Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH PHÚC


Bản án số: 23/2021/DS-PT
Ngày 10 - 6 - 2021
“V/v tranh chấp chia di sản thừa kế”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.

Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Thái; Ông Nguyễn Vĩnh Thành.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Tuyền, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Phùng Ngọc Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 54/2020/TLPT- DS ngày 12 tháng 10 năm 2020 về “Tranh chấp chia di sản thừa kế”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 10/2020/DS-ST ngày 21 tháng 7 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc bị kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 69/2020/QĐ-PT ngày 04 tháng 12 năm 2020 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Tr, sinh năm 1954; Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lâm Quang Đ, sinh năm 1992, có mặt.
  2. Bị đơn: Bà Trần Thị S, sinh năm 1949; Địa chỉ: Tổ dân phố V, thị trấn H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt. Người đại diện theo ủy quyền: Chị Đặng Thị Q, sinh năm 1992, có mặt.
  3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
    • 3.1. Bà Trần Thị U, sinh năm 1935; vắng mặt.
    • 3.2. Bà Trần Thị C, sinh năm 1942; vắng mặt.
    • 3.3. Bà Trần Thị D, sinh năm 1945; vắng mặt.
    • 3.4. Bà Trần Thị S1, sinh năm 1954; vắng mặt.
    • 3.5. Bà Trần Thị B, sinh năm 1958; vắng mặt.
    • 3.6. Bà Vũ Thị G, sinh năm 1937 (đã chết ngày 17/01/2021).
    • 3.7. Anh Trần Ngọc E, sinh năm 1971; vắng mặt.
    • 3.8. Anh Trần Ngọc X, sinh năm 1979; vắng mặt.
  4. Người kháng cáo: Không.
  5. Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày: Bà Trần Thị Tr là con đẻ của cụ Trần K (chết năm 1996) và cụ Trần Thị Kh (chết năm 1992). Hai cụ có 08 người con chung. Di sản thừa kế là thửa đất số 155, tờ bản đồ số 09 diện tích 128m2 (hiện trạng 131,8m2) tại Tổ dân phố V, thị trấn H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. Bà Tr đề nghị Tòa án chia di sản thừa kế và xin được hưởng kỷ phần bằng tiền là 11.200.000 đồng.

Bị đơn bà Trần Thị S và người đại diện trình bày: Thống nhất về quan hệ gia đình và nguồn gốc đất. Bà S là người trực tiếp quản lý, sử dụng đất từ khi hai cụ chết. Bà S đồng ý trả giá trị suất thừa kế bằng tiền cho bà Tr theo khung giá nhà nước nhưng đề nghị được nhận di sản bằng đất.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 10/2020/DS-ST ngày 21/7/2020, Tòa án nhân dân huyện B quyết định: Xác nhận diện tích đất 131,8m2 là di sản thừa kế; chia cho bà S quyền sử dụng đất; buộc bà S thanh toán kỷ phần cho bà Tr 47.774.600 đồng; tạm giao kỷ phần của bà B và anh X cho bà S quản lý.

Ngày 05/8/2020, Viện trưởng VKSND huyện B kháng nghị đề nghị sửa bản án sơ thẩm do phân chia di sản không đúng quy định, ảnh hưởng quyền lợi đương sự và vi phạm về tính án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Kháng nghị của Viện trưởng VKSND huyện B trong thời hạn luật định. Các đương sự vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt hoặc đã được triệu tập hợp lệ.

[2] Về nội dung: Nguồn gốc đất là di sản của cụ K và cụ Kh chưa chia. Cụ K và cụ Kh có 08 người con. Ông Trần Ngọc M (con cả) chết sau cụ Kh nhưng trước cụ K, nên các con ông M là anh E và anh X được hưởng thừa kế thế vị.

[2.3.1] Hội đồng xét xử thấy rằng tòa án cấp sơ thẩm chia phần di sản của ông M không đúng, làm ảnh hưởng quyền lợi của cụ K và bà G (vợ ông M). Do đó cần sửa lại cách phân chia.

[2.3.3] Do diện tích mỗi suất thừa kế nhỏ, không đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất riêng lẻ, nên giao toàn bộ đất cho bà S quản lý, sử dụng và bà S có trách nhiệm thanh toán giá trị bằng tiền cho các đồng thừa kế khác theo giá định giá 2.900.000đ/m2.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, khoản 1 Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015:

  1. Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện B.
  2. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 10/2020/DS-ST ngày 21/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện B.
  3. Xác nhận diện tích đất 131,8m2 tại thửa 155, tờ bản đồ 09 (bản đồ 299) là di sản thừa kế của cụ Trần K và cụ Trần Thị Kh.
  4. Chia cho các bà U, C, D, S, Tr, S1, B mỗi bà được hưởng giá trị tương đương 48.441.600 đồng. Anh E và anh X mỗi người được hưởng 18.913.800 đồng. Bà G được hưởng 5.309.900 đồng.
  5. Ghi nhận sự tự nguyện của các bà U, C, D, S1, G và anh E tặng cho kỷ phần của mình cho bà S.
  6. Xác nhận bà Trần Thị S được quyền sử dụng toàn bộ thửa đất 131,8m2. Bà S có nghĩa vụ thanh toán cho bà Tr 48.441.600 đồng. Tạm giao kỷ phần của bà B và anh X cho bà S quản lý.
  7. Về án phí: Miễn án phí sơ thẩm cho bà Tr. Bà S phải chịu 945.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
- TAND huyện B;
- VKSND huyện B;
- Chi cục THADS huyện B;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




(Đã ký)

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2021/DS-PT ngày 10/06/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc về tranh chấp chia di sản thừa kế

  • Số bản án: 23/2021/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia di sản thừa kế
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2021
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Tr khởi kiện đề nghị chia di sản thừa kế
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger