TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 229/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 26 - 7 - 2024
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Lê Văn Phụng;
- Ông Trương Phước Công.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Tường Vi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Trần Long - Kiểm sát viên..
Ngày 26 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 268HN ngày 11 tháng 42024 về tranh chấp “ly hôn, nuôi con chung”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 367/2024/QĐXX-ST ngày 18 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đăng K năm 1979địa chỉ: số B, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp(có đơn xin vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Dương Tuấn C năm 1986địa chỉ: ấp B, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, tờ tự khai nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đăng K1 bày: Bà và ông Dương Tuấn C1 tìm hiểu và đi đến hôn nhân năm 2014 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh An Giang; thời gian đầu sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẩn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, ông C2 không lo cuộc sống chung của vợ chồng, thường xuyên cải vã và từ năm 2020 đến nay không còn sống chung. Nay, nhận thấy tình cảm không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Dương Tuấn C3
- Về quan hệ con chung: Có 01 con chung tên Dương Ngọc Phúc N, sinh ngày 22/12/2014. Hiện đang sống chung với bà K2 sau khi ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi, bà không yêu cầu ông C3 cấp dưỡng nuôi con.
- Về quan hệ tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.
- Về quan hệ nợ chung: Bà K2 trình bày không có nợ chung.
Bị đơn ông Dương Tuấn C4 được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông C3 không gửi văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đăng K3
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn sơ thẩm: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Đăng K4 ông Dương Tuấn C3
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Đăng K5 ly hôn với ông Dương Tuấn C3
Về quan hệ con chung: Bà Nguyễn Thị Đăng K5 trực tiếp trông nôm, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung tên Dương Ngọc Phúc N, sinh ngày 22/12/2014; ông C3 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đăng K6 đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Dương Tuấn C4 được tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng hôm nay ông C3 vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị Đăng K7 Dương Tuấn C5 có căn cứ đúng theo quy định của pháp luật.
Bà Nguyễn Thị Đăng K8 kiện vụ án tranh chấp về ly hôn với ông Dương Tuấn CườngÔng C6 có nơi cư trú trên địa bàn huyện C, tỉnh An Giang. Căn cứ vào các Điều 28, 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng theo thẩm quyền.
[2] Về nội dung vụ án: Bà Nguyễn Thị Đăng K9 ông Dương Tuấn C7 lập quan hệ vợ chồng và chung sống với nhau vào năm 2014 ông, bà có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn của ông bà là hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Tuy nhiên, trong cuộc sống chung vợ chồng ông bà phát sinh nhiều mâu thuẫn, theo bà K3 trình bày mâu thuẫn phát sinh từ việc vợ chồng không tôn trọng nhau, tính tình không hợp, trong thời gian chung sống thường xảy ra bất hòa, cả hai đã cố gắng tìm cách hàn gắn vẫn không thể nào chung sống với nhau và đã không còn chung sống với nhau từ năm 2020 đến nay.
Hội đồng xét xử xét thấy: bà Nguyễn Thị Đăng K10 ly hôn, do cuộc sống chung vợ chồng không được hạnh phúc, vợ chồng không còn sống chung đến nay là một khoảng thời gian dài, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Đăng K3
- Về quan hệ con chung: có 01 con chung tên Dương Ngọc Phúc N, sinh ngày 22/12/2014. Hiện đang sống chung với bà K3 sau khi ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi, bà không yêu cầu ông C6 cấp dưỡng nuôi con.
Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án ngày 02/5/2024 ghi nhận ý kiến đối với cháu Dương Ngọc Phúc N, sinh ngày 22/12/2014 thì nguyện vọng cháu Phúc N khi cha mẹ không còn sống chung với nhau nữa thì cháu mong muốn sống chung với mẹ là bà Nguyễn Thị Đăng K11 đồng xét xử xét thấy từ khi bà K3, ông C6 không còn sống chung trong khoảng thời gian dài; thì bà K3 vẫn đảm bảo về điều kiện chăm sóc tốt cho cháu Phúc N. Do đó, để đảm bảo ổn định cuộc sống cho con chung, giúp cháu Phúc Nguyên phát t tốt về thể chất, tinh thần. Căn cứ theo Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Hội đồng xét xử nghỉ nên giao cháu Phúc N cho bà K3 được trực tiếp trông nôm, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp với quy định pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con chung do bà K3 không yêu cầu cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xét đến.
Ông Dương Tuấn C8 trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng ông có quyền tới lui trông nôm và giáo dục con chung, không ai được ngăn cản ông Có thực hiện quyền này.
Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án xem xét và quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về quan hệ tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Đăng K8 kiện, không yêu cầu Tòa án giải quyết; nên Hội đồng xét xử không xét đến.
- Về quan hệ nợ chung: Ghi nhận bà K3 trình bày không có nợ chung. Nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của bà K3 và ông C6 trong thời kỳ hôn nhân thì bà K3 và ông C6 vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
[3] Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào,
- - Các Điều 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.
- - Các Điều 28, 35, 146, 147, 227, 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đăng K3
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Đăng K5 ly hôn với ông Dương Tuấn C6
- Về quan hệ con chung: Bà Nguyễn Thị Đăng K5 tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Dương Ngọc Phúc N, sinh ngày 22/12/2014. Ông C8 phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về quan hệ tài sản chung: Bà K3 không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nên Hội đồng xét xử không xét đến.
- Về quan hệ nợ chung: Ghi nhận bà K3 trình bày không có nợ chung. Nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của bà K3 và ông C6 trong thời kỳ hôn nhân thì bà K3 và ông C6 vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Đăng K12 chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm nộp án phí đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, theo biên lai thu số: 0015351 ngày 02/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Bà Nguyễn Thị Đăng K13 nộp đủ.
- Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Đăng K9 ông Dương Tuấn C9 quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết bản án hợp lệ.
Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số: 49/2014, ngày 13/3/2014 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh An Giang; cấp cho bà Nguyễn Thị Đăng K9 ông Dương Tuấn C8 còn giá trị pháp lý.
Ông Dương Tuấn C8 trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng ông có quyền tới lui trông nôm và giáo dục con chung, không ai được ngăn cản ông C6 thực hiện quyền này.
Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án xem xét và quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con.
Ông Dương Tuấn C8 phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quang Thanh |
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Chợ Mới, ngày 26 tháng 7 năm 2024 |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Về vụ án: Tranh chấp “ly hôn, nuôi con chung” giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đăng K năm 1979địa chỉ: số B, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp
- Bị đơn: Ông Dương Tuấn C năm 1986địa chỉ: ấp B, xã H, huyện C, tỉnh An Giang
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang T.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Lê Văn P;
- Ông Trương Phước C10.
NỘI DUNG
Sau khi thảo luận, biểu quyết Hội đồng xét xử thống nhất 3/3 tất cả các nội dung sau:
Căn cứ:
- - Các Điều 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.
- - Các Điều 28, 35, 146, 147, 227, 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đăng K3
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Đăng K5 ly hôn với ông Dương Tuấn C6
- Về quan hệ con chung: Bà Nguyễn Thị Đăng K5 tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Dương Ngọc Phúc N, sinh ngày 22/12/2014. Ông C8 phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về quan hệ tài sản chung: Bà K3 không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nên Hội đồng xét xử không xét đến.
- Về quan hệ nợ chung: Ghi nhận bà K3 trình bày không có nợ chung. Nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của bà K3 và ông C6 trong thời kỳ hôn nhân thì bà K3 và ông C6 vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Đăng K12 chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm nộp án phí đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, theo biên lai thu số 0015351 ngày 11/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Bà Nguyễn Thị Đăng K13 nộp đủ.
- Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Đăng K9 ông Dương Tuấn C9 quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết bản án hợp lệ.
Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số: 49/2014, ngày 13/3/2014 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh An Giang; cấp cho bà Nguyễn Thị Đăng K9 ông Dương Tuấn C8 còn giá trị pháp lý.
Ông Dương Tuấn C8 trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng ông có quyền tới lui trông nôm và giáo dục con chung, không ai được ngăn cản ông C6 thực hiện quyền này.
Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án xem xét và quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con.
Ông Dương Tuấn C8 phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Hội thẩm nhân dân | Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa |
Trần Quang T |
Bản án số 229/2024/HNGĐ-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 229/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
