|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 229/2024/HS-ST
Ngày 30-8-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Mừng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đồng Văn Quân
2. Bà Nguyễn Thị Bích Phương
Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Mạnh Hùng - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Lệ X - Kiểm sát viên
Trong ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 228/2024/TLHS-ST, ngày 14/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 225/2024/QĐXXST-HS, ngày 16/8/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bế Ngọc Q; sinh ngày 23/01/2005, tại Bắc Kạn
Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã L, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không. Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không. Con ông Bế Ngọc D, sinh năm 1979. Con bà Nông Thị L, sinh năm 1976. Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo không bị bắt tạm giữ tạm giam, đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên toà).
Bị hại: Chị Mã Ngọc H, sinh năm 2005 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ E, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Thành L1, sinh năm 1996 (vắng mặt)
Địa chỉ: Xóm C, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên
Người làm chứng: Anh Trương Văn H1, sinh năm 2005 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn B, xã L, huyện B, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trên cơ sở các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả xét hỏi tại phiên tòa thì nội dung vụ án như sau: Bế Ngọc Q có mối quan hệ bạn bè với chị Mã Ngọc H (sinh năm: 2005, HKTT: Tổ E, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng). Bản thân Q không có tiền tiêu xài cá nhân và trước đây Q hay sang phòng trọ của chị H tại xóm S, xã Q, thành phố T chơi nên biết chị H có sở hữu 01 chiếc máy tính Laptop nhãn hiệu HP, màu xám nên Q đã nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc máy tính trên của chị H để mang bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Khoảng 13 giờ ngày 25/12/2023, Q một mình đến phòng trọ của chị H. Tại đây, Q gặp chị H và anh Trương Văn H1 (sinh năm: 2005, HKTT: Thôn B, xã L, huyện B, tỉnh Thanh Hóa) là người yêu của chị H. Q nói dối chị H cho Q mượn chiếc máy tính laptop của chị H khoảng 02 đến 03 ngày để Q học bài, khi học xong thì Q sẽ mang trả. Thấy Q nói vậy nên chị H tin tưởng và lấy Laptop nhãn hiệu HP, màu xám của mình cho Q mượn. Khi chiếm đoạt được tài sản, Q mang đến bán cho anh Nguyễn Thành L1 (sinh năm: 1996, HKTT: Xóm C, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên) với giá 4.000.000 đồng. Anh L1 mua chiếc máy tính Laptop trên nhưng không biết đây là tài sản do Q phạm tội mà có. Đến ngày 08/4/2024, sau nhiều lần không liên lạc được với Q, chị H đã đến Công an xã Q trình báo sự việc và đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật. Ngày 08/4/2024, Công an xã Q đã làm việc với anh Nguyễn Thành L1. Anh L1 tự nguyện giao nộp 01 máy tính Laptop nhãn hiệu HP mà anh L1 mua của Q vào tháng 12/2023.
Tại Kết luận định giá tài sản số 71/KL-HĐĐGTS, ngày 17 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 Laptop nhãn hiệu HP, đã qua sử dụng trị giá 7.000.000 đồng.
Vật chứng của vụ án: 01 laptop nhãn hiệu HP, màu bạc, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Mã Ngọc H quản lý, sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Chị H đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu đề nghị gì với Q. Anh L1 đã được Q bồi thường 4.000.000 đồng nên anh L1 không có yêu cầu, đề nghị gì.
Tại Cáo trạng số 229/CT-VKSTPTN, ngày 12/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Bế Ngọc Q về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Kết thúc phần tranh tụng, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên giữ nguyên cáo trạng, đã luận tội đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bế Ngọc Q phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bế Ngọc Q từ 9 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo theo quy định.
- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về phần dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì về phần dân sự. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được bị cáo bồi thường và không có yêu cầu gì về phần dân sự.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người đúng tội, không oan. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được sửa sai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.
- Về căn cứ buộc tội: Quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo Bế Ngọc Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng phù hợp với các tài liệu điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Hồi 13 giờ ngày 25/12/2023, tại phòng trọ của chị Mã Ngọc H thuộc xóm S, xã Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, Bế Ngọc Q đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt 01 chiếc máy tính laptop của chị H, có trị giá là 7.000.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt được tài sản của chị H, Q mang đến bán cho anh Nguyễn Thành L1 được số tiền 4.000.000 đồng. Anh L1 mua tài sản của Q nhưng không biết tài sản đó do Q phạm tội mà có. Anh L1 đã tự nguyện giao nộp lại chiếc laptop trên, Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho chị H. Về phần dân sự đã giải quyết xong.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Nội dung Điều 174. Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định như sau:
“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
- Xét tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo là ít nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, trong vụ án này là quyền sở hữu tài sản của chị Mã Ngọc H. Hành vi của bị cáo đã gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do vậy, cần có mức án tương xứng với hành vi bị cáo đã gây ra để có đủ thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
- Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo:
- - Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả”, “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” và “Thành khẩn khai báo ăn năn hối cải” quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- - Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- - Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, mặc dù chưa có tiền án, tiền sự gì. Tuy nhiên, bị cáo không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân, không chịu lao động, chỉ vì không tiền tiêu xài cá nhân mà lao vào con đường phạm tội thể hiện lỗi cố ý trực tiếp và ý thức coi thường pháp luật.
- Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Bế Ngọc Q được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo tuổi đời con trẻ lại có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự, bị cáo có nơi cư trú ổn định rõ ràng. Tại địa phương bị cáo không có vi phạm pháp luật.
HĐXX xét thấy cần mở lượng khoan hồng của pháp luật, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương nơi cư trú, dưới sự giám sát của chính quyền địa phương vẫn đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung. Đối chiếu theo quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018; Nghị quyết số 01/2022/NQ – HĐTP, ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, HĐXX xét thấy cần xử phạt bị cáo Bế Ngọc Q mức án từ 9 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp và được HĐXX xem xét chấp nhận.
- Ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Bế Ngọc Q, buộc bị cáo không được rời khỏi nơi cư trú kể từ ngày 30/8/2024 cho đến khi bị cáo đi chấp hành án. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú của bị cáo để quản lý, theo dõi.
- Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo do bị cáo không có nghề nghiệp và không có tài sản gì.
- Về dân sự: Bị hại chị Mã Ngọc H đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì đối với bị cáo; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Thành L1 đã được bị cáo bồi thường, anh L1 không có yêu cầu đề nghị về phần dân sự nên HĐXX không xem xét.
- Về vật chứng: 01 chiếc Laptop nhãn hiệu HP, màu bạc, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Mã Thị Ngọc H2 quản lý, sử dụng. HĐXX xét thấy việc Cơ quan điều tra trả lại tài sản cho bị hại là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
- Vấn đề khác: Đối với anh Nguyễn Thành L1 là người mua tài sản của Q, khi mua anh L1 không biết tài sản đó do Q phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.
- Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bế Ngọc Q phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
- Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015. Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP, ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
Xử phạt bị cáo Bế Ngọc Q 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 30/8/2024.
Giao bị cáo Bế Ngọc Q cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện N, tỉnh Bắc Kạn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, theo quy định tại Điều 93 Luật Thi hành án hình sự.
- Ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Bế Ngọc Q, buộc bị cáo không được rời khỏi nơi cư trú kể từ ngày 30/8/2024 cho đến khi bị cáo đi chấp hành án. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú của bị cáo để quản lý, theo dõi.
- Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Q.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Bế Ngọc Q phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án./.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Xuân Mừng |
Bản án số 229/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 229/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiểm đoạt tài sản
