Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỸ ĐỨC – TP. HÀ NỘI

Bản án số: 229/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 23/7/2024

V/v: Tranh chấp ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Việt Cường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Bộ

Ông Phan Mạnh Tưởng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Vinh – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Tuấn – Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 191/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2024 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1994.

Nơi đăng ký thường trú: Đội 10, thôn Đ, xã L, huyện M, thành phố Hà Nội.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1993.

Nơi đăng ký thường trú: Đội 10, thôn Đ, xã L, huyện M, thành phố Hà Nội.

(Chị L và anh S đều có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị L trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn S lấy nhau tự nguyện, có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn ngày 01/11/2013 tại UBND xã L, huyện M, thành phố Hà Nội. Vợ chồng về chung sống hạnh phúc với nhau thời gian ngắn thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn chính là do tính cách vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm, lối sống, vợ chồng không hợp nhau. Chị đã tìm mọi biện pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 01/2024 đến nay, mỗi người một cuộc sống riêng, không còn quan tâm chăm sóc đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án sớm giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn S.

- Về con chung: Chị và anh Nguyễn Văn S có 03 con chung là cháu Nguyễn Văn B, sinh ngày 05/11/2014; cháu Nguyễn Trường X, sinh ngày 13/12/2016 và cháu Nguyễn Anh T, sinh ngày 14/01/2021. Hiện nay cả ba con đang ở với anh S. Ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu B và đồng ý để anh S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu XT. Chị không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: chị xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Văn S trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị L tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 01/11/2013 tại UBND xã L. Vợ chồng tôi chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm, lối sống và nhiều nguyên nhân khác. Mặc dù anh đã khuyên bảo chị L để vợ chồng về đoàn tụ nhưng chị L không quay về. Vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2024 đến nay, mỗi người một cuộc sống riêng. Snh xác định vẫn còn yêu thương chị L nên anh không đồng ý ly hôn.

- Về con chung: Anh cũng thống nhất với chị Nguyễn Thị L vợ chồng có 03 con chung là cháu Nguyễn Văn B, sinh ngày 05/11/2014; cháu Nguyễn Trường X, sinh ngày 13/12/2016 và cháu Nguyễn Anh T, sinh ngày 14/01/2021. Từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay cả 03 con chung đều ở với anh. Trường hợp vợ chồng phải ly hôn anh xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu XT; anh không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con. Anh đồng ý giao cháu B cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng.

- Về tài sản chung và nợ chung: anh xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức (Thẩm phán, Thư ký tòa án) đã thụ lý, thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử theo đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và mặt tại phiên toà

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị L, xử cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Nguyễn Văn S.

- Về con chung đề nghị: Áp dụng Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014. Giao con chung Nguyễn Văn B, sinh ngày 05/11/2014 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giao 02 con chung Nguyễn Trường X, sinh ngày 13/12/2016 và Nguyễn Anh T, sinh ngày 14/01/2021 cho anh Nguyễn Văn S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện chị L và anh S không yêu cầu việc cấp dưỡng nuôi con.

- Tài sản chung và nợ chung: do đương sự xác nhận không có, không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Chị Nguyễn Thị L khởi kiện yêu cầu xin ly hôn anh Nguyễn Văn S nên thuộc tranh chấp về Ly hôn theo quy định khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Nguyễn Văn S đăng ký thường trú tại: Đ, thôn Đ, xã L, huyện M, Hà Nội nên thuộc thẩm quyền thụ lý và giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức theo quy định điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

[1]. Về quan hệ hôn nhân:

Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Văn S được xây dựng trên cơ sở tìm hiểm tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện M vào ngày 01/11/2013 nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn, không có hạnh phúc và đã sống ly thân từ tháng 01/2024 đến nay, mỗi người một nơi, không còn quan tâm chăm sóc đến nhau. Quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Văn S xin đoàn tụ; tuy nhiên anh S không có biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng, tại phiên toà chị L vẫn cương quyết xin ly hôn. Xét thấy, các quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng trong quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh S đã bị vi phạm nghiêm trọng, mâu thuẫn đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, hiện nay sống ly thân mỗi người một nơi. Do vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị L và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2]. Về con chung: Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Văn S có 03 con chung là cháu Nguyễn Văn B, sinh ngày 05/11/2014; cháu Nguyễn Trường X, sinh ngày 13/12/2016 và cháu Nguyễn Anh T, sinh ngày 14/01/2021, các con khoẻ mạnh. Cả 03 cháu hiện đang ở với anh S.

Xét yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung, Hội đồng xét xử thấy: Chị L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con Nguyễn Văn B, anh S có nguyện vọng được nuôi hai con là Nguyễn Trường XNguyễn Anh T. Xét, đây cũng là sự tự nguyện của vợ chồng và sự tự nguyện lựa chọn của các con. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi, tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển toàn diện của con chung và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức. Theo đó giao con Nguyễn Văn B, sinh ngày 05/11/2014 cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giao 02 con Nguyễn Trường X, sinh ngày 13/12/2016 và Nguyễn Anh T, sinh ngày 14/01/2021 cho anh S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; đồng thời ghi nhận sự tự nguyện của chị L và anh S không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

[3]. Về tài sản chung và nợ chung: các đương sự đều xác nhận không có và không đề nghị giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4]. Về án phí: nguyên đơn phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[5]. Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 235; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị L đối với anh Nguyễn Văn S.

    Xử chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Nguyễn Văn S.

  2. Về con chung: Xác nhận chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Văn S có 03 con chung là cháu Nguyễn Văn B, sinh ngày 05/11/2014; cháu Nguyễn Trường X, sinh ngày 13/12/2016 và cháu Nguyễn Anh T, sinh ngày 14/01/2021.

    Giao con chung Nguyễn Văn B, sinh ngày 05/11/2014 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác.

    Giao 02 con chung Nguyễn Trường X, sinh ngày 13/12/2016 và Nguyễn Anh T, sinh ngày 14/01/2021 cho anh Nguyễn Văn S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác.

    Ghi nhận sự tự nguyện của chị L và anh S không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với chị L và anh S đến khi có quyết định thay đổi khác.

    Sau khi ly hôn chị L và anh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung. Người trực tiếp nuôi con và các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung.

  3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có và không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007927 ngày 12/6/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
  5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn chị Nguyễn Thị L và bị đơn anh Nguyễn Văn S có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - VKSND huyện Mỹ Đức;
  • - Chi cục THADS huyện Mỹ Đức;
  • - UBND xã Lê Thanh;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Việt Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 229/2024/HNGĐ-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – TP. HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 229/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – TP. HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger