Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ LÁCH

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 229/2024/DS-ST

Ngày: 22-08-2024

V/v “Tranh chấp về thừa kế tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Hậu.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Văn Hơn;
  2. Bà Bùi Thị Thúy Bắc;

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 267/2023/TLST-DS ngày 06 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 128/2024/QĐXXST-DS, ngày 05 tháng 08 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị G, sinh năm 1966; địa chỉ: ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre. Có mặt
  2. Bị đơn: Bà Lê Thị N, sinh năm 1968; địa chỉ: ấp P, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre. Có mặt
  3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

    Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1945; địa chỉ: ấp P, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre. Có mặt

    • - Ông Phạm Văn T, sinh năm 1970;
    • - Ông Phạm Thanh H, sinh năm 1992; Có mặt
    • - Ông Phạm Hoài N1, sinh năm 1995.

    Cùng địa chỉ: ấp P, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre.

Ông Phạm Văn T và Phạm Hoài N1 có yêu cầu xét xử vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, văn bản trình bày ý kiến, biên bản hòa giải và phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn bà Lê Thị G trình bày:

Cha ruột của bà là ông Lê Văn T1, sinh năm 1945, mẹ ruột của bà là Nguyễn Thị S sinh năm 1945. Ông T1 và bà S có phần đất có diện tích là 2809,5m² thuộc thửa đất số 187, tờ bản đồ số 6 (Nay theo bản đồ chính quy là thửa đất số 47, tờ bản đồ 19, tọa lạc tại ấp P, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre).

Ông T1 chết năm 1970, không có để lại di chúc. Ông T1 và bà S có 02 người con ruột là Lê Thị G và Lê Thị N, không có cha mẹ nuôi, con nuôi. Cha mẹ ruột của ông T1 và bà S tất cả đều đã mất.

Sau khi ông T1 chết thì bà S là người trực tiếp quản lý, sử dụng thửa đất số 47. Bà S sống chung với bà N, còn bà sống bên ngoại. Trước đây, bà S có nói là sẽ chia phần đất này ra làm 03 phần bằng nhau, mỗi người một phần (chỉ nói bằng lời, không có làm văn bản). Đến năm 1987, bà lấy chồng nên bà S ngỏ ý kêu bà để lại phần đất này cho S hưởng, đến khi bà S già sẽ trả lại cho bà nên bà đồng ý. Đến năm 2020, bà yêu cầu bà S trả lại phần đất đã hứa cho bà nhưng bà S không trả vì vậy mới xảy ra tranh chấp. Đến lúc này bà mới biết là phần đất mà bà S hứa cho bà đã được Ủy ban nhân dân (UBND) huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Lê Thị N vào ngày 22/05/2013 theo dự án VLAP. Theo bà, thửa đất số 47 là di sản thừa kế của ông T1 chết để lại chưa chia nhưng lại được UBND huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Lê Thị N, khi chưa có được sự đồng ý ký tên của bà là không đúng. Vì vậy bà khởi kiện yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với phần đất này. Theo đơn khởi kiện, bà G yêu cầu chia thửa đất số 47 thành ba phần bằng nhau, bà yêu cầu được nhận một phần với diện tích là 936,5m². Tuy nhiên, sau khi có kết quả đo đạc thì bà chỉ yêu cầu nhận phần đất có diện tích là 753.7m² (thửa 47 tách).

Đối với các tài sản trên đất gồm: cây mận loại 1: 2 cây; cây dừa loại 1: 1 cây; cây xoài loại 1: 1 cây; 1 số cây mai trong chậu và 1 cây mai trồng trong bồn đất của bà Lê Thị N thì bà yêu cầu bà N bứng, di dời ra khỏi phần đất bà yêu cầu nhận, bà không hỗ trợ chi phí di dời.

Đối với kết quả xem xét thẩm định, đo đạc và định giá tài sản bà đồng ý và không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.

Tại văn bản trình bày ý kiến, biên bản hòa giải và phiên tòa sơ thẩm bị đơn bà Lê Thị N trình bày:

Bà là con của ông Lê Văn T1 và bà Nguyễn Thị S, ông T1 chết năm 1970. Ông T1 và bà S có 02 người con ruột là Lê Thị G và Lê Thị N, không có cha mẹ nuôi, con nuôi. Cha mẹ ruột của ông T1 và bà S tất cả đều đã mất.

Phần đất thuộc thửa đất số 47, tờ bản đồ 19, tọa lạc tại ấp P, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre mà bà G yêu cầu chia thừa kế có nguồn gốc của ông bà nội cho cha mẹ của bà. Sau khi ông T1 chết, thì bà S là người trực tiếp quản lý, sử dụng. Đến năm 1988 thì bà S cho bà trọn quyền quản lý, sử dụng phần đất này vì vậy sau đó bà mới đi đăng ký kê khai theo quy định và đến năm 2013 thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo dự án VLAP.

Trước đó, ông bà ngoại của bà cũng có cho bà S ba công đất (3000m²) gồm hai công đất ruộng và một công đất vườn ở ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre. Năm 1987, bà G lập gia đình thì bà S có nói sẽ chia cho bà G một phần đất bên nội nhưng bà G yêu cầu nhận được nhận 03 công đất bên ngoại cho do từ nhỏ bà G sống bên ngoại. Vì vậy, bà S mới chia cho bà G phần đất 3 công bên ngoại, còn bà được giao phần đất bên nội là phần đất mà hiện nay bà G tranh chấp.

Sau khi được cho đất bên ngoại, bà G đã bán khoảng 2 công đất ruộng cho ông Nguyễn Văn B, hiện nay còn 1 công bà G đang sử dụng (hiện trên đất có căn nhà của bà G). Việc bà S đứng ra chia đất cho bà và bà G đã xong, phần của bà được chia thì bà sử dụng ổn định từ năm 1988 đến nay, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định nên đây là tài sản riêng của bà, không phải di sản thừa kế nên bà không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của bà G.

Đối với kết quả xem xét thẩm định, đo đạc và định giá tài sản bà đồng ý và không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.

* Tại biên bản hòa giải ngày 02/08/2024, cũng như tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị S trình bày:

Nguồn gốc phần đất mà bà Lê Thị G tranh chấp là của cha mẹ chồng cho vợ chồng bà diện tích khoảng 3 công (3000m²). Năm 1970 ông T1 mất, bà cùng 2 người con về nhà cha mẹ ruột của bà sống, bà được cha mẹ ruột cho khoảng 3 công đất (2 công đất ruộng và 1 công đất có căn nhà bà G hiện đang ở). Thời gian đầu bà vẫn tới lui quản lý canh tác phần đất được cha mẹ chồng cho. Đến năm 1987, bà G lập gia đình thì có nói sẽ chia phần đất bên nội cho 2 con là bà G và bà N nhưng bà G yêu cầu nhận phần đất 3 công bên ngoại cho, còn phần đất bên nội giao cho bà N. Như vậy, việc chia đất cho các con đã xong, phần của bà N thì bà N trọn quyền quản lý sử dụng, đăng ký kê khai, làm thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; còn bà G thì đã nhận phần đất bên ngoại rồi bán cho người khác, nay lại yêu cầu chia phần đất của bà N là không phù hợp, trong khi bà N còn phải nuôi dưỡng bà và thờ cúng cha là liệt sĩ Lê Văn T1. Vì vậy bà đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà G.

Đối với kết quả xem xét thẩm định, đo đạc và định giá tài sản bà đồng ý và không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Thanh H, Phạm Văn T, Phạm Hoài N1 thống nhất trình bày:

Phần đất tranh chấp là thuộc quyền sử dụng của bà Lê Thị N, các ông không có tranh chấp và không có yêu cầu gì đến phần đất này. Mọi ý kiến và quyết định là do bà N toàn quyền quyết định.

* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 184, 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự, các Điều 149, 623 của Bộ Luật Dân sự năm 2015 tuyên xử: Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với phần diện tích đất chênh lệch theo đơn khởi kiện là 182,8 m²; không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê thị G đối với bà Lê Thị N về việc yêu cầu chia di sản thừa kế đối với phần đất thuộc thửa đất số 47, tờ bản đồ 19, tọa lạc tại ấp P, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Văn T và Phạm Hoài N1 có yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T, ông N1.

Theo đơn khởi kiện, bà Lê Thị G yêu cầu chia thửa đất số 47, tờ bản đồ 19, tọa lạc tại ấp P, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre thành ba phần bằng nhau, bà yêu cầu được nhận một phần với diện tích là 936,5m². Tuy nhiên, sau khi có kết quả đo đạc và tại phiên tòa thì bà G chỉ yêu cầu nhận phần đất có diện tích là 753.7m² (thửa 47 tách). Xét việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyên, không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu, phù hợp với quy định tại Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo đơn khởi kiện, cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Lê Thị G cho rằng phần đất có diện tích 2809,5m² thuộc thửa đất số 187, tờ bản đồ số 6 (Nay theo bản đồ chính quy là thửa đất số 47, tờ bản đồ 19, tọa lạc tại ấp P, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre) là di sản thừa kế của cha ruột bà là ông Lê Văn T1 chết để lại chưa chia. Vì vậy, nay bà yêu cầu chia thừa kế phần đất này thành ba phần, bà yêu cầu được nhận phần đất có diện tích là 753.7m² (thửa 47 tách) theo như kết quả đo đạc. Phía bị đơn bà Lê Thị N thì cho rằng phần đất mà bà G tranh chấp không phải là di sản thừa kế mà là tài sản của bà nên bà không đồng ý chia theo yêu cầu khởi kiện của bà G. Như vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các bên đương sự được xác định là “Tranh chấp về thừa kế tài sản” được Tòa án xem xét giải quyết theo quy định tại khoản 5 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS); các Điều 609, 649, 650 của Bộ luật dân sự năm 2015 (BLDS).

[3] Về thời hiệu khởi kiện: Căn cứ giấy báo tử ngày 01/6/1977, ông Lê Văn T1 chết ngày 26/12/1970. Theo Pháp lệnh Thừa kế và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 10/09/1990 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh Thừa kế, thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế được tính từ ngày 10/09/1990. Căn cứ theo quy định tại Điều 623 của Bộ luật dân sự năm 2015, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản. Ngày 23/11/2023, bà Lê Thị G có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án chia thừa kế là đã hết thời hiệu khởi kiện về thừa kế. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, các bên đương sự đều không có yêu cầu Tòa án áp dụng quy định về thời hiệu nên không đặt ra xem xét theo quy định tại Điều 184 của BLTTDS và Điều 149 của BLDS.

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị G:

- Về di sản thừa kế:

Căn cứ theo văn bản số 1736/CNCL-TTLT ngày 18/6/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Bến Tre cung cấp có nội dung: thửa đất số 187, tờ bản đồ số 6 xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre theo sổ mục kê lập ngày 26/11/1996 ghi: Diện tích 2710.0m², mục đích sử dụng đất trồng cây lâu năm, tên người sử dụng đất: Lê Thị N, thửa đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Theo bản đồ chính quy, thửa đất số 187 thay đổi thành thửa đất số 47, tờ bản đồ 19, được UBND huyện C cấp lần đầu Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo dự án VLAP có số vào sổ CH02792, cấp ngày 22/05/2013, tên người sử dụng đất: Bà Lê Thị N.

Như vậy, bà Lê Thị N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 47 là trên cơ sở người sử dụng đất ổn định, có đăng ký kê khai chứ không phải trên cơ sở được thừa kế.

Xét về nguồn gốc đất: Mặc dù các bên đương sự đều thống nhất đất có nguồn gốc của ông bà nội (cha mẹ ông T1 cho ông T1, bà S) nhưng ông T1 đã chết từ năm 1970, bà S là người trực tiếp, quản lý sử dụng đất. Đến năm 1988 bà S giao cho bà N trọn quyền quản lý, sử dụng. Theo quy định của pháp luật về chính sách đất đai của Nhà nước ta thì kể từ khi Luật đất đai năm 1987 ra đời, Nhà nước mới công nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài thông qua việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, ngày 26/11/1996 bà N đã tiến hành đăng ký kê khai theo quy định, đến ngày 22/05/2013 bà N được UBND huyện C cấp lần đầu Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo dự án VLAP đối với thửa đất số 47, tờ bản đồ 19, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre. Trong suốt quá trình bà N quản lý sử dụng đất từ năm 1988 đến khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phía bà G cũng không có khiếu nại hay tranh chấp gì đối với phần đất này. Do đó, việc bà N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 47 nêu trên là đúng quy định pháp luật.

Từ những phân tích trên, có căn cứ xác định thửa đất số 47 là tài sản thuộc quyền sử dụng của bà Lê Thị N chứ không phải là di sản của ông Lê Văn T1. Do đó, lời trình bày và yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị G về việc yêu chia di sản thừa kế đối với thửa đất số 47 là không có căn cứ nên không được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

[5] Về phát biểu và đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre là phù hợp và có căn cứ nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

[6] Về án phí: Xét yêu cầu khởi kiện của G không được chấp nhận nên phải chịu án phí không có giá ngạch là 300.000 đồng.

[7] Về chi phí tố tụng là 4.266.000 đồng. Xét yêu cầu khởi kiện của G không được chấp nhận nên bà G phải chịu (Đã nộp xong)

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, 147, 157, 165, 184, 244, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 158, 609, 611, 612, 623, 649, 650 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 9 Điều 3, các Điều 166, 170, 203 của Luật đất đai năm 2013;

Căn cứ các Điều 26, 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị G đối với bà Lê Thị N2 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản” đối với tài sản là phần đất có diện tích 2809,5m² thuộc thửa đất số 47, tờ bản đồ 19, tọa lạc tại ấp P, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre, hiện tại do bà Lê Thị N đứng tên người sử dụng đất.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    - Bà Lê Thị G phải chịu án phí là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà mân đã nộp là 2.500.000 đồng theo biên lai thu số 0001246 ngày 30/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. Bà Lê Thị G được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí chênh lệch là 2.200.000₫ (Hai triệu hai trăm nghìn đồng).

  3. Về chi phí tố tụng:

    - Bà Lê Thị G phải chịu là 4.266.000đ (Bốn triệu hai trăm sáu mươi sáu nghìn đồng). Bà G đã nộp xong.

  4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng ông Phạm Văn T và Phạm Hoài N1 vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • -Phòng GĐKT- TA tỉnh Bến Tre;
  • - VKSND huyện Chợ Lách;
  • -Chi cục T.H.A DS huyện Chợ Lách;
  • -Các đương sự;
  • -Lưu HSVA+VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Chí Hậu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 229/2024/DS-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Số bản án: 229/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Giờ yêu cầu chia thừa kế theo pháp luạt
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger