Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22a/2025/HS-ST

Ngày 04/03/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Nhật Duật

Các Hội thẩm nhân dân: bà Trần Thị Kim Thủy; ông Đỗ Xuân Hoài

- Thư ký phiên tòa: bà Trần Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: bà Trần Thị Kim Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 3 năm 2025, tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Hu Zhiqiang (Tên phiên âm tiếng Việt Nam: Hồ Chí C), sinh ngày 22/12/1983, tại: Trung Quốc; nơi cư trú: số B, đường X, thành phố Đ, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc; nghề nghiệp: kinh doanh; trình độ văn hoá: lớp 12/12; dân tộc: Hán; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Trung Quốc; con ông Hồ Gia M (tên phiên âm tiếng Việt Nam) và bà Vương Đỗ A (tên phiên âm tiếng Việt Nam); có vợ là Viên P (tên phiên âm tiếng Việt Nam); có 01 con sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt quả tang ngày 12/11/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt tại phiên tòa.

- Người phiên dịch: bà Phạm Thị Thùy N, sinh năm 1982; nơi cư trú: tổ A khu D phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; trình độ: Đại học ngoại ngữ Tiếng Trung Quốc; có mặt.

- Người chứng kiến: anh Lại Văn C1, sinh năm 1983; nơi cư trú: khu F phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hu Zhiqiang (Hồ Chí C) là người Trung Quốc sinh sống tại thành phố Đ, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc, thường xuyên nhập cảnh vào Việt Nam qua cửa khẩu quốc tế M1 bằng sổ thông hành theo diện cư dân biên giới để kinh doanh dịch vụ quảng cáo. Từ ngày 07/04/2023 đến ngày 12/11/2024, Hu Z đã nhập, xuất cảnh tổng cộng 1.132 lần giữa Việt Nam và Trung Quốc qua cửa khẩu quốc tế M1 nên nắm rõ các quy định về xuất nhập cảnh, trong đó có quy định về việc cư dân biên giới được phép mang theo số tiền 6.000 Nhân dân tệ (CNY) mà không cần khai báo với lực lượng Hải quan; nếu mang số tiền lớn hơn thì phải làm thủ tục khai báo Hải quan.

Ngày 12/11/2024, Hu Z mang theo tổng số tiền mặt là 50.000 CNY đi đến cửa khẩu quốc tế M1 để làm thủ tục xuất cảnh từ Việt Nam sang Trung Quốc bằng sổ thông hành dành cho cư dân biên giới. Do lo ngại thủ tục kê khai phức tạp nên Hu Z nảy sinh ý định trốn tránh việc khai báo số tiền mang theo. Trước khi làm thủ tục xuất cảnh, Hu Zhiqiang cất giấu 10.000 CNY trong túi đeo trên người, 40.000 CNY trong hai túi quần, trong đó mỗi túi quần cất giấu 20.000 CNY để tránh bị phát hiện. Vào 17 giờ 10 phút cùng ngày, sau khi hoàn thành thủ tục xuất cảnh, H đi đến khu vực kiểm tra của lực lượng Biên phòng M thì bị lực lượng Bộ đội Đồn Biên phòng và Hải quan cửa khẩu quốc tế M1 tiến hành kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng gồm:

  • 500 tờ tiền Trung Quốc cùng mệnh giá 100 CNY.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu HONOR màu bạch kim, thuê bao 19177090600, đã qua sử dụng.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu MI màu đen, thuê bao 0396.759.301, đã qua sử dụng.
  • 01 giấy chứng minh thư nhân dân và sổ thông hành do Trung Quốc cấp mang tên Hu Z.

Kết luận giám định số 1745/KL-KTHS ngày 16/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: 500 tờ tiền Trung Quốc loại 100 Nhân dân tệ là tiền thật.

Công văn số 1035/QUN1 ngày 14/11/2024 của Ngân hàng N1 - Chi nhánh Q cung cấp tỷ giá Nhân dân tệ từ ngày 07/11/2024 đến ngày 13/11/2024 là: 01 Nhân dân tệ (CNY) tương ứng 3.384,5381 VNĐ.

Căn cứ theo quy định tại Điều 4 Quyết định số 92/2000/QĐ-NHNN7 ngày 17/3/2000 của Ngân hàng N1, thì Hu Z được phép mang 6.000 CNY từ Việt Nam sang Trung Quốc, tương ứng với tỉ giá ngày 12/11/2024 là 20.307.228,6 VND. Như vậy, tổng số tiền Hu Z vận chuyển trái phép qua biên giới từ Việt Nam sang Trung Quốc là 169.226.905 VND.

Quá trình điều tra, H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu.

Tại Bản cáo trạng số: 855/CT-VKSQN-P3 ngày 08/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Hu Z về tội “Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới” theo quy định tại khoản 1 Điều 189 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Hu Z khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh, thừa nhận bị truy tố, xét xử về tội “Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới” là đúng tội, không oan. Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra là tự nguyện, khách quan, không bị đe dọa, ép buộc.

Người chứng kiến là anh Lại Văn C1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai trong quá trình điều tra thể hiện được chứng kiến lực lượng Biên phòng cửa khẩu Quốc tế M1 kiểm tra, bắt giữ và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Hu Z phù hợp với nội dung vụ án và vật chứng thu giữ.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đã giữ nguyên quyết định truy tố và luận tội đối với bị cáo; phân tích nội dung vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Hu Z phạm tội “Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới”. Áp dụng khoản 1 Điều 189; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 37 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Hu Z 05 (năm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 12/11/2024. Trục xuất bị cáo rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam sau khi chấp hành xong hình phạt tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước số tiền 44.000 Nhân dân tệ (CNY), tương ứng là 169.226.905 VNĐ.

Trả lại cho bị cáo Hu Z: số tiền 6.000 Nhân dân tệ (CNY); 01 điện thoại di động có ghi chữ HONOR; 01 điện thoại di động có ghi chữ MI màu đen; 01 sổ thông hành số R05518093 và 01 căn cước công dân do Trung Quốc cấp mang tên Hu Z1.

Bị cáo không tranh luận với lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát và nói lời nói sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: quá trình điều tra, bị cáo Hu Z đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến, phù hợp với vật chứng đã thu giữ; tại phiên tòa bị cáo đều khẳng định lời khai nhận trong quá trình điều tra là tự nguyện, đúng sự thật, thừa nhận nội dung bản Cáo trạng đã nêu đúng hành vi phạm tội của bị cáo; căn cứ vào lời khai của bị cáo, người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Vào 17 giờ 10 phút ngày 12/11/2024, tại cửa khẩu Quốc tế M1, tỉnh Quảng Ninh, Hu Z có hành vi cất giấu, vận chuyển trái phép ngoại tệ tiền mặt là Nhân dân tệ qua biên giới có trị giá tương đương 169.226.905 VND (một trăm sáu mươi chín triệu, hai trăm hai mươi sáu nghìn, chín trăm linh năm đồng) từ Việt Nam sang Trung Quốc, không thực hiện thủ tục khai báo hải quan theo quy định thì bị lực lượng Bộ đội Biên phòng và Hải quan cửa khẩu Quốc tế M1 kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang.

Bị cáo Hu Z là người trưởng thành, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi do lỗi cố ý. Bị cáo đã nhiều lần xuất, nhập cảnh giữa Việt Nam và Trung Quốc nên biết rõ quy định của pháp luật Việt Nam về hạn mức ngoại tệ được mang khỏi Việt Nam. Tuy nhiên, vì lo ngại thủ tục hải quan tại C2, e ngại việc khai báo nên bị cáo đã chia nhỏ số tiền rồi cất giấu trong các túi đeo trên người và túi quần đang mặc để trốn tránh việc khai báo. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý ngoại thương, ngoại hối, hoạt động xuất nhập khẩu của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Hành vi của bị cáo Hu Z đã phạm tội “Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới” theo quy định tại khoản 1 Điều 189 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo Hu Z phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt bổ sung: do bị cáo là người nước ngoài phạm tội nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là trục xuất đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng, tài sản thu giữ:

Số tiền 44.000 Nhân dân tệ (CNY), tương ứng là 169.226.905 VND (một trăm sáu mươi chín triệu, hai trăm hai mươi sáu nghìn, chín trăm linh năm đồng) là tiền bị cáo Hu Z vận chuyển trái phép qua biên giới, liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu, sung nộp ngân sách Nhà nước.

Số tiền 6000 Nhân dân tệ (CNY), tương ứng là 20.307.228,6 VND là tài sản của bị cáo Hu Z, được phép mang qua biên giới mà không cần khai báo nên trả lại cho bị cáo.

Đối với 01 điện thoại di động ghi chữ HONOR, 01 điện thoại di động ghi chữ MI; 01 sổ thông hành số R05518093 và 01 căn cước công dân do Trung Quốc cấp mang tên Hu Z1 là tài sản và giấy tờ cá nhân của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: bị cáo Hu Z phạm tội “Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 189; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 37 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Hu Z: 05 (năm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/11/2024.

Trục xuất bị cáo Hu Z rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sau khi bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, nếu bị cáo không liên quan đến vi phạm pháp luật khác.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 44.000 Nhân dân tệ (CNY); trả lại cho bị cáo Hu Z số tiền 6.000 Nhân dân tệ (CNY).

Theo biên bản giao nhận tài sản số 214/2025/BBBG-KBNN QN và Phiếu nhập kho ngày 10/01/2025 của Kho bạc Nhà nước Q1.

Trả lại cho bị cáo Hu Z: 01 (một) điện thoại di động có ghi chữ HONOR; 01 (một) điện thoại di động có ghi chữ MI màu đen.

Tình trạng vật chứng theo như Biên bản giao nhận vật chứng số 53 ngày 08/01/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh.

Trả lại cho bị cáo Hu Z: 01 sổ thông hành số R05518093 và 01 căn cước công dân do Trung Quốc cấp mang tên Hu Z.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: buộc bị cáo Hu Z phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Cơ quan điều tra CA tỉnh QN;
  • - Cơ quan THAHS CA tỉnh QN;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh QN:
  • - Cục THADS tỉnh QN;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Nhật Duật

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Kim Thủy

Đỗ Xuân Hoài

Nguyễn Nhật Duật

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22a/2025/HS-ST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới

  • Số bản án: 22a/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 12/11/2024, Hu Z mang theo tổng số tiền mặt là 50.000 CNY đi đến cửa khẩu quốc tế M1 để làm thủ tục xuất cảnh từ Việt Nam sang Trung Quốc bằng sổ thông hành dành cho cư dân biên giới. Do lo ngại thủ tục kê khai phức tạp nên Hu Z nảy sinh ý định trốn tránh việc khai báo số tiền mang theo. Trước khi làm thủ tục xuất cảnh, Hu Zhiqiang cất giấu 10.000 CNY trong túi đeo trên người, 40.000 CNY trong hai túi quần, trong đó mỗi túi quần cất giấu 20.000 CNY để tránh bị phát hiện. Vào 17 giờ 10 phút cùng ngày, sau khi hoàn thành thủ tục xuất cảnh, H đi đến khu vực kiểm tra của lực lượng Biên phòng M thì bị lực lượng Bộ đội Đồn Biên phòng và Hải quan cửa khẩu quốc tế M1 tiến hành kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng gồm: - 500 tờ tiền Trung Quốc cùng mệnh giá 100 CNY. - 01 điện thoại di động nhãn hiệu HONOR màu bạch kim, thuê bao 19177090600, đã qua sử dụng. - 01 điện thoại di động nhãn hiệu MI màu đen, thuê bao 0396.759.301, đã qua sử dụng. - 01 giấy chứng minh thư nhân dân và sổ thông hành do Trung Quốc cấp mang tên Hu Z. Kết luận giám định số 1745/KL-KTHS ngày 16/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: 500 tờ tiền Trung Quốc loại 100 Nhân dân tệ là tiền thật. Công văn số 1035/QUN1 ngày 14/11/2024 của Ngân hàng N1 - Chi nhánh Q cung cấp tỷ giá Nhân dân tệ từ ngày 07/11/2024 đến ngày 13/11/2024 là: 01 Nhân dân tệ (CNY) tương ứng 3.384,5381 VNĐ. Căn cứ theo quy định tại Điều 4 Quyết định số 92/2000/QĐ-NHNN7 ngày 17/3/2000 của Ngân hàng N1, thì Hu Z được phép mang 6.000 CNY từ Việt Nam sang Trung Quốc, tương ứng với tỉ giá ngày 12/11/2024 là 20.307.228,6 VND. Như vậy, tổng số tiền Hu Z vận chuyển trái phép qua biên giới từ Việt Nam sang Trung Quốc là 169.226.905 VND. Quá trình điều tra, H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger