Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 229/2024/HS-ST

Ngày: 12/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thắng

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Đức Thành

2. Ông Trần Văn Vinh

Thư ký phiên toà: Bà Đặng Mai Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên toà: Bà Chu Thị Hồng Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 228/2024/TLST-HSST ngày 18/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 228/2024/QĐXXST-HS ngày 30/10/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn T; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 2000, tại Nam Định; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ dân phố Đ, thị trấn L, huyện N, tỉnh Nam Định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên cha: Phạm Văn V, Sinh năm: 1976; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị H, Sinh năm 1980; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất.

Tiền án, tiền sự: Không.

D chỉ bản số 472 lập ngày 12/7/2024 tại Công an huyện T, thành phố Hà Nội

Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/7/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H, có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

  1. Anh Nguyễn Vũ L, sinh năm 1992 (vắng mặt)
  2. Tổ 8, thị trấn Việt Quang, huyện Bắc Quang, Hà Giang
  3. Anh Phùng Văn N, sinh năm 1988 (vắng mặt)
  4. Tổ 2, phường Thạch Cầu, quận Long Biên, Hà Nội
  5. Anh Ngô Chiến T1, sinh năm 2002 (vắng mặt)
  6. thôn S, xã N, huyện K, Thái Bình

* Người có quyền, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Đặng Kim T2, sinh năm 2004 (vắng mặt)
  2. xã Quang Minh, huyện Kiến Xương, Thái Bình
  3. Anh Trần Văn D1, sinh năm 1981 (vắng mặt)
  4. Xóm 3, xã Đông Hường, huyện Kim Sơn, Ninh Bình
  5. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1980 (vắng mặt)
  6. thị trấn L, huyện N, tỉnh Nam Định

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 18/06/2024, anh Ngô Chiến T1 điều khiển xe Honda Winner V1, BKS: 98H1-415.84 đến cửa hàng B - a của anh Nguyễn Vũ L ở thôn V, xã Đ, huyện T, Hà Nội và gửi nhờ anh L trông hộ chiếc xe Honda Winner V1, BKS: 98H1-415.84.

Ngày 24/06/2024, Phạm Văn T là nhân viên trông coi và thu tiền của khách đến chơi tại cửa hàng B - a của anh L cần tiền tiêu xài cá nhân nên T đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe Honda Winner, BKS: 98H1-415.84 của anh T1 đang gửi tại cửa hàng. Để trộm cắp được xe, khoảng 23 giờ ngày 25/06/2024 T vào lên mạng xã hội facebook và đăng tin vào hội nhóm “Đánh khóa xe tại nhà” với nội dung tìm người đánh chìa khóa xe máy. Sau đó, có một nam thanh niên (chưa xác định được lai lịch) liên lạc với T thì T hẹn người này đến cửa hàng B-a của anh L ở thôn V, xã Đ, huyện T, Hà Nội để đánh chìa khóa. Khi nam thanh niên đến cửa hàng thì T nói dối với người này do bị mất chìa khoá xe nên cần đánh lại chìa nên người này đã đánh lại cho T 01 chiếc chìa khoá với giá 300.000 đồng.

Đến khoảng 00 giờ ngày 26/06/2024 thấy cửa hàng bị-a lúc này không có ai nên T dùng chìa khóa vừa đánh mở khóa xe Honda Winner V1, BKS: 98H1-415.84 nổ máy rồi điều khiển xe đi đến nhà anh Nguyễn Xuân Đ (hiện chưa xác định được lai lịch) ở gần khu công nghiệp T, Vĩnh Phúc chơi. Tại đây, T đã vay của anh Đ số tiền 3.500.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết. Do không có tiền trả anh Đ nên T tiếp tục nảy sinh ý định lừa đảo để chiếm đoạt tiền của anh L. T dùng thủ đoạn gian đối sử dụng 02 tài khoản facebook đặt tên “T” và “Đích” (đều do T lập) và tự nhắn tin qua lại giữa 02 tài khoản với nội dung T đang cầm cố chiếc xe Honda Winner V1, BKS: 98H1-415.84 cho một người tên Đ tại khu công nghiệp T, Vĩnh Phúc với giá 3.500.000 đồng. Sau đó, T chụp màn hình điện thoại có nội dung tin nhắn giữa hai tài khoản facebook này và nhắn tin gửi hình ảnh đã chụp màn hình cho anh L. Sau khi xem tin nhắn, anh L nghĩ T đã mang chiếc xe của anh T1 đi cầm cố thật nên anh L đã chuyển số tiền 3.500.000 đồng từ số tài khoản 8860924973 của anh L tại ngân hàng TMCP Đ1 (B1) đến số tài khoản 0338112377 của anh Nguyễn Xuân Đ tại ngân hàng C1 (V1) theo yêu cầu của T. Sau khi chuyển tiền xong anh L bảo T mang chiếc xe máy của anh T1 về cửa hàng để trả cho anh L.

Do cần tiền tiêu xài nên tối ngày 26/06/2024, T tiếp tục sử dụng tài khoản zalo “Phạm T” nhắn tin đến tài khoản zalo “Đặng Kim T2” của anh Đặng Kim T2 với nội dung muốn cầm cố chiếc xe Honda Winner, BKS: 98H1-415.84, sau khi đọc tin anh T2 hẹn T đến ngày hôm sau sẽ gặp và xem xe. Đến khoảng 10 giờ 20 phút ngày 27/06/2024, T điều khiển chiếc xe 98H1-415.84 đến phòng trọ của anh T2 tại số C, ngõ A Q, N, T, Hà Nội. Tại đây, anh T2 hỏi T về nguồn gốc và giấy tờ xe thì T nói đây là xe của T, do đang nợ nần nên T đã cầm cố giấy tờ xe. T liền gửi cho anh T2 xem căn cước công dân của T và anh T2 đã đồng ý cầm cố chiếc xe với giá 7.000.000 đồng, việc cầm cố xe không lập thành văn bản.

Sau khi cầm cố chiếc xe 98H1-415.84 cho anh T2 xong do lúc này anh L thúc giục T mang xe mô tô về trả nên T đã nói cho anh L biết việc T đã tiếp tục cầm cố chiếc xe này cho anh T2. Sau khi biết sự việc anh L đã tự liên hệ với anh T2 qua tài khoản zalo để đề nghị chuộc lại chiếc xe máy và anh T2 đồng ý. Ngày 29/06/2024, anh L đã chuyển số tiền 7.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng B1 của anh L đến số tài khoản 109875695104 tại ngân hàng V1 của anh T2 để lấy lại xe.

Sau khi lấy, anh Nguyễn Vũ L nói cho anh Ngô Chiến T1 biết việc T trộm cắp chiếc xe máy của anh và đem đi cầm cố nên ngày 28/06/2024, anh T1 đã đến Công an xã Đ, huyện T, Hà Nội trình báo sự việc.

Quá trình làm việc với Cơ quan Điều tra Công an huyện T, anh Đặng Kim T2 đã giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 chiếc xe máy Honda Winner V1 màu đen, BKS: 98H1-415.84, 01 chiếc điện thoại Iphone 7 Plus và số tiền 7.000.000 đồng.

Ngoài hành vi phạm tội như đã nêu trên, quá trình điều tra đủ căn cứ xác định: Do không có tiền tiêu xài cá nhân nên T nảy sinh ý định lừa mượn xe của anh Phùng Văn N để mang đi cầm cố. Khoảng 20 giờ ngày 03/07/2024, T đã đến nhà anh Phùng Văn N và hỏi mượn chiếc xe mô tô Honda Wave màu xanh, BKS: 14S1-076.37 của anh N đi mua đồ dùng cá nhân nhưng mục đích là mang đi cầm cố. Sau khi mượn được xe, đến khoảng 21 giờ cùng ngày T điều khiển chiếc xe 14S1-076.37 đến cửa hàng K của chị Nguyễn Thị M (SN: 1995; HKTT: Thôn T, C, T, Hà Nội) ở số A N, T, T, Hà Nội và gặp nhân viên cửa hàng là anh Trần Văn D1. Tại đây, T nói chiếc xe là tài sản của T mua lại của một người chị. Sau khi kiểm tra anh D1 thấy số khung, số máy của chiếc xe trùng với thông tin trên Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Lê Thị H1 nên anh D1 đồng ý cầm cố chiếc xe với giá 5.700.000 đồng. Việc cầm cố xe được lập thành Phiếu ký gửi đồ, hai bên thỏa thuận phí gửi xe một ngày là 10.000 đồng, tiền lãi là 1.000 đồng/triệu/ngày và anh D1 đã đưa số tiền cầm cố xe cho T. Việc nhận cầm cố xe không chính chủ của T là do anh D1 tự ý nhận cầm cố và bỏ tiền cá nhân của mình ra trả cho T.

Ngày 05/07/2024, Phạm Văn T đến Cơ quan điều tra đầu thú và khai nhận các hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai của T phù hợp với các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan Điều tra thu thập được. T khai những số tiền chiếm đoạt được T đã sử dụng vào việc tiêu xài cá nhân hết. T tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Điều tra 01 chiếc điện thoại Iphone 6S.

Ngày 05/07/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện T đã yêu cầu định giá đối với 01 chiếc xe mô tô Honda Winner V1, BKS: 98H1-415.84 của anh Ngô Chiến T1. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 96/KL-HĐĐGTS ngày 08/07/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS - UBND huyện T kết luận: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Winner, BKS: 98H1-415.84 có giá trị là 15.847.500 đồng.

Ngày 08/08/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện T đã yêu cầu định giá đối với 01 chiếc xe mô tô Honda Wave, BKS: 14S1-076.37 của anh Phùng A Nhất. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 119/KL-HĐĐGTS ngày 12/08/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS - UBND huyện T kết luận: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 14S1-076.37 có giá trị là 7.586.300 đồng.

Đối với anh Trần Văn D1 và Đặng Kim T2 không biết nguồn gốc hai chiếc xe máy của T mang đến cầm cố là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan Điều tra không xử lý. Đối với hành vi nhận cầm cố xe máy không chính chủ, không có giấy tờ xe của anh D1 và anh T2 ngày 02/10/2024, Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với anh D1 và anh T2 về hành vi Cầm cố tài sản không chính chủ theo quy định tại điểm i khoản 3 Điều 12 Nghị định 144/2021/NĐ-CP với mức phạt tiền 7.500.000 đồng.

Đối với người đàn ông mang tên Nguyễn Xuân Đ do Phạm Văn T khai không biết tên tuổi cụ thể và không nhớ được địa chỉ nhà. Quá trình điều tra Cơ quan Điều tra đã tiến hành xác minh nhưng chưa nhận được công văn phúc đáp của Ngân hàng V1 cung cấp về thông tin của chủ tài khoản 0338112377 mang tên Nguyễn Xuân Đ nên ngày 02/10/2024, Cơ quan Điều tra đã ra Quyết định tách phần tài liệu có liên quan đến người mang tên Nguyễn Xuân Đ để tiếp tục điều tra làm rõ.

Về vật chứng: Đối với 01 chiếc xe mô tô Honda Winner V1, BKS: 98H1-415.84 là tài sản của anh Ngô Chiến T1 mua từ chủ đăng ký xe là anh Giáp Văn C (SN: 2003; HKTT: Việt Lập, T, Bắc Giang) và 01 chiếc xe mô tô Honda Wave, BKS: 14S1-076.37 là tài sản của anh Phùng Văn N mua từ chủ đăng ký là chị Lê Thị H1 (SN: 1965; HKTT: Thôn H, H, V, Quảng Ninh) nên ngày 02/10/2024, Cơ quan Điều tra đã trao trả cho anh T1 và anh N những chiếc xe nêu trên.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động Iphone 7 Plus là tài sản của anh Đặng Kim T2 không liên quan đến hành vi phạm tội của Phạm Văn T và số tiền 7.000.000 đồng thu giữ của anh T2 là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Vũ L nên ngày 02/10/2024, Cơ quan Điều tra đã trao trả cho anh T2 chiếc điện thoại Iphone 7 Plus và trả lại cho anh L số tiền 7.000.000 đồng.

Anh T1, anh N, anh L, anh T2 đều đã nhận lại tài sản của mình và không có yêu cầu, đề nghị gì.

Đối với 01 chiếc điện thoại Iphone 6S là tài sản của Phạm Văn T sử dụng vào việc phạm tội nên cần tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định pháp luật.

Về dân sự, gia đình Phạm Văn T đã tự nguyện bồi thường số tiền 5.700.000 đồng cho anh Trần Văn D1 và bồi thường số tiền 7.000.000 đồng cho anh Đặng Kim T2 cùng số tiền 3.500.000 đồng cho anh Nguyễn Vũ L. Anh Duy, anh T2, anh L đều đã nhận tiền và không có yêu cầu, đề nghị gì.

Tại bản cáo trạng số 228/CT-VKS-TT ngày 18/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã truy tố Phạm Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã công bố. Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật và ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa có quan điểm: giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

  • - Đối với tội Trộm cắp tài sản: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
  • - Đối với tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản: Khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo với mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và từ 20 tháng đến 24 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội là 35 tháng đến 42 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: Đối với 01 chiếc điện thoại Iphone 6S là tài sản của Phạm Văn T sử dụng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu sung ngân sách nhà nước

Về dân sự: Anh Duy, anh T2, anh L đều đã nhận tiền bồi thường và không có yêu cầu, đề nghị gì nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 00 giờ ngày 26/06/2024, tại cửa hàng B-a của anh Nguyễn Vũ L ở thôn V, xã Đ, huyện T, Hà Nội, Phạm Văn T đã trộm cắp của anh Ngô Chiến T1 01 chiếc xe mô tô Honda Winner, BKS: 98H1-415.84 có giá trị là 15.847.700 đồng.

Sau khi anh Nguyễn Vũ L phát hiện Phạm Văn T đã trộm cắp xe và yêu cầu mang về trả, T tiếp tục lừa đảo anh L là đã cầm cố chiếc xe mô tô Honda Winner, BKS: 98H1-415.84 để buộc anh Nguyễn Vũ L phải chuyển số tiền 3.500.000 đồng để chuộc lại xe và đã chiếm đoạt của anh L số tiền này.

Do T cần tiền tiêu xài nên đã nảy sinh ý định lừa anh N, khoảng 20 giờ ngày 03/07/2024, Phạm Văn T đến nhà anh N và lừa anh N để anh N cho T mượn chiếc xe Honda Wave, BKS: 14S1-076.37 có giá trị là 7.586.300 đồng rồi mang đi cầm cố lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Hành vi của bị cáo Phạm Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, bị cáo phạm tội 02 lần trở lên nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn thể hiện sự ăn năn hối cải. Gia đình bị cáo đã hỗ trợ bị cáo bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại và người liên quan. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt và đã nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình và tự nguyện ra đầu thú nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự.

[4] Về trách nhiệm hình sự và biện pháp chấp hành hình phạt:

Bị cáo Phạm Văn T đã trên 18 tuổi, bị cáo đã có đủ năng lực, nhận thức để biết việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Nhưng do muốn kiếm tiền bằng con đường bất chính, bị cáo đã lợi dụng sơ hở để trộm cắp tài sản, dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của bạn bè. Hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện liên tục, thể hiện ý thức coi thường pháp luật, xâm hại tài sản công dân và trật tự an toàn xã hội. Do vậy, căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Khi lượng hình, Hội đồng xét xử có xem xét đến bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự và tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 173, khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự.

[5] Về trách nhiệm dân sự: bà Nguyễn Thị H là mẹ đẻ bị cáo đã tự nguyện bồi thường số tiền 5.700.000 đồng cho anh Trần Văn D1 và bồi thường số tiền 7.000.000 đồng cho anh Đặng Kim T2 cùng số tiền 3.500.000 đồng cho anh Nguyễn Vũ L. Anh Duy, anh T2, anh L đều đã nhận tiền và không có yêu cầu, đề nghị gì; bà H không yêu cầu bị cáo trả lại bà số tiền trên nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Xử lý vật chứng:

Đối với 01 chiếc xe mô tô Honda Winner V1, BKS: 98H1-415.84 là tài sản của anh Ngô Chiến T1 và 01 chiếc xe mô tô Honda Wave, BKS: 14S1-076.37 là tài sản của anh Phùng Văn N nên Cơ quan Điều tra đã trao trả cho anh T1 và anh N. Đối với 01 chiếc điện thoại di động Iphone 7 Plus là tài sản của anh Đặng Kim T2 không liên quan đến hành vi phạm tội của Phạm Văn T và số tiền 7.000.000 đồng thu giữ của anh T2 là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Vũ L nên Cơ quan Điều tra đã trao trả tài sản cho anh T2, anh L. Anh T1, anh N, anh L, anh T2 đều đã nhận lại tài sản của mình và không có yêu cầu, đề nghị gì

Đối với 01 chiếc điện thoại Iphone 6S là tài sản của Phạm Văn T sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung công.

[8] Án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự có giá ngạch.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
  2. Áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 16 (mười sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  3. Áp dụng Khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

    Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự: Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai tội là 40 (bốn mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/7/2024.

  4. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
  5. Về trách nhiệm dân sự: không
  6. Xử lý vật chứng của vụ án:
  7. Tịch thu sung công 01 điện thoại Iphone 6S thu giữ của Phạm Văn T hiện được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 30/10/2024 ký giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Trì.

  8. Án phí và quyền kháng cáo:
    • - Áp dụng: Điều 128, 136, 331, 332, 333, 336, 337 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
    • - Áp dụng: Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo.

    Bị cáo Phạm Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

    Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

    Những người có quyền, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM:

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

NGUYỄN VĂN THẮNG

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hà Nội;
  • - VKSND huyện Thanh Trì;
  • - CA huyện Thanh Trì;
  • - THADS huyện Thanh Trì;
  • - Bị cáo; Lưu hồ sơ.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 229/2024/HS-ST ngày 12/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (trộm cắp tài sản và lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 229/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp, lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger