|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 229/2024/DS-PT Ngày 22 tháng 11 năm 2024 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Chuyền
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hương Giang và ông Nguyễn Việt Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Anh- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Hải- Kiểm sát viên trung cấp.
Trong ngày 22 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 161/2024/TLPT- DS ngày 14 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 47/2024/DS- ST ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 232/2024/QĐ-PT ngày 22 tháng 10 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 371/2024/QĐ-PT ngày 01/11/2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hữu K, sinh năm 1964. Địa chỉ: Số nhà A, đường G, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Có mặt.
* Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu T, sinh năm 1983. Địa chỉ: Số nhà F, ngách B, ngõ G, tổ dân phố G, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Có mặt.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1964. Địa chỉ: Số nhà A, đường G, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Có mặt.
- Chị Dương Thị L, sinh năm 1983. Địa chỉ: Số nhà F, ngách B, ngõ G, tổ dân phố G, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt)
Người kháng cáo: Bị đơn
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án thì nội dung vụ án được xác định như sau:
* Nguyên đơn- ông Nguyễn Hữu K trình bày: Gia đình ông có thửa đất số 277, tờ bản đồ số 04, diện tích 113,2m², địa chỉ tại tổ dân phố G, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang, được UBND thành phố B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 690534, số vào sổ cấp giấy: H00994/QĐ số 1288/QĐ-UBND T98/Q6 ngày 28/5/2012. Thửa đất số 277 có nguồn gốc được tách ra từ thửa đất số 129, tờ bản đồ số 04, diện tích 609,9m², mục đích sử dụng: đất ở, địa chỉ thửa đất tại: Thôn C, xã D (nay là tổ dân phố G, phường D), thành phố B. Thửa đất số 129 nguồn gốc là của ông cha để lại cho ông sử dụng từ khoảng những năm 1979. Đến năm 2005, UBND thành phố B đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông đối với thửa đất số 129 (cấp lần đầu). Đến năm 2012 và năm 2013, vợ chồng ông làm thủ tục tách thửa đất số 129 thành năm thửa đất, trong đó có thửa đất số 277, tờ bản đồ số 04 là thửa đất gia đình đang tranh chấp với anh T.
Quá trình sử dụng đất, ông thấy gia đình anh Nguyễn Hữu T đã xây dựng công trình lấn chiếm diện tích thửa đất của gia đình ông là 16m².
Ông yêu cầu anh Nguyễn Hữu T phải trả lại 16m² đất đã lấn chiếm sang phần đất của gia đình ông và tháo dỡ phần công trình trên phần diện tích đã lấn chiếm. Trường hợp không thể tháo dỡ thì phải bồi thường cho ông bằng tiền tương ứng giá trị đất lấn chiếm.
Tại phiên toà sơ thẩm: Ông K nhất trí với kết quả đo đạc của Công ty cổ phần Đ 4.0. Theo kết quả đo đạc chồng ghép bản đồ thì hiện nay gia đình ông T, chị L đang lấn chiếm gia đình ông ở 02 chỗ có diện tích cụ thể: vị trí 1 lấn diện tích 0,2m² trên phần diện tích đất trên là một phần ngôi nhà của anh T và chị L; vị trí 2 lấn chiếm diện tích 0,8m² trên phần diện tích đất trên là bức tường gạch xây 10 do vợ chồng anh T, chị L xây dựng. Ông xin thay đổi yêu cầu khởi kiện như sau: Ông yêu cầu anh T và chị L phải trả cho vợ chồng ông diện tích đất đã lấn chiếm, cụ thể: Buộc anh T, chị L phải trả cho vợ chồng ông diện tích đất 0,8m² đất và tháo dỡ bức tường mà vợ chồng anh T, chị L đã xây dựng. Đối với phần diện tích 0,2m² thuộc diện tích nhà 02 tầng kiên cố anh T, chị L đã xây dựng, do không thể tháo dỡ nên ông yêu cầu anh T, chị L phải có trách nhiệm trả cho vợ chồng ông bằng tiền tương ứng với giá trị phần lấn chiếm là 0,2m² x 7.500.000đồng/1m² = 1.500.000đồng. Đối với chi phí tố tụng trong vụ án mà ông đã nộp tạm ứng, ông yêu cầu anh Nguyễn Hữu T phải chịu chi phí này.
* Bị đơn - anh Nguyễn Hữu T trình bày:
Anh xác định xây dựng công trình trên đất và diện tích đất hiện nay gia đình anh đang sử dụng là đúng với diện tích được Nhà nước cấp. Nguồn gốc thửa đất số 152, tờ bản đồ số 04; địa chỉ thửa đất: Thôn C, xã D, thành phố B (Địa chỉ hiện nay là: Số nhà F, ngách B, ngõ G, Tổ dân phố G, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang) do bố đẻ anh là ông Nguyễn Hữu L1 tặng cho anh, được UBND thành phố B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 229001, số vào sổ cấp giấy: H00761/QĐ số 3301/QD-UBND ngày 07/11/2011 cho ông Nguyễn Hữu L1, được đính chính trang 4 “tặng cho ông Nguyễn Hữu T vào ngày 21/03/2018”. Diện tích đất ông Nguyễn Hữu L1 tặng cho anh là 232,05m², anh vẫn sử dụng ổn định từ khi được tặng cho đến nay.
Trên đất có 01 ngôi nhà diện tích khoảng 90 m² một mặt sàn và một số công trình, cây cối khác. Gia đình anh gồm các thành viên gồm: anh- Nguyễn Hữu T, vợ anh là Dương Thị L, sinh năm 1983; ba con là Nguyễn Quốc C, sinh năm 2008; Nguyễn Nguyên G, sinh năm 2010; Nguyễn Đức T1, sinh năm 2017 đều đang sinh sống trên thửa đất này. Anh không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hữu K do gia đình anh không xây lấn chiếm đất của gia đình ông K.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị H trình bày:
Bà kết hôn với ông Nguyễn Hữu K năm 1982. Năm 2005, vợ chồng bà được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu đối với thửa đất số 129, tờ bản đồ số 04, diện tích 609,9 m². Sau đó vợ chồng bà làm thủ tục tách thửa đối với thửa đất trên, ông bà được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất của thửa đất số 277, tờ bản đồ số 04, diện tích 113,2m². Năm 2019, ông bà phát hiện gia đình anh T xây dựng công trình lấn chiếm sang diện tích đất của gia đình bà. Do vậy, bà đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông K.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Dương Thị L trình bày:
Chị là vợ anh Nguyễn Hữu T, đang sinh sống cùng anh T trên thửa đất số 152, tờ bản đồ số 04; địa chỉ thửa đất: Thôn C, xã D, thành phố B. Chị hoàn toàn đồng ý với lời trình bày của anh Nguyễn Hữu T, xác định vợ chồng chị không lấn chiếm đất của gia đình ông Nguyễn Hữu K. Do vậy, chị không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hữu K.
* Toà án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá và đo đạc tài sản đối với diện tích đất tranh chấp, kết quả: Trên phần diện tích đất tranh chấp của ông Nguyễn Hữu K có 01 bức tường xây 10, gồm hai đoạn: Đoạn 1 giáp đường N, đường L cao 2,75m; đoạn 2 nối tiếp đoạn 1 có chiều cao 1,46m; phần cuối thửa đất có 01 bức tường xây gạch 10, xây năm 2019 của hộ anh Nguyễn Hữu T, cao 2,5m xây gạch chỉ. Trên thửa đất của hộ anh Nguyễn Hữu T có 01 ngôi nhà 02 tầng xây năm 2019 và một số cây cối (dừa, sung..). Hội đồng định giá thống nhất: Thửa đất số 277 và thửa đất số 152 tờ bản đồ số 4 đều thuộc vị trí 2 các đường ngõ, giá trị theo khung giá nhà nước (Quyết định số 72/QĐ-UBND ngày 21/12/2021 của UBND tỉnh B) là 1.800.000đồng/1m²; giá chuyển nhượng đất tại địa phương là 7.500.000đồng/1m²; phần tường xây gạch chỉ, xây năm 2019 giá trị còn 75% được tính: 580.000đồng/1m² x 75%.
Với nội dung trên, Bản án dân sự số 47/2024/DS- ST ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang đã quyết định:
Căn cứ Điều 164, Điều 166, Điều 175, Điều 176 của Bộ luật dân sự; Điều 166, Điều 170, Điều 203 của Luật đất đai 2013;
Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 158; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hữu K:
- Buộc vợ chồng anh Nguyễn Hữu T, chị Dương Thị L phải trả ông Nguyễn Hữu K, bà Dương Thị H1 diện tích đất 0,8m² có hình thửa (6,7,8,17) có kích thước cụ thể như sau: đoạn (6-7) dài 3,66m; đoạn (7-8) dài 0,23m; đoạn (8-17) dài 3,64m; đoạn (6-17) dài 0,21m (có sơ đồ kèm theo bản án).
- Buộc vợ chồng anh Nguyễn Hữu T, chị Dương Thị L phải tháo dỡ công trình nằm trên phần diện tích đất 0,8m² gồm: 01 bức tường xây gạch 10 có kích thước: đoạn (6-7) dài 3,66m; đoạn (7-8) dài 0,23m (có sơ đồ kèm theo);
- Giao cho anh Nguyễn Hữu T, chị Dương Thị L được quyền sử dụng đối với diện tích đất 0,2m² có hình thửa (10,11,12) có kích thước cụ thể như sau: đoạn (10,11) dài 2,22m; đoạn (11-12) dài 0,19m; đoạn (10,12) dài 2,23m thuộc thửa đất số 277, tờ bản đồ số 04 được UBND thành phố B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 690534, số vào sổ cấp giấy: H00994/QĐ số 1288/QĐ-UBND T98/Q6 ngày 28/5/2012.
- Buộc vợ chồng anh Nguyễn Hữu T, chị Dương Thị L phải trả cho ông Nguyễn Hữu K, bà Dương Thị H1 số tiền 1.500.000 đồng.
Các đương sự có quyền đến cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục điều chỉnh đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngoài ra bản án còn tuyên về nghĩa vụ chậm thi hành án, quyền thi hành án, án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo.
Ngày 09/8/2024, bị đơn anh Nguyễn Hữu T kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị sửa bản án theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Nguyễn Hữu K giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn anh Nguyễn Hữu T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì mới, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Tham gia phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi mở phiên tòa và tại phiên tòa, Thư ký, HĐXX đã thực hiện đúng, đủ quy định của Bộ Luật Tố tụng Dân sự. Sau khi xem xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Hữu T, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 47/2024/DS-ST ngày 24/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
Anh Nguyễn Hữu T phải chịu án phí DSPT.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm việc vắng mặt lần thứ hai của chị Dương Thị L là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo. HĐXX căn cứ khoản 3 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự tiếp tục tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị L.
[2]. Xét kháng cáo của anh Nguyễn Hữu T, HĐXX thấy:
Về nội dung vụ án: Ông K yêu cầu anh T và chị L phải trả cho vợ chồng ông diện tích đất đã lấn chiếm. Cụ thể: Buộc anh T, chị L phải trả cho vợ chồng ông diện tích đất 0,8 m² đất và tháo dỡ bức tường mà vợ chồng anh T, chị L đã xây dựng. Đối với phần diện tích 0,2 m² thuộc diện tích nhà 02 tầng kiên cố anh T, chị L đã xây dựng, do không thể tháo dỡ nên ông yêu cầu anh T, chị L phải có trách nhiệm trả cho vợ chồng ông bằng tiền tương ứng với giá trị phần lấn chiếm là 1.500.000đồng.
+ Theo tài liệu do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B cung cấp thể hiện: Ngày 28/5/2012, ông Nguyễn Hữu K và bà Nguyễn Thị H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 277, tờ bản đồ số 04, diện tích 113,2m², địa chỉ tại tổ dân phố G, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang, được UBND thành phố B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 690534, số vào sổ cấp giấy: H00994/QĐ số 1288/QĐ-UBND T98/Q6 ngày 28/5/2012.
+ Trong quá trình giải quyết vụ án: Anh T có giao nộp bản sao giấy chứng nhận đối với thửa đất số 152, tờ bản đồ số 04; Địa chỉ thửa đất: Thôn C, xã D, thành phố B được UBND thành phố B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG229001 số vào sổ cấp giấy: H00761/QĐ số 3301/QĐ-UBND T57/Q5 ngày 07/11/2011 cấp cho ông Nguyễn Hữu L1 được đính chính trang 4 ngày 21/3/2018 với nội dung: Tặng cho ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1983 theo hợp đồng tặng cho số 40/2018, quyển số 01/2017/CT HĐ-UBND được UBND phường D chứng thực ngày 06/3/2018.
+ Theo kết quả đo đạc và chồng ghép bản đồ xác định anh T, chị L hiện đang lấn chiếm vào diện tích đất của gia đình ông K, bà H tại 2 vị trí, cụ thể:
- Vị trí 1: có hình thửa (10,11,12) có diện tích là 0,2m², kích thước cụ thể như sau: đoạn (10,11) dài 2,22m; đoạn (11-12) dài 0,19m; đoạn (10,12) dài 2,23m. Trên phần diện tích đất này thuộc một phần ngôi nhà do vợ chồng anh T, chị L xây dựng năm 2019.
- Vị trí 2: Có hình thửa (6,7,8,17) có diện tích là 0,8m², kích thước cụ thể như sau: đoạn (6-7) dài 3,66m; đoạn (7-8) dài 0,23m; đoạn (8-17) dài 3,64m; đoạn (6-17) dài 0,21m. Trên phần diện tích đất này có 01 bức tường xây gạch 10 có chiều cao là 2,5m, do vợ chồng anh T, chị L xây dựng năm 2019.
Do đó ông Nguyễn Hữu K yêu cầu anh Nguyễn Hữu T, chị Dương Thị L phải trả cho vợ chồng ông diện tích đất đã lấn chiếm nêu trên là có căn cứ.
+ Trên phần diện tích đất lấn chiếm có hình thửa (10,11,12) có diện tích là 0,2m² anh T, chị L đã xây dụng ngôi nhà 02 tầng kiên cố, nằm trong kết cấu nhà kiên cố, không thể tháo dỡ, nên ông K yêu cầu anh Nguyễn Hữu T, chị Dương Thị L phải trả tiền tương ứng giá trị đất lấn chiếm là có căn cứ được chấp nhận. Giá trị bằng tiền mà anh T, chị L phải thanh toán cho ông K là 0,2m² x 7.500.000đồng/m² (giá theo giá chuyển nhượng tại địa phương mà Hội đồng định giá thống nhất) = 1.500.000đồng. Anh T, chị L được quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất 0,2m².
+ Trên phần diện tích đất bị lấn chiếm có hình thửa (6,7,8,17) có diện tích là 0,8m² có 01 bức tường xây gạch 10 có chiều cao là 2,5m, do anh T, chị L xây dựng năm 2019 nên cần buộc anh T, chị L phải tháo dỡ bức tường trên phần diện tích đất này.
Bản án sơ thẩm tuyên: Buộc vợ chồng anh Nguyễn Hữu T, chị Dương Thị L phải trả ông Nguyễn Hữu K, bà Dương Thị H1 diện tích đất 0,8m² có hình thửa (6,7,8,17) có kích thước cụ thể như sau: đoạn (6-7) dài 3,66m; đoạn (7-8) dài 0,23m; đoạn (8-17) dài 3,64m; đoạn (6-17) dài 0,21m (có sơ đồ kèm theo bản án); Buộc vợ chồng anh Nguyễn Hữu T, chị Dương Thị L phải tháo dỡ công trình nằm trền phần diện tích đất 0,8m² gồm: 01 bức tường xây gạch 10 có kích thước: đoạn (6-7) dài 3,66m; đoạn (7-8) dài 0,23m (có sơ đồ kèm theo); Giao cho anh Nguyễn Hữu T, chị Dương Thị L được quyền sử dụng đối với diện tích đất 0,2m² có hình thửa (10,11,12) có kích thước cụ thể như sau: đoạn (10,11) dài 2,22m; đoạn (11-12) dài 0,19m; đoạn (10,12) dài 2,23m thuộc thửa đất số 277, tờ bản đồ số 04 được UBND thành phố B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 690534, số vào sổ cấp giấy: H00994/QĐ số 1288/QĐ-UBND T98/Q6 ngày 28/5/2012; Buộc vợ chồng anh Nguyễn Hữu T, chị Dương Thị L phải trả cho ông Nguyễn Hữu K, bà Dương Thị H1 số tiền 1.500.000 đồng là có căn cứ.
Xét kháng cáo của anh T: Như phân tích trên đây, anh T kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông K là không có căn cứ và không được chấp nhận. Cần giữ nguyên bản án sơ thẩm số 47/2024/DS- ST ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[3]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên anh T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 29 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, HĐXX không đặt ra xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ Luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Hữu T, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 47/2024/DSST ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Về án phí: Căn cứ Điều 29 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH quy định về án phí, lệ phí Tòa án buộc anh Nguyễn Hữu T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0001961 ngày 09/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Chuyền |
Bản án số 229/2024/DS-PT ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 229/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
