Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 229/2024/HS-PT

Ngày 23 - 7- 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thương Huyền

Các Thẩm phán: Bà Đoàn Thị Hương Giang

Bà Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thùy Linh – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh gia phiên tòa: Bà Lê Thủy Tiên - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 179/2024/TLPT-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Phan Thị Kim Y do có kháng cáo của bị cáo Phan Thị Kim Y đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 95/2024 /HS-ST ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo kháng cáo:

Phan Thị Kim Y, sinh ngày 29 tháng 12 năm 1968 tại Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nữ; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 2 T, Phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Như trên; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 10/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phan Văn C (đã chết) và bà Trần Thị N (đã chết); bị cáo không có chồng và 01 người con sinh năm 1990; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 14/02/2022, bị cáo Phan Thị Kim Y điều khiển xe mô tô biển số 59M1-82972 lưu thông trên đường B theo hướng từ đường Đ về đường T. Khi đến giao lộ đường B và đường H thuộc Ấp B, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh thì va chạm với xe đạp điện do bà Phạm Thị Kim H điều khiển lưu thông trên đường H 11 theo hướng từ đường Đ về đường Đ làm bà H bị thương nặng được bị cáo đưa đi tại trạm Y tế, sau đó đưa đến Bệnh viện huyện B và Bệnh viện N1 cấp cứu. Ngày 17/02/2022, bà H tử vong tại Bệnh viện.

Nhận được tin báo Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện B phối hợp Công an xã T tiến hành khám nghiệm hiện trường, lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B thụ lý theo thẩm quyền

Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số: 322/TT.22 ngày 23 tháng 3 năm 2022 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế Thành phố H kết luận nguyên nhân tử vong của bà Phạm Thị Kim H do “Chấn thương sọ não”.

Kết luận số: 1614/KL-KTHS ngày 04 tháng 4 năm 2022 của Phân Viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận giám định về dấu vết va chạm, chiều hướng va chạm của xe mô tô biển số 59M1-829.72 với xe đạp điện khi xảy ra tai nạn giao thông như sau:

  1. Dấu vết bên trái xe mô tô biển số: 59M1-829.72 (trượt xước, bám chất màu đen phía trước ốp sàn để chân trước; trượt xước mất sơn màu xanh ốp nhựa hông xe) có chiều từ trước về sau, từ trên xuống dưới phù hợp với dấu vết phía trước bên phải xe đạp điện (trượt xước má bên phải lốp bánh trước; trượt xước, cong biến dạng bám chất màu xanh mặt trước phía dưới giỏ đựng hàng gắn trước đầu xe) có chiều từ phải sang trái.
    • Dấu vết trượt xước, mài mòn các chi tiết bên phải xe đạp điện (đầu tay cầm lái, bàn đạp, để chân sau) có chiều từ trước về sau phù hợp va chạm với mặt đường.
  2. Dấu vết trượt xước, bám chất màu đen mặt dưới giỏ phía trước xe đạp điện, có chiều từ dưới lên trên phù hợp va chạm với phương tiện, vật cản khác khi xe đạp điện ngã trên mặt đường. Không đủ cơ sở xác định vị trí, chiều hướng lưu thông của phương tiện, vật cản khác
  3. Phía trước bên trái ốp sàn để chân trước xe mô tô biển số: 59M1-829.72 và bánh trước xe đạp điện là vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện. Tọa độ va chạm giữa hai phương tiện chiếu xuống mặt đường nằm trên chiều đường bên phải đường H, hướng từ đường Đ đi đường Đ.
  4. Khi xảy ra va chạm, xe đạp điện lưu thông thẳng trên đường H, hướng từ giao lộ đường Đ + H đi đường Đ; xe mô tô biển số: 59M1-829.72 lưu thông thẳng trên đường B, hướng từ đường Đ đi đường T.
  5. Không phát hiện dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển số: 59M1-829.72 với phương tiện, vật cản khác.

2

Kết luận giám định số: 1763/KL-KTHS của Phân Viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh về tốc độ, sự cố kỹ thuật xe mô tô biển số: 59M1-829.72 với xe đạp điện của như sau:

  • Không đủ cơ sở xác định tốc độ của xe mô tô biển số: 59M1-829.72 và xe đạp điện hiệu HK bike.
  • Hệ thống phanh, hệ thống ga, hệ thống lái của xe mô tô biển số: 59M1-829.72 và xe đạp điện hiệu HK bike không bị hư hỏng do sự cố kỹ thuật, hiện tại hệ thống phanh, ga, hệ thống lái của xe mô tô biển số: 59M1-829.72 và xe đạp điện hiệu HK bike hoạt động bình thường.
  • Hệ thống phanh, hệ thống ga, hệ thống lái của xe mô tô biển số: 59M1-829.72 và xe đạp điện hiệu HK bike không ảnh hưởng đến việc điều khiển tham gia giao thông của phương tiện.

Ngày 29/6/2022, Trung tâm Q tại Thành phố Hồ Chí Minh trả lời:

  • Trên đường B theo 02 hướng lưu thông có lắp đặt biển báo số W.208 “giao nhau với đường ưu tiên (đường chính)”. Trên đường Hương lộ 11 trước khi vào giao lộ với đường B, Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình giao thông đang thi công dự án nâng cấp, đầu tư hệ thống thoát nước nên chưa lắp đặt biển báo các loại.
  • Trên đường B đã lắp đặt biển báo số W.208 “giao nhau với đường ưu tiên (đường chính). Vì vậy, đường H là đường chính, đường ưu tiên (so với đường B).

Ngày 03/11/2023, Sở Giao thông vận tải Thành phố H xác nhận có cấp 01 giấy phép lái xe cho Phan Thị Kim Y.

Quá trình điều tra xác định nguyên nhân chính dẫn đến vụ tai nạn giao thông do Phan Thị Kim Y điều khiển xe mô tô biển số 59M1-829.72 lưu thông thiếu chú ý quan sát, lưu thông từ đường nhánh đến giao lộ với đường chính nhưng không nhường đường cho xe đạp điện do bà Phạm Thị Kim H điều khiển lưu thông thẳng trên đường chính dẫn đến tai nạn giao thông làm bà H tử vong, vi phạm vào khoản 23 Điều 8, Điều 9 và Điều 24 của Luật Giao thông đường bộ.

* Vật chứng vụ án gồm:

  • 01 xe mô tô biển số 59M1-829.72, qua xác minh do ông Phan Minh T con của Phan Thị Kim Y đứng tên chủ sở hữu. Ông T cho Y làm phương tiện đi lại. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã giao trả xe cho bị cáo Y.
  • 01 xe đạp điện thuộc quyền sở hữu của bà Phạm Thị Kim H nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã giao trả xe cho người đại diện hợp pháp của bà H.
  • 01 USB ghi nhận diễn biến vụ tai nạn giao thông (Vật chứng lưu giữ cùng hồ sơ vụ án).

3

  • Về dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại Phạm Thị Kim H đã nhận số tiền bồi thường 30.000.000 đồng từ Phan Thị Kim Y và đã làm đơn bãi nại cho bị cáo Y.

Tại Bản án số 95/2024/HS-ST ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

  • Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Phan Thị Kim Y 01 (một) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về phần dân sự, xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 07/5/2024 Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh nhận đơn kháng cáo của bị cáo.

Lý do kháng cáo:

  • Xem xét một phần lỗi của nạn nhân.
  • Khi tai nạn xảy ra bị cáo cùng với người dân đưa nạn nhân đi cấp cứu, chi phí chữa trị, tang sự cho nạn nhân. Đại diện người bị hại xin bãi nại miễn trách nhiệm hình sự. Bản thân là mẹ đơn thân, hoàn cảnh khó khăn. Gia đình luôn chấp hành tốt chủ trương chính sách của nhà nước, có thành tích đóng góp cho xã hội, có các cậu là liệt sỹ. Đề nghị xin được hưởng án treo hoặc miễn trách nhiệm hình sự.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo thừa nhận thực hiện hành vi như bản bản án sơ thẩm đã nêu. Bị cáo không đề nghị xem xét lỗi của nạn nhân và xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa phát biểu ý kiến: Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố sau khi tóm tắt nội dung vụ án, phân tích về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo, cũng như tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã kết luận đủ căn cứ xác định Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Phan Thị Kim Y về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét.

Xét kháng cáo của bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, khi tham gia giao thông từ đường nhánh ra đường chính bị cáo đã không giảm tốc độ, không quan sát dẫn tới va chạm với xe đạp điện của bị hại, làm bị hại tử vong; lỗi hoàn toàn do bị cáo; bị cáo phạm tội nghiêm trọng; tuy có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhưng cần thiết áp dụng mức án nghiêm khắc đối với bị cáo. Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo đã nộp tài liệu mới, tuy nhiên để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a

4

khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo T và giữ nguyên mức hình phạt bản án sơ thẩm.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi của mình, vì một chút sơ ý gây nên cái chết của nạn nhân; từ trước tới nay bị cáo chưa có vi phạm gì, bị cáo sức khỏe yếu; mong muốn Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của bị cáo nộp trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được chấp nhận để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Việc điều tra, truy tố và xét xử tại cấp sơ thẩm đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật nên hợp pháp.

[3]Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai nhận hành vi như trong quá trình điều tra, truy tố và bản án sơ thẩm đã nêu trên. Bị cáo khai nhận: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 14/02/2022, bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 59M1-82972 lưu thông trên đường B theo hướng từ đường Đ về đường T. Khi đến ngã tư giao nhau đường B và đường H 11 thì va chạm với xe đạp điện do bà Phạm Thị Kim H điều khiển lưu thông trên đường H 11 theo hướng về đường Đ làm bà H ngã xuống đường, bà H bị thương nặng. Sau tai nạn xảy ra bị cáo cùng với người dân đưa bà H đi cấp cứu các cơ sở y tế. Đến ngày 17/02/2022, bà H tử vong tại Bệnh viện N1. Lời khai nhận của bị cáo được chứng minh bằng sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, dấu vết trên xe mô tô của bị cáo điều khiển và xe đạp điện của người bị hại điều khiển. Từ lời khai của bị cáo và chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án đủ căn cứ để kết luận: Khi lưu thông trên đường không ưu tiên, qua đường giao nhau bị cáo đã không giảm tốc độ để nhường đường cho xe của bị hại lưu thông trên đường ưu tiên là không tuân thủ nguyên tắc khi tham gia giao thông vì phạm quy định tại Khoản 23 Điều 8, Điều 9 và Khoản 3 Điều 24 Luật giao thông đường bộ, hành vi của bị cáo đã gây nên cái chết của bị hại. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo Khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Xem xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo:

Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt lần đầu phạm tội, sau khi vụ tai nạn xảy ra đã đưa bị hại đi cấp cứu, chăm sóc bị hại những ngày nằm viện, lo tang sự cho bị hại. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đại diện bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo. Sau khi Tòa án sơ thẩm xét xử, bị cáo đã nộp thêm tài liệu là chứng nhận người thân là người có công với cách mạng, gồm: Cậu ruột là liệt sỹ, các anh trai được tặng huân, huy chương, tặng bằng khen. Hiện nay bị cáo đã lớn tuổi, có nơi cư trú rõ ràng đủ điều kiện cho hưởng án treo. Việc cho bị cáo được hưởng án treo không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do vậy,

5

Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao không chấp nhận ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa mà chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo là phù hợp, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo.

[4] Về án phí: Do chấp nhận kháng cáo của bị cáo nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo: Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 95/2024/HS-ST ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Phan Thị Kim Y 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Phan Thị Kim Y cho Ủy ban nhân dân Phường H1, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, bị cáo Phan Thị Kim Y cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trường hợp bị cáo Phan Thị Kim Y thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

[3] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các nội dung khác của Bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

6

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

(Chủ tọa phiên tòa đã giải thích chế định án treo).

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao; (1)
  • - TAND cấp cao tại TP.HCM; (1)
  • - VKSND TP.HCM; (3)
  • - VKSND H. Bình Chánh; (1)
  • - P.PV06 - CATP; (1)
  • - Bị cáo; (1)
  • - THA H. Bình Chánh; (1)
  • - TAND H. Bình Chánh; (2)
  • - Công an H. Bình Chánh; (1)
  • - UBND nơi BC cư trú; (1)
  • - Sở Tư pháp; (1)
  • - Lưu, Tòa Hình sự, hồ sơ (20) (2).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thương Huyền

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 229/2024/HS-PT ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 229/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Thị Kim Y và sửa bản án sơ thẩm.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger