Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 229/2024/HS-ST

Ngày 13 tháng 11 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Tú

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Môn

Ông Trịnh Văn Nhất

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thế Thiện - Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Đặng Minh Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 218/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 218/2024/QĐXXST-HS ngày 28/10/2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn T, sinh năm 1978; Tên gọi khác: Không.

Nơi cư trú: Thôn N, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Giới tính: Nam. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 7/12. Bố Nguyễn Văn T1, sinh năm 1954 (đã chết). Mẹ Đỗ Thị N, sinh năm 1956. Gia đình có 04 anh em, bị cáo là thứ nhất. Vợ Nguyễn Thị T2, sinh năm 1982. Có 04 con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2018. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 23/5/2024 đến ngày 30/5/2024 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại - Có mặt.

2. Nguyễn Văn T3, sinh năm 1986; Tên gọi khác: Không.

Nơi cư trú: Thôn N, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Giới tính: Nam. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 9/12. Bố Nguyễn Văn T4, sinh năm 1950 (đã chết). Mẹ: Đào Thị H, sinh năm 1952. Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là thứ tư. Vợ: Trương Thị H1, sinh năm 1989. Có 04 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 23/5/2024 đến ngày 30/5/2024 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại - Có mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Thị T5, sinh năm 1988 (vắng mặt)
    Địa chỉ: số nhà 507, đường Lê Lợi, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
  2. Anh Trần Thanh K, sinh năm 1989 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Thôn Văn Giàng, xã Tân Tiến, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
  3. Anh Vũ Mạnh C, sinh năm 1996 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Thôn Trước, xã Tân Tiến, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
  4. Anh Nguyễn Khánh D, sinh năm 1991(vắng mặt)
    Địa chỉ: Thôn Ngò, xã Tân Tiến, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
  5. Anh Đỗ Văn T6, sinh năm 1988 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Thôn Ngò, xã Tân Tiến, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
  6. Anh Đỗ Văn T7, sinh năm 1995 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Thôn Ngò, xã Tân Tiến, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
  7. Anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1992 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Thôn Ngò, xã Tân Tiến, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
  8. Anh Phạm Đình T8, sinh năm 1981 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Số nhà 02 ngách 23, ngõ 36 đường Châu Xuyên, phường Lê Lợi, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
  9. Anh Dương Văn H3, sinh năm 1978 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Thôn V, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
  10. Hoàng Văn Đ, sinh năm 1992 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Số 28, đường Ngô Trang, phường Thọ Xương, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
  11. Hoàng Tiến M, sinh năm 1990 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Số 203, đường Lê Lợi, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
  12. Đỗ Quang T9, sinh năm 1986 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Thôn A, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

  • - Hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của Nguyễn Văn T và Nguyễn Văn T3 đối với chị Nguyễn Thị T5.

Nguyễn Văn T, sinh năm 1978 và Nguyễn Văn T3, sinh năm 1986 cùng trú tại thôn N, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang làm dịch vụ cầm cố tài sản và cho vay tiền bằng hình thức vay trả lãi; mức lãi suất cho vay từ 2.800 đồng đến 5.000 đồng/1triệu/1ngày, tương ứng với 5,1 lần đến 9,1 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự. Do không có giấy phép kinh doanh nên T và T3 yêu cầu người vay viết giấy bán tài sản mục đích để ràng buộc nghĩa vụ trả nợ nhưng bản chất là nhận cầm cố. Hàng tháng, người vay phải chuyển trả tiền lãi theo thoả thuận; trường hợp T3 giới thiệu người vay thì T sẽ ứng tiền cho vay còn T3 có trách nhiệm đôn đốc, yêu cầu người vay thanh toán tiền lãi đúng hạn. T3 trực tiếp thu tiền lãi rồi thông báo cho T biết và thoả thuận chia nhau lợi nhuận.

Kết quả điều tra xác định Nguyễn Văn T và Nguyễn Văn T3 đồng phạm về hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự đối với chị Nguyễn Thị T5, sinh năm 1988, trú tại số nhà E, đường L, phường H, thành phố B, cụ thể như sau:

Anh Hoàng Văn Đ, sinh năm 1992 trú tại số B, đường N, phường T, thành phố B và anh Hoàng Tiến M, sinh năm 1990, trú tại số B, đường L, phường H, thành phố B cùng góp vốn kinh doanh dịch vụ cho thuê xe ô tô tự lái và sở hữu chiếc xe ô tô nhãn hiệu Honda Civic màu trắng biển số 98A-419.67.

Ngày 14/8/2023, Nguyễn Thị T5 do cần tiền giải quyết công việc cá nhân nên cùng anh Đặng Hữu T10, sinh năm 1983, trú tại tổ dân phố H, phường H, thành phố B đến cầm cố cho anh M chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mercedes GLC 300 biển kiểm soát 98A-529.19 (đăng ký xe mang tên anh T10) vay 500.000.000 đồng nhưng được viết dưới dạng giấy biên nhận đặt cọc bán xe, thoả thuận tiền lãi theo lãi suất ngân hàng, hàng tháng chị Thanh thanh T11 tiền gốc và lãi cho anh M. Anh Thông đồng Ý cho chị T5 cầm cố xe ô tô để vay tiền và ký vào giấy biên nhận này. Do vẫn chưa đủ tiền để giải quyết công việc nên chị T5 hỏi anh Đ để vay thêm tiền. Anh Đ bảo chị T5 tự thoả thuận, hợp đồng thuê xe ô tô với anh M nên chị T5 hiểu anh M có thể đồng ý cho thuê xe sau đó mang xe đi cầm cố ở nơi khác để vay tiền nhưng vẫn phải thanh toán tiền thuê xe theo hợp đồng.

Chị T5 quen biết Đỗ Quang T9, sinh năm 1986, trú tại thôn A, xã T, thành phố B nên nhờ giới thiệu địa điểm cầm cố xe ô tô để vay tiền thì anh T9 đồng ý giúp. Buổi tối cùng ngày, chị T5 gọi điện cho anh M đặt vấn đề thuê 01 chiếc xe ô tô. Anh M yêu cầu chị T5 chuyển 10.000.000 đồng để đặt cọc sau đó sẽ cho thuê xe ô tô nhãn hiệu Honda Civic biển số 98A-419.67. Ngày hôm sau, chị T5 đến nhà anh M ký hợp đồng thuê chiếc xe ô tô nhãn hiệu Honda Civic BKS 98A-419.67 và chuyển khoản thêm 40.000.000 đồng. Tổng số tiền mà chị T5 đã chuyển cho anh M là 50.000.000 đồng gồm 20.000.000 đồng đặt cọc thuê xe và 30.000.000 đồng trả trước tiền thuê xe trong thời hạn 15 ngày (thoả thuận là 2.000.000 đồng/ngày). Anh M lập hợp đồng thuê xe và giao cho chị T5 chiếc xe ô tô BKS 98A-419.67 kèm theo đăng kiểm xe và đăng ký xe mang tên Nguyễn Thế S do Phòng CSGT Công an tỉnh B cấp ngày 05/8/2021 (bản gốc).

Sau khi thuê được xe ô tô, chị T5 nhờ anh T9 giới thiệu người nhận cầm cố. Anh Tú liên hệ với Nguyễn Văn T3 giới thiệu việc chị T5 muốn cầm cố chiếc xe ô tô Honda Civic BKS 98A-419.67 và gửi các hình ảnh giấy đăng ký, đăng kiểm xe ô tô (do chị T5 đã gửi cho anh T9 trước đó) thì T3 đồng ý nhận cầm cố. Sau đó, T3 liên hệ với Nguyễn Văn T trao đổi, thoả thuận cùng nhận cầm cố chiếc xe ô tô BKS 98A-419.67 và gửi các hình ảnh giấy tờ xe cho T thì T đồng ý cho vay tiền. T3 điện thoại thông báo cho anh T9 biết và hẹn chị T5 gặp nhau để giao dịch vay tiền.

Buổi chiều ngày 15/8/2023, chị T5 đi xe ô tô biển số 98A - 419.67 đến quán C1 ở thành phố B để gặp và thoả thuận cầm cố xe. T3 nhờ anh T9 đi ra ngoài mua giấy, bút để viết hợp đồng. T và T3 cùng kiểm tra xe ô tô, đồng ý cho chị T5 vay 300.000.000 đồng với mức lãi suất 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương ứng 27.000.000 đồng/tháng) gấp 5,5 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự. Sau khi anh T9 trở về quán, T bảo chị T5 viết giấy bán xe ô tô và giấy vay tiền có nội dung chị T5 bán cho T chiếc xe ô tô BKS 98A-419.67 với giá 300.000.000 đồng. Sau khi chị T5 viết xong, T chỉ chuyển khoản cho chị T5 số tiền 273.000.000 đồng (trừ tiền lãi trước 01 tháng là 27.000.000 đồng). Sau đó, T đi xe ô tô về để tại nhà.

Hàng tháng, Nguyễn Văn T3 đôn đốc, trực tiếp liên hệ với chị T5 và anh T9 yêu cầu nộp tiền lãi và nhắn tin thông báo số tài khoản ngân hàng MB 03000100262986 của T3 để chị T5 biết và chuyển tiền lãi. T3 và T thoả thuận Tình được hưởng 1.000 đồng/1 triệu/1 ngày còn T hưởng 2.000 đồng/1 triệu/1ngày đối với số tiền lãi thu được của chị T5.

Ngoài khoản tiền lãi 27.000.000 đồng mà T đã trừ tiền lãi trước khi cho vay tiền thì tính đến ngày 14/11/2023, chị T5 còn 04 lần chuyển khoản từ tài khoản ngân hàng M2 của chị T5 đến tài khoản ngân hàng MB số 0300100262986 của T3 để trả tiền lãi của khoản vay này trong 2 tháng tiếp theo là 54.000.000 đồng (mỗi tháng 27.000.000 đồng), cụ thể:

  • + Ngày 19/9/2023, chị T5 chuyển khoản cho T3 14.000.000 đồng. T3 chuyển khoản trả T 9.000.000 đồng, T3 hưởng 5.000.000 đồng
  • + Ngày 02/10/2023, chị T5 chuyển khoản cho T3 13.000.000 đồng. T3 chuyển khoản trả T 9.000.000 đồng, T3 hưởng 4.000.000 đồng
  • + Ngày 16/10/2023, chị T5 chuyển khoản cho T3 14.000.000 đồng. T3 chuyển khoản trả T 8.000.000 đồng, T3 hưởng 6.000.000 đồng
  • + Ngày 08/11/2023, chị T5 chuyển khoản cho T3 13.000.000 đồng. T3 chuyển khoản trả T 10.000.000 đồng, T3 hưởng 3.000.000 đồng

Tổng số tiền lãi mà chị T5 đã trả cho T và T3 để vay 300.000.000 đồng (tính từ ngày 15/8/2023 đến ngày 14/11/2023) là 81.000.000 đồng. T được hưởng 63.000.000 đồng. Tình được hưởng 18.000.000 đồng.

Như vậy, số tiền lãi hợp pháp theo quy định của pháp luật là 14.794.521 đồng. Số tiền T và T3 thu lợi bất chính là 66.205.479 đồng (T thu lợi 51.493.151 đồng; T3 thu lợi 14.712.329 đồng). Đến nay, chị T5 chưa trả cho T số tiền gốc 300.000.000 đồng.

Sau khi hết thời hạn thuê xe, chị T5 và anh M thoả thuận gia hạn thuê xe. Tính đến ngày 20/01/2024, chị T5 đã trả cho anh M tổng số tiền đặt cọc và thuê xe là 230.000.000 đồng. Sau đó, chị T5 không có tiền trả nữa. Anh M kiểm tra định vị thấy chiếc xe ô tô đang ở nhà T nên đến gặp nhưng T không đồng ý bàn giao xe ô tô. Ngày 22/5/2024, anh M làm đơn gửi Phòng C2 Công an tỉnh B tố giác chị T5 có hành vi chiếm đoạt chiếc xe ô tô BKS 98A - 419.67.

Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B triệu tập Nguyễn Văn T và Nguyễn Văn T3 đến làm việc thì T và T3 đầu thú và khai nhận hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự như nêu trên.

Khi đầu thú, T giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno6 Z lắp sim số 0978.695.490; kiểm tra điện thoại thấy còn lưu các tin nhắn giữa T và T3 liên quan cho vay và thu tiền lãi; hình ảnh giấy tờ xe ô tô BKS 98A-419.67 mà T3 gửi cho T.

Cơ quan điều tra tạm giữ của Nguyễn Văn T: 01 xe ô tô Honda Civic BKS 98A-419.67; 01 giấy mua bán xe đề ngày 15/8/2023; 02 bản phô tô căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị T5; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô mang tên Nguyễn Thế S do Phòng C3 Công an tỉnh B cấp.

Tạm giữ của Nguyễn Văn T3 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA SONET biển số 98A - 750.46 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi 11T lắp sim số 0911.002.986.

Tạm giữ của Nguyễn Thị T5 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu vàng Gold không lắp sim; 07 bản sao chuyển khoản tiền qua ngân hàng giữa chị T5 và anh Đ.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn T đã thu giữ: 19 giấy biên nhận vay tiền; 03 hợp đồng thuê xe ô tô và 01 giấy bán xe ô tô; 01 Giấy cam kết, thoả thuận và 01 giấy biên nhận tiền; số tiền 10.000.000 đồng. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thị T5 thu giữ 01 két sắt nhãn hiệu Việt Tiệp ký hiệu KA25.

Cơ quan điều tra đã sao kê các tài khoản ngân hàng của Nguyễn Thị T5, Nguyễn Văn T3 và Nguyễn Văn T xác định có việc T chuyển cho chị T5 số tiền 273.000.000 đồng; chị T5 chuyển trả tiền lãi cho T3 sau đó T3 chuyển tiếp tiền lãi cho T.

Kiểm tra điện thoại Iphone 15 Promax của chị T5 và điện thoại di động Xiaomi 11T của T3 thấy còn lưu tin nhắn có nội dung liên quan đến trao đổi cầm cố xe và trả tiền lãi.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại Nguyễn Thị Thanh chiếc két sắt nhãn hiệu Việt T12; trả lại chiếc xe ô tô BKS 98A-419.67 kèm theo đăng kiểm, đăng ký xe ô tô cho anh Hoàng Tiến M; trả lại chiếc xe ô tô BKS 98A-750.46 cho Nguyễn Văn T3.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, Nguyễn Văn T3 đã tự nguyện nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang 44.600.000 đồng là số tiền thu lợi bất chính và để đảm bảo thi hành án. Chị T5 không yêu cầu các bị can trả lại tiền thu lợi bất chính.

  • - Hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của Nguyễn Văn T đối với 08 người khác:

Quá trình điều tra làm rõ, Nguyễn Văn T có hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự đối với 08 người trên địa bàn xã T, thành phố B với mức lãi suất từ 2.800 đồng/1 triệu/1 ngày đến 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày tương ứng từ 5,1 lần đến 9,1 lần mức lãi suất cao nhất quy định của Bộ luật dân sự. Căn cứ các giấy biên nhận vay tiền đã thu giữ tại nhà T khi khám xét; kết quả sao kê tài khoản số 4300226688 mở tại ngân hàng TMCP Đ1 chi nhánh B của Nguyễn Văn T và kết quả điều tra xác định T cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự như sau:

  1. Anh Trần Thanh K, sinh năm 1989, trú tại thôn V, xã T, thành phố B:
    Ngày 08/11/2023, anh K vay của T số tiền 20.000.000 đồng với lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày tương ứng 3.000.000 đồng/tháng, gấp 9,1 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự. Tân cắt lãi trước 1 tháng số tiền là 3.000.000 đồng. Sau đó, anh K đã đóng thêm cho T 1 tháng tiền lãi là 3.000.000 đồng và nợ 4 tháng tiền lãi. T tính tiền lãi 4 tháng là 12.000.000 đồng, cộng với số tiền anh K vay thêm 1.000.000 đồng và khoản tiền gốc vay 20.000.000 đồng trước đó và yêu cầu anh K ký vào tờ giấy biên nhận vay tiền mới có nội dung anh K vay của T 33.000.000 đồng. Tổng số tiền lãi T phải chịu trách nhiệm hình sự là 18.000.000 đồng. Số tiền lãi hợp pháp là 1.972.603 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là 16.027.397 đồng trong đó thực tế đã thu là 4.027.397 đồng. Anh K chưa trả tiền gốc.
    Khám xét tại nhà T thu giữ 01 giấy biên nhận vay tiền do Trần Thanh K viết. Anh K giao nộp 03 giấy sao chụp tài khoản T chuyển tiền vay 17.000.000 đồng, tin nhắn T cung cấp số tài khoản; anh K chuyển khoản trả 3.000.000 đồng tiền lãi.
  2. Anh Vũ Mạnh C, sinh năm 1996, trú tại thôn T, xã T, thành phố B:
    Ngày 29/02/2024, anh C vay của T số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày tương ứng 1.500.000 đồng/tháng. Tân cắt lãi trước 1 tháng số tiền 1.500.000 đồng. Anh C đã đóng cho T 2 tháng tiền lãi với tổng số tiền là 3.000.000 đồng. Tổng số tiền lãi T đã thu là 4.500.000 đồng. Tiền lãi hợp pháp theo quy định của pháp luật là 493.151 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là 4.006.849 đồng. Anh C chưa trả tiền gốc.
    Khám xét tại nhà T thu giữ 01 giấy biên nhận vay tiền do Vũ Mạnh C viết ngày 29/02/2024.
  3. Anh Nguyễn Khánh D, sinh năm 1991, trú tại thôn N, xã T, thành phố B:
    Ngày 09/3/2024, anh D vay T số tiền 30.000.000 đồng, lãi suất 2.800 đồng/1 triệu/1 ngày tương ứng 2.500.000 đồng/tháng gấp 5,1 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự; Tân cắt lãi trước 1 tháng số tiền 2.500.000 đồng. T yêu cầu anh D viết giấy biên nhận vay tiền kèm theo giấy bán xe mô tô BKS 98B3-979.68. Sau đó, anh D đã đóng thêm cho T 1 tháng tiền lãi với số tiền là 2.500.000 đồng. Tổng số tiền lãi T đã thu là 5.000.000 đồng. Tiền lãi hợp pháp theo quy định của pháp luật là 986.301 đồng. Số tiền T thu lợi bất chính là 4.013.699 đồng. Anh D1 chưa trả tiền gốc.
    Khám xét tại nhà T thu giữ 01 giấy biên nhận vay tiền do Nguyễn Khánh D viết ngày 09/3/2024. Anh D giao nộp 01 hình ảnh chuyển khoản trả tiền lãi 2.500.000 đồng cho T.
  4. Anh Đỗ Văn T6, sinh năm 1988, trú tại thôn N, xã T, thành phố B:
    Ngày 06/3/2024, anh T6 vay của T số tiền 20.000.000 đồng, lãi suất 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày tương ứng 1.800.000 đồng/tháng gấp 5,5 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự; Tân cắt lãi trước 1 tháng là 1.800.000 đồng. Tiền lãi hợp pháp theo quy định của pháp luật là 328.767 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là 1.471.233 đồng. Anh T6 đã trả tiền gốc.
    - Ngày 18/3/2024, anh T6 vay của T số tiền 20.000.000 đồng, lãi suất 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày; Tân cắt lãi trước 1 tháng số tiền 1.800.000 đồng. Tiền lãi hợp pháp theo quy định của pháp luật là 328.767 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là 1.471.233 đồng. Anh T6 đã trả tiền gốc.
    Khám xét tại nhà T thu giữ 02 giấy biên nhận vay tiền do Đỗ Văn T6 viết Anh T6 giao nộp 01 hình ảnh chuyển khoản trả 20.000.000 đồng tiền gốc cho T ngày 19/4/2024.
  5. Anh Đỗ Văn T7, sinh năm 1995, trú tại thôn N, xã T, thành phố B:
    Ngày 13/11/2023, anh T7 vay T số tiền 20.000.000 đồng, lãi suất 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày tương ứng 1.800.000 đồng/tháng. Tân cắt lãi trước 1 tháng số tiền 1.800.000 đồng. Sau đó, anh T7 đã đóng lãi thêm 6 tháng với số tiền là 10.800.000 đồng (do anh T7 thiếu tiền nên mới đóng 10.300.000 đồng, còn nợ 500.000 đồng). Tổng số tiền lãi T phải chịu trách nhiệm hình sự là 12.600.000 đồng. Tiền lãi hợp pháp theo quy định của pháp luật là 2.301.370 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là 10.298.630 đồng (thực tế đã thu là 9.789.630 đồng). Anh T7 chưa trả tiền gốc.
    Khám xét tại nhà T thu giữ 01 giấy biên nhận vay tiền do Đỗ Văn T7 viết ngày 13/11/2023. Anh T7 giao nộp 02 hình ảnh Tân chuyển khoản 17.200.000 đồng ngày 13/11/2024.
  6. Anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1992, trú tại thôn N, xã T, thành phố B:
    Ngày 28/10/2023, anh H2 vay T số tiền 30.000.000 đồng với lãi suất 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày tương ứng 2.700.000 đồng/tháng. Tân cắt lãi trước 1 tháng số tiền 2.700.000 đồng. Sau đó, anh H2 đã đóng lãi thêm cho T 2 tháng với số tiền là 5.400.000 đồng. Tổng số tiền lãi đã thu là 8.100.000 đồng. Tiền lãi hợp pháp theo quy định của pháp luật là 1.479.452 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là 6.620.548 đồng. Anh H2 chưa trả tiền gốc.
    Khám xét tại nhà T thu giữ 01 giấy biên nhận vay tiền do anh Nguyễn Văn H2 viết ngày 28/10/2023.
  7. Anh Phạm Đình T8, sinh năm 1981, trú tại số nhà B ngách B, ngõ C đường C, phường L, thành phố B.
    - Ngày 02/10/2023, anh T8 vay T 30.000.000 đồng với lãi suất 3.333 đồng/1 triệu/1 ngày, tương ứng 3.000.000 đồng/tháng. Tân cắt lãi trước 1 tháng số tiền là 3.000.000 đồng. Tiền lãi hợp pháp theo quy định của pháp luật là 493.151 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là 2.506.849 đồng. Anh T8 đã trả tiền gốc.
    - Ngày 16/12/2023, anh T8 vay T số tiền 15.000.000 đồng với lãi suất 4.444 đồng/1triệu/1 ngày tương ứng 2.000.000 đồng/tháng. Tân cắt lãi trước 1 tháng số tiền 2.000.000 đồng. Tiền lãi hợp pháp theo quy định của pháp luật là 246.575 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là 1.753.425 đồng. Anh T8 chưa trả tiền gốc.
    Khám xét tại nhà T thu giữ 02 giấy biên nhận vay tiền do Phạm Đình T8 viết ngày 02/10/2023 và 16/12/2023.
  8. Anh Dương Văn H3, sinh năm 1978, trú tại thôn V, xã T, thành phố B:
    Ngày 23/01/2024, anh H3 viết giấy vay T số tiền 100.000.000 đồng, lãi suất 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày tương ứng 9.000.000 đồng/tháng.Tân cắt lãi trước 1 tháng với số tiền 9.000.000 đồng. Tiền lãi hợp pháp theo quy định của pháp luật là 1.643.836 đồng. Số tiền T thu lợi bất chính là 7.356.164 đồng. Anh H3 đã trả tiền gốc.
    Khám xét tại nhà T thu giữ 01 giấy biên nhận vay tiền do Nguyễn Văn H4 viết ngày 23/01/2024.

Như vậy, Nguyễn Văn T cho Trần Thanh K, Vũ Mạnh C, Nguyễn Khánh D, Đỗ Văn T6, Đỗ Văn T7, Nguyễn Văn H2, Phạm Đình T8, Dương Văn H3 vay tổng số tiền là 295.000.000 đồng, mức lãi suất gấp từ 5,1 lần đến 9,1 lần mức lãi suất quy định trong Bộ luật dân sự. T phải chịu trách nhiệm hình sự tổng số tiền thu lợi bất chính là 55.526.027 đồng. Số tiền thực tế T đã thu lợi bất chính là 43.026.027 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Trần Thanh K, Vũ Mạnh C, Nguyễn Khánh D, Đỗ Văn T6, Đỗ Văn T7, Nguyễn Văn H2, Phạm Đình T8, Dương Văn H3 không yêu cầu trả lại số tiền thu lợi bất chính.

Về xử lý những đối tượng liên quan trong vụ án:

Đối với Nguyễn Thị Thanh T13 của anh Hoàng Tiến M chiếc xe ô tô BKS 98A - 419.67, kết luận định giá xác định trị giá 510.000.000 đồng. Kết quả điều tra xác định anh M biết chị T5 thuê xe ô tô để mang đi cầm cố vay tiền và giám sát bằng các thiết bị định vị; chị T5 đã trả cho anh M 230.000.000 đồng tiền đặt cọc và thuê xe và vẫn thực hiện nghĩa vụ như đã thoả thuận trong hợp đồng, không có ý thức chiếm đoạt tài sản. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B và Cơ quan CSĐT Công an thành phố B kết luận chị T5 không có hành vi chiếm đoạt tài sản là có cơ sở.

Đối với anh Đỗ Quang T9 giới thiệu chị Nguyễn Thị T5 với Nguyễn Văn T3 để cầm cố xe ô tô và vay tiền nhưng không biết trước cụ thể mức lãi suất và không được hưởng lợi nên không đồng phạm với T và T3 về hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.

Đối với anh Hoàng Văn Đ và Hoàng Tiến M nhận cầm cố xe ô tô BKS 98A-529.19 và cho chị T5 vay 500.000.000 đồng với mức lãi suất theo lãi suất ngân hàng nên không phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.

Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng những tài sản, vật chứng còn lại để xử lý theo quy định.

Bản Cáo trạng số 220/CT-VKS ngày 17/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo Nguyễn Văn T3 về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự. Truy tố Nguyễn Văn T về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Chủ tọa phiên tòa công bố lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa. Các bị cáo không có ý kiến gì về lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 201; điểm b, i, s khoản 1và khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự.
    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T3 từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” để sung ngân sách Nhà nước.
    Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo T3.
    (Bị cáo Nguyễn Văn T3 đã nộp 30.000.000 đồng theo Biên lai số 0001175 ngày 29/7/2024 và 14.600.000 đồng theo Biên lai thu số 0000972 ngày 07/09/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang được đối trừ vào số tiền phải thi hành án).
  2. Căn cứ khoản 2 và khoản 3 Điều 201; điểm b, i, s khoản 1và khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng. Tính từ ngày tuyên án sơ thẩm giao bị cáo cho UBND xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
    Phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo T 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước. (Bị cáo Nguyễn Văn T đã nộp 50.000.000 đồng theo biên lai số 0001344 ngày 12/11/2024, tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang được đối trừ vào số tiền phải thi hành án).
  3. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • - Truy thu của bị cáo T tổng số tiền 195.068.493 đồng (trong đó: Số tiền gốc cho vay là 170.000.000 đồng và tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm là 25.068.493 đồng) để sung ngân sách Nhà nước.
    • - Truy thu số tiền của Nguyễn Thị T5 300.000.000 đồng; Trần Thanh K 20.000.000 đồng; Vũ Mạnh C 10.000.000 đồng; Nguyễn Khánh D 30.000.000 đồng; Đỗ Văn T7 20.000.000 đồng; Nguyễn Văn H2 30.000.000 đồng; Phạm Đình T8 15.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.
    • - Trả lại bị cáo T số tiền 10.000.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
    • - Trả lại Nguyễn Thị T5 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu vàng Gold, Số IMEI1: 359237635021657; Số IMEI2: 359237635168086; Máy cũ đã qua sử dụng; Không lắp sim số thuê bao nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
    • - Tịch thu 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno6 Z; Số IMEI1: 868311056343892; Số IMEI2: 868311056343883; Lắp sim số thuê bao 0978.695.490, máy cũ đã qua sử dụng của Nguyễn Văn T và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi 11T, Lắp sim số thuê bao 0911002986, máy cũ đã qua sử dụng của Nguyễn Văn T3 để sung ngân sách Nhà nước.
  4. Về án phí: Các bị cáo mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Phần tranh luận: Các bị cáo không ai có ý kiến tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát, các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cũng như Điều tra viên và Kiểm sát viên thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.

[2]. Về sự vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho những người tham gia tố tụng, tại phiên tòa những người này vắng mặt, Kiểm sát viên, các bị cáo đều đề nghị HĐXX tiếp tục xét xử vụ án, xét thấy đã có lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong hồ sơ vụ án và sự vắng mặt của những người này không làm ảnh hưởng đến quá trình xét xử, HĐXX căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

[3]. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được đưa ra xem xét tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Từ tháng 8/2023 đến tháng 3/2024, Nguyễn Văn T có hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự đối với 09 người gồm: Nguyễn Thị T5, Trần Thanh K, Vũ Mạnh C, Nguyễn Khánh D, Đỗ Văn T6, Đỗ Văn T7, Nguyễn Văn H2, Phạm Đình T8, Dương Văn H3 với tổng số tiền cho vay là 595.000.000 đồng, mức lãi suất từ 2.800 đồng/1 triệu đồng/1 ngày đến 5.000 đồng/1 triệu đồng/1 ngày tương ứng gấp 5,1 lần đến 9,1 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự; tổng số tiền lãi đã thu được là 146.800.000 đồng trong đó tiền lãi hợp pháp theo quy định của pháp luật là 25.068.493 đồng; số tiền thu lợi bất chính là 121.731.507 đồng.

Đối với Nguyễn Văn T3 giới thiệu để Nguyễn Văn T cho chị Nguyễn Thị T5 vay 300.000.000 đồng với mức lãi suất 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày (27.000.000 đồng/tháng) gấp 5,5 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự. T3 đôn đốc, trực tiếp thu tiền lãi của chị T5 và chia tiền lãi với T theo thoả thuận. Tổng số tiền lãi mà chị T5 đã trả cho T và T3 từ ngày 15/8/2023 đến ngày 14/11/2023 là 81.000.000 đồng. Trong đó, tiền lãi hợp pháp theo quy định của pháp luật là 14.794.521 đồng; số tiền thu lợi bất chính là 66.205.479 đồng (T thu lợi 51.493.151 đồng; T3 thu lợi 14.712.329 đồng). T3 phải chịu trách nhiệm đồng phạm với T về hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự đối với chị T5 với số tiền thu lợi bất chính là 66.205.479 đồng. T3 đã nộp số tiền 44.600.000 đồng để khắc phục hậu quả.

Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức, năng lực điều khiển hành vi. Như vậy có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Văn T3 phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố các bị cáo về tội danh và điều khoản là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Đánh giá về nhân thân và hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy: Các bị cáo đều là người có nhân thân tốt, bản thân chưa có tiền án, tiền sự nhất thời phạm tội, trước khi phạm tội các bị cáo không có sự bàn bạc phân công nhiệm vụ của từng người, xác định đây là đồng phạm giản đơn. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, xâm phạm đến tài sản của người khác mà cụ thể là trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ. với mức lãi suất gấp 5,1 lần đến 9,1 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự nhằm thu lợi bất chính, gây mất trật tự an ninh tại địa phương. Vì vậy cần có một mức án là hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra, để có tác dụng giáo giục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội, vừa có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.

[5]. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6]. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra vụ án cũng như tại phiên tòa có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn, hối cải, tự nguyện khắc phục hậu quả, đầu thú trước cơ quan điều tra đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[7]. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo xét thấy: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng có khả năng tự cải tạo, nếu không bắt các bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, nhằm đề cao chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội và tạo điều kiện cho các bị cáo tự sửa chữa, cải tạo thành công dân có ích cho xã hội. Do vậy không cần thiết phải bắt các bị cáo đi chấp hành hình phạt tù, cho bị cáo T được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự, đối với bị cáo T3 chưa cần thiết phải áp dụng hình phạt tù mà áp dụng hình phạt chính là phạt tiền cũng đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa chung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị mức hình phạt đối với các bị cáo là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

[7]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định của Bộ luật hình sự đối với loại tội phạm này ngoài hình phạt chính thì có hình phạt bổ sung là phạt tiền, do vậy cần phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo T để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

[8]. Đối với tổng số tiền gốc trong tổng số các lần mà bị cáo T đã cho những người vay lãi nặng là 595.000.000 đồng và tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm là 25.068.493 đồng, được xác định đây là số tiền dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội và là tiền phát sinh từ tội phạm. Đến nay bị cáo đã thu được 170.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm là 25.068.493 đồng, nên cần truy thu số tiền này đối với bị cáo T để sung ngân sách Nhà nước.

[9]. Đối với những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vay tiền của Nguyễn Văn T gồm: Nguyễn Thị T5 300.000.000 đồng; Trần Thanh K 20.000.000 đồng; Vũ Mạnh C 10.000.000 đồng; Nguyễn Khánh D 30.000.000 đồng; Đỗ Văn T7 20.000.000 đồng; Nguyễn Văn H2 30.000.000 đồng; Phạm Đình T8 15.000.000 đồng đến nay chưa trả lại bị cáo T, do vậy cần truy thu lại số tiền này của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan để sung ngân sách Nhà nước.

[10]. Đối với số tiền thu lợi bất chính 121.731.506 đồng, đây là số tiền lãi các bị cáo đã thu của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vay vượt mức lãi suất cao nhất cho phép 20%/ năm. Theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự thì phần lãi suất vượt quá 20%/năm là giao dịch dân sự không có hiệu lực pháp luật, theo quy định của pháp luật những người vay được nhận lại số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất vượt quá 20%/năm. Tại Cơ quan điều tra những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vay đều không yêu cầu các bị cáo trả lại số tiền đã lãi thu lợi bất chính, do vậy không đặt ra xem xét giải quyết trong vụ án này.

[11]. Đối với Nguyễn Thị Thanh T13 của anh Hoàng Tiến M chiếc xe ô tô BKS 98A - 419.67, kết luận định giá xác định trị giá 510.000.000 đồng. Kết quả điều tra xác định anh M biết chị T5 thuê xe ô tô để mang đi cầm cố vay tiền và giám sát bằng các thiết bị định vị; chị T5 đã trả cho M 230.000.000 đồng tiền đặt cọc và thuê xe và vẫn thực hiện nghĩa vụ như đã thoả thuận trong hợp đồng, không có ý thức chiếm đoạt tài sản. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B và Cơ quan CSĐT Công an thành phố B kết luận chị T5 không có hành vi chiếm đoạt tài sản là có căn cứ.

[12]. Đối với anh Đỗ Quang T9 giới thiệu chị Nguyễn Thị T5 với Nguyễn Văn T3 để cầm cố xe ô tô và vay tiền nhưng T9 không biết trước cụ thể mức lãi suất và không được hưởng lợi nên không đồng phạm với T và T3 về hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.

[13]. Đối với anh Hoàng Văn Đ và Hoàng Tiến M nhận cầm cố xe ô tô BKS 98A-529.19 và cho chị T5 vay 500.000.000 đồng với mức lãi suất theo lãi suất ngân hàng nên không phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.

[14]. Về xử lý vật chứng:

  • - Truy thu của bị cáo T tổng số tiền 195.068.493 đồng (trong đó: Số tiền gốc cho vay là 170.000.000 đồng và tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm là 25.068.493 đồng) đây là số tiền bị cáo dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội và là tiền phát sinh từ tội phạm để sung vào ngân sách Nhà nước.
  • - Truy thu số tiền của Nguyễn Thị T5 300.000.000 đồng; Trần Thanh K 20.000.000 đồng; Vũ Mạnh C 10.000.000 đồng; Nguyễn Khánh D 30.000.000 đồng; Đỗ Văn T7 20.000.000 đồng; Nguyễn Văn H2 30.000.000 đồng; Phạm Đình T8 15.000.000 đồng, đây là số tiền gốc bị cáo T cho vay đến nay người vay chưa trả, xác định đây là số tiền bị cáo T sử dụng vào việc phạm tội cần truy thu lại của người vay để sung ngân sách Nhà nước.
  • - Trả lại bị cáo T số tiền 10.000.000 đồng, đây là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • - Trả lại Nguyễn Thị T5 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu vàng Gold, Số IMEI1: 359237635021657; Số IMEI2: 359237635168086; Máy cũ đã qua sử dụng; Không lắp sim số thuê bao nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • - Tịch thu 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno6 Z; Số IMEI1: 868311056343892; Số IMEI2: 868311056343883; Lắp sim số thuê bao 0978.695.490, máy cũ đã qua sử dụng của Nguyễn Văn T và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi 11T, Lắp sim số thuê bao 0911002986, máy cũ đã qua sử dụng của Nguyễn Văn T3 sử dụng vào việc phạm tội để sung ngân sách Nhà nước.

- Đối với số tiền các bị cáo tự nguyện nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang được đối trừ vào số tiền các bị cáo phải thi hành án.

[15]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[16]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 201; điểm b, i, s khoản 1và khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự.
    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T3 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng) về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” để sung ngân sách Nhà nước.
    Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo T3.
    (Bị cáo Nguyễn Văn T3 đã nộp 30.000.000 đồng theo Biên lai số 0001175 ngày 29/7/2024 và 14.600.000 đồng theo Biên lai thu số 0000972 ngày 07/09/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang được đối trừ vào số tiền phải thi hành án).
  2. Căn cứ khoản 2 và khoản 3 Điều 201; điểm b, i, s khoản 1và khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 10 (Mười) tháng tù về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” cho hưởng án treo thời gian thử thách 01 (Một) năm 08 (Tám) tháng. Tính từ ngày tuyên án sơ thẩm giao bị cáo cho UBND xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
    Phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo T 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước.
    (Bị cáo Nguyễn Văn T đã nộp 50.000.000 đồng theo biên lai số 0001344 ngày 12/11/2024, tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang được đối trừ vào số tiền phải thi hành án).
  3. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • - Truy thu của bị cáo T tổng số tiền 195.068.493 đồng (trong đó: Số tiền gốc cho vay là 170.000.000 đồng và tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm là 25.068.493 đồng) để sung ngân sách Nhà nước.
    • - Truy thu số tiền của Nguyễn Thị T5 300.000.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng); Trần Thanh K 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng); Vũ Mạnh C 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng); Nguyễn Khánh D 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng); Đỗ Văn T7 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng); Nguyễn Văn H2 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng); Phạm Đình T8 15.000.000 đồng (Mười năm triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước.
    • - Trả lại bị cáo T số tiền 10.000.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
    • - Trả lại Nguyễn Thị T5 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu vàng Gold, Số IMEI1: 359237635021657; Số IMEI2: 359237635168086; Máy cũ đã qua sử dụng; Không lắp sim số thuê bao nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
    • - Tịch thu 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno6 Z; Số IMEI1: 868311056343892; Số IMEI2: 868311056343883; Lắp sim số thuê bao 0978.695.490, máy cũ đã qua sử dụng của Nguyễn Văn T và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi 11T, Lắp sim số thuê bao 0911002986, máy cũ đã qua sử dụng của Nguyễn Văn T3 để sung ngân sách Nhà nước.
  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
    Các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn T3 mỗi người phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự
    Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả tống đạt hoặc niêm yết bản án.
    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định hoặc buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND thành phố Bắc Giang;
  • - Công an thành phố Bắc Giang;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS thành phố Bắc Giang;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo; người liên quan;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Tú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 229/2024/HS-ST ngày 13/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 229/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger