạm Quang S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn năm 2005 tại UBND xã K, huyện K. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận một thời gian thì mới phát sinh mâu thuẫn. Xét thấy tình trạng hôn nhân của chị H, anh S hiện nay đã trầm trọng, không thể khắc phục được mâu thuẫn, mục đích hôn nhân không đạt được, việc duy trì cuộc sống chung không mang lại hạnh phúc cho cả hai; căn cứ quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân gia đình, yêu cầu của chị H giải quyết ly hôn anh Sáng là có căn cứ được chấp nhận.

[3] Về quan hệ con chung: Vợ chồng chị H anh S có 02 con chung là Phạm Thị Anh T, sinh ngày 09/3/2017 và Phạm Quốc N, sinh ngày 03/10/2012. Để đảm bảo việc học tập, sinh hoạt ổn định cho các cháu thì việc giao cháu T cho chị H, giao cháu N cho anh S theo đề xuất của anh chị là phù hợp, được chấp nhận.

[4] Về quan hệ tài sản: Chị Nguyễn Thị H và anh Phạm Quang S đều không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật HNGĐ; Điều 147, 228 BLTTDS và Nghị quyết 326/2016/NQUBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Phạm Quang S.
  2. Về con chung: Giao chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là Phạm Thị Anh T, sinh ngày 09/3/2017; giao cho anh Phạm Quang S trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là Phạm Quốc N sinh ngày 03/10/2012. Hai bên không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Không bên nào được ngăn cản quyền thăm nom chăm sóc con chung.
  3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA2525 ngày 22/02/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện K.

Án xử sơ thẩm công khai đương sự sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:
- TAND tỉnh Ninh Bình;
- VKSND huyện K;
- Chi cục THADS huyện K;
- Các đương sự;
- UBND xã K;
- Lưu HS&VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA



(Đã ký)

Phạm Thế Anh
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2021/HNGĐ-ST ngày 25/06/2021 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 23/2021/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2021
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger