Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH XUYÊN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 22A/2025/HS-ST

Ngày 13 tháng 02 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên tòa: Bà Lê Nữ Hương Huyền.

Các Hội thẩm Nhân dân: Bà Trần Thị Năm và bà Lê Thị Bích Thuần

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hà, Thư ký Tòa án Nhân dân huyện Bình Xuyên.

Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân huyện Bình Xuyên tham gia phiên tòa:

Ông Phạm Quang Hảo- Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 144/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/QĐXXST- HS ngày 03 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/QĐ- HPT ngày 17/01/2025, đối với bị cáo:

Vũ Đình K, sinh ngày 12/8/1993 tại Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Đình L và bà Nguyễn Thị M; vợ: Nguyễn Thị Thu T; có 02 con: sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2024.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại (có mặt).

Bị hại: Công ty TNHH S; địa chỉ: Khu công nghiệp B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Yun Eun K1- Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 2002; địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

Chị Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

Ông Vũ Đình L, sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau

Vũ Đình K là công nhân làm việc tại bộ phận kiểm soát chất lượng đầu vào (IQC) của Công ty TNHH S, địa chỉ tại: Khu công nghiệp B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. Công việc của K được giao là kiểm tra chất lượng các linh kiện điện tử (các chip IC điện tử), cụ thể: Khi các chip được nhập về công ty S1 thì bộ phận kho nguyên vật liệu (gọi là 1L46 hoặc kho A) làm thủ tục nhập kho và để tại vị trí hàng chờ kiểm tra để bộ phận IQC kiểm tra chất lượng. Sau đó, bộ phận IQC tự qua kho A kiểm tra bên ngoài xem thùng có móp méo, mã thông tin sản phẩm có đầy đủ bên ngoài hay không, nếu đạt chất lượng thì dán tem “ok” màu xanh, bị lỗi thì dán tem “NG” màu đỏ. Hàng “ok” thì kho A chuyển vào bộ phận “RACK”. Trường hợp trong quá trình sản xuất bộ phận sản xuất (kho 2A12) nếu phát hiện chip có lỗi do nghi ngờ lỗi nguyên vật liệu hoặc do “Vender- nhà cung cấp báo lỗi” thì thu hồi đến bộ phận IQC. Sau khi nhận được phản hồi về việc linh kiện IC có lỗi thì bộ phận IQC sẽ phải xác nhận với bộ phận báo lỗi do nguyên vật liệu, sau đó sẽ kiểm tra hàng còn tồn ở bộ phận sản xuất hoặc xuống kho A lấy hàng về kiểm tra. Khi lấy hàng sẽ làm thủ tục xuất kho, có phiếu lấy hàng thì kho A sẽ cho người chuyển hàng từ vị trí “RACK” về bộ phận IQC, lúc này nhân viên kiểm tra tùy theo lỗi sẽ cắt chip ra để kiểm tra hoặc không cần cắt chip mà báo lỗi luôn.

Quá trình làm việc, K biết chip IC, mã số: 1105A0100488 có giá trị lớn, lợi dụng sơ hở trong quản lý hàng hóa nên K nảy sinh ý định trộm cắp các chip này mang ra ngoài bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Để dễ dàng lấy được các chip ra ngoài, biết rõ chip IC, mã số: 1105A0100488 là hàng miễn kiểm (miễn kiểm tra chất lượng khi nhập vào), trong thời gian này không có bộ phận nào trong công ty B này bị lỗi nhưng K đã làm phiếu đề xuất kho A lấy các chip IC, mã số: 1105A0100488 về kho IQC của K rồi yêu cầu nhân viên cắt các chip ra (coi như đang cắt chip để kiểm tra lỗi) sau đó lén lút đưa chip ra ngoài. Cụ thể: Ngày 06/6/2022, K gọi điện cho chị Nguyễn Thị T2 là nhân viên thường trú của nhà cung cấp chip làm việc tại công ty TNHH S1, yêu cầu chị T2 đi làm ca đêm từ 20 giờ ngày 06/6/2022 đến 08 giờ sáng ngày 07/6/2022 để cắt mẫu chip kiểm tra thì chị T2 đồng ý. Khiêm làm sẵn phiếu yêu cầu kho A xuất 180.000 chip IC, mã số: 1105A0100488 (không ghi rõ lý do lấy hàng) và bảo chị T2 cầm phiếu yêu cầu của K đến kho A lấy chip IC, mã số: 1105A0100488, đem sang bộ phận IQC, K yêu cầu chị T2 mỗi thùng lấy từ 2 đến 3 cuộn chip, mỗi cuộn cắt lấy từ 2 đến 3 vòng, sau đó cất chip cắt được vào thùng cattong bằng giấy để trên bàn làm việc của K tại kho IQC hôm sau Khiêm kiểm tra chip. Khoảng 20 giờ cùng ngày, chị T2 đến bàn làm việc của K cầm phiếu đề nghị xuất hàng (K để từ trước) đến kho A nhận 180.000 con chip gồm: 18 thùng cattong còn nguyên vẹn tem niêm phong, bên trong mỗi thùng có 05 hộp, bên trong mỗi hộp là 01 cuộn chip được bọc trong túi giấy bạc đã hút chân không, mỗi cuộn chip có 2.000 chip. Sau đó, mỗi thùng chị T2 lấy ra khoảng từ 1-3 cuộn chip, mỗi cuộn cắt khoảng từ 1-3 vòng chip rồi lấy vòng bảo vệ bên ngoài dán lại như ban đầu và hút chân không cho vào hộp đóng thùng lại như ban đầu để vào vị trí cũ. Đối với số chip cắt được, chị T2 cho vào 01 thùng cattong để tại vị trí bàn làm việc của K. Sáng ngày 07/6/2022, K đến công ty đem trả lại 01 ba lét gồm 18 thùng chip IC, mã số: 1105A0100488 cho kho A và báo trả đủ số lượng 180.000 chip. Còn thùng chip chị T2 đã cắt để trên bàn làm việc của K, để che dấu hành vi phạm tội K đã đem 01 thùng cattong tương tự dán kín (bên trong không có gì) đánh dấu là chip bị lỗi rồi mang xuống bộ phận tiêu hủy. Còn thùng chứa chip IC, mã số: 1105A0100488 Khiêm cất giấu dưới gầm bàn nơi K làm việc. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, K lén lút bê thùng cattong chứa chip này ra vị trí công nhân hút thuốc lá của công ty sát với tường rào, quan sát không có người Khiêm vứt thùng chip ra bên ngoài công ty. Sau đó, K quay vào công ty lấy xe mô tô BKS 88G1-109.88 ra vị trí thùng đựng chip IC, mã số: 1105A0100488 vừa lấy được cho lên xe điều khiển đem về nhà cất dấu. Tối cùng ngày, K lên mạng xã hội Faecbook, tìm kiếm hội nhóm thu mua phế liệu và giao bán chip IC, mã số: 1105A0100488 thì có tài khoản Faecbook tên “Đ” hỏi mua và thống nhất hẹn gặp nhau để giao dịch ở khu vực ngã 3 nhà 10 tầng thuộc địa phận thị trấn B, huyện B. Đến khoảng 01 giờ ngày 08/6/2022, K gặp 01 nam giới tại điểm hẹn, sau khi kiểm tra chip thì nam giới này đồng ý mua toàn bộ số chip trên và trả giá 0,55 USD/1 con chip tương đương giá tiền là: 12.650 đồng/1 chip, nam giới cân số chip lên và trả tiền mặt cho K số tiền là 87.400.000 đồng, K nhận tiền đi về nhà sau đó tiêu sài cá nhân hết.

Đối với 01 balet chứa 180.000 con chip IC, mã số: 1105A0100488 đựng trong 18 thùng hàng ngày 07/6/2022 K trả về kho A, sau đó kho A đã xuất đến kho sản xuất của công ty phục vụ sản xuất. Cuối tháng 9/2022, Công nhân bộ phận sản xuất của Công ty TNHH S mở một số thùng hàng chip IC, mã số: 1105A0100488 quan sát qua mắt thường phát hiệu thấy thiếu nên đã trình báo lãnh đạo công ty. Công ty yêu cầu các bộ phận quản lý chip này dừng xuất, nhập, sản xuất đối với mã chip IC, mã số: 1105A0100488 và tổ chức kiểm đếm toàn bộ số chip mã này trong Công ty phát hiện thấy thiếu 6.915 chip. Qua kiểm tra camera an ninh xác định Vũ Đình K có hành vi trộm cắp các chip nên đã trình báo Công an huyện B. Cơ quan điều tra đã triệu tập Vũ Đình K và các đối tượng liên quan để đấu tranh làm rõ. Tại Cơ quan điều tra, Vũ Đình K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên

Tại Cáo trạng số: 150/CT-VKSBX ngày 07/10/2024, Viện kiểm sát Nhân dân huyện Bình Xuyên đã truy tố Vũ Đình K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 3 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vũ Đình K khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Vũ Đình K từ 05 năm đến 06 năm tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu bán để sung ngân sách nhà nước 01 chiếc điện di động nhãn hiệu Samsung thu giữ của Vũ Đình K.

Trả lại cho Công ty TNHH S số tiền 348.200.000 đồng.

Xác nhận cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Vũ Đình L 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 88G1- 109.88 là hợp pháp.

Bị cáo không bào chữa, tranh luận khác; bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Vũ Đình K tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp nhau, phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận: Vũ Đình K là công nhân làm việc tại bộ phận kiểm soát chất lượng đầu vào tại Công ty TNHH S có địa chỉ tại khu công nghiệp B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. Lợi dụng sơ hở trong công tác quản lý của công ty, ngày 06/6/2022 K đã nói dối chị Nguyễn Thị T2 là nhân viên thường trú của nhà cung cấp chip làm việc tại công ty của K cắt chip IC, mã số: 1105A0100488 để Khiêm kiểm tra lỗi chip (thực tế các chip này là hàng miễn kiểm tra). Sau đó, đến ngày 07/6/2022 K đã lén lút trộm cắp 6.915 con chip IC, mã số: 1105A0100488 của công ty S1 (số chip chị T2 đã cắt được) đem ra ngoài Công ty bán được số tiền 87.400.000 đồng và tiêu sài cá nhân hết. Tổng giá trị tài sản K chiếm đoạt được theo kết luận định giá là 348.142.590 đồng.

Hành vi nêu trên của Vũ Đình K đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 3 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Nội dung điều luật quy định:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng..., thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo phạm tội theo quy định tại khoản 3 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, có mức cao nhất của khung hình phạt đến 15 năm tù nên theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 9 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì trường hợp nêu trên thuộc tội phạm rất nghiêm trọng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã nộp số tiền 348.200.000 đồng để khắc phục hậu quả. Bố đẻ bị cáo là Vũ Đình L được tặng thưởng Bằng khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh V; bà nội bị cáo là Nguyễn Thị H được tặng thưởng Huân chương kháng chiến Hạng Ba; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách hiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng.

Căn cứ vào tính chất, mức độ của tội phạm, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự vì bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Như vậy cũng có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho gia đình và xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa xác định bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Đối với những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan gồm:

Đối với chị Nguyễn Thị T2 là nhân viên thường trú của nhà cung cấp làm việc tại công ty TNHH S1. Ngày 06/6/2022, chị T2 cắt chip IC, mã số: 1105A0100488 theo yêu cầu của Vũ Đình K, sau đó K đã lén lút chiếm đoạt số chip chị T2 cắt, nhưng K không nói, chị T2 không biết và không được hưởng lợi gì từ hành vi trộm cắp của K nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với chị Nguyễn Thị T2 là phù hợp.

Đối với nam giới có tên tài khoản facebook là “Đại” mà K khai rạng sáng ngày 08/6/2022 đã mua các con chip IC, mã số: 1105A0100488 của K, do K không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này, Cơ quan điều tra xác minh nhưng không xác định được danh tính nên không có căn cứ để xử lý. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh, khi nào rõ xử lý sau.

[7] Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung thu giữ của Vũ Đình K là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu bán phát mại nộp ngân sách nhà nước.

Đối với 6.915 con chip IC mà Vũ Đình K trộm cắp của Công ty nhưng mang bán nên không thu hồi được. Trị giá là 348.142.590 đồng. Vũ Đình K đã tự nguyện nộp số tiền 348.200.000 đồng để khắc phục hậu quả. Do đó cần trả lại cho Công ty TNHH S số tiền này.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Vũ Đình K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Căn cứ khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Vũ Đình K 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
  3. Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho Công ty TNHH S số tiền 348.200.000 đồng do Vũ Đình K giao nộp.

    Tịch thu bán để sung ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung thu giữ của Vũ Đình K (Tài sản có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/01/2025)

  4. Án phí Hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Vũ Đình K phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).
  5. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Viện kiểm sát huyện Bình Xuyên;
  • - Công an huyện Bình Xuyên;
  • - Trại tạm giam- CA tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Chi cục THADS huyện Bình Xuyên;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Nữ Hương Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22A/2025/HS-ST ngày 13/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 22A/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TCTS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger