Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 229/2024/HNGĐ-ST

Ngày 26-8-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Giang

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Cao Thị Hạ

Ông Nguyễn Nam Tuấn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đức Hinh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 171/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2024 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 183/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 101/2024/QÐST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Lê Văn T; địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thúy H; nơi đăng ký thường trú: Thôn N, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Canada. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 07 tháng 6 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh Lê Văn T trình bày:

Anh Lê Văn T và chị Nguyễn Thị Thúy H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng ngày 21/3/2005. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại thôn N, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng. Thời gian đầu, vợ chồng sống hạnh phúc, nhưng sau chị H sang sinh sống tại Canada, vợ chồng không có thời gian gần gũi, chia sẻ với nhau về mặt tình cảm

cũng như những khó khăn trong công việc và trong cuộc sống nên anh T xin được ly hôn với chị H.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Lê Nguyễn Khánh N, sinh ngày 29/12/2005 và Lê Minh Tuệ S, sinh ngày 17/8/2011; anh T đề nghị Toà giao cháu S cho Anh nuôi dưỡng. Còn cháu N đã trưởng thành, đủ khả năng lao động nên không đề nghị Toà án giải quyết. Về cấp dưỡng nuôi con, anh chị tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là chị Nguyễn Thị Thúy H không có ý kiến trình bày.

Theo Biên bản xác minh ngày 27 tháng 6 năm 2024 tại thôn N, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng nơi anh T và chị H từng chung sống:

Anh Lê Văn T và chị Nguyễn Thị Thúy H là công dân trên địa bàn. Anh T, chị H đăng ký kết hôn ngày 21/3/2005 tại UBND xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống, anh chị có mâu thuẫn gì không địa phương không nắm được, nhưng không đánh cãi chửi nhau ảnh hưởng đến làng xóm. Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Lê Nguyễn Khánh N và Lê Minh Tuệ S. Nay anh T có đơn xin ly hôn, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về địa chỉ của chị Nguyễn Thị Thúy H: Theo thông tin từ gia đình, chị H hiện làm việc tại Canada, nhưng địa chỉ cụ thể của chị H thì địa phương không nắm được.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên toà:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên toà đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm nghị án. Các đương sự về cơ bản đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của người tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Văn T và chị Nguyễn Thị Thúy H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng là hôn nhân hợp pháp. Chị H sang nước ngoài sinh sống và làm việc, đến nay chưa trở về Việt Nam; vợ chồng cũng không còn liên lạc, quan tâm đến nhau, gia đình không có khả năng đoàn tụ. Vì vậy, yêu cầu của anh T xin ly hôn với chị H là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Lê Nguyễn Khánh N, sinh ngày 29/12/2005 và cháu Lê Minh Tuệ S, sinh ngày 17/8/2011. Cháu N đã trưởng thành, đủ khả năng lao động nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Lê Minh Tuệ S, sinh ngày 17/8/2011 cho anh Lê Văn T trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, anh chị tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.

Về tài sản chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.

2

Về án phí: Anh Lê Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án dân sự về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại thời điểm khởi kiện, bị đơn là chị Nguyễn Thị Thúy H đang cư trú tại nước ngoài. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 và điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Theo thông tin do Cục Q – Bộ C cung cấp thì chị Nguyễn Thị Thúy H đã xuất cảnh ngày 16/4/2024 và hiện tính đến ngày Tòa án thụ lý vụ án thì chưa có thông tin nhập cảnh về Việt Nam. Nguyên đơn anh Lê Văn T chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng ở Việt Nam của chị H, không cung cấp được địa chỉ của chị H ở nước ngoài. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã hai lần gửi thông báo yêu cầu bố mẹ đẻ của chị H là ông Nguyễn Đức N1 và bà Hoàng Thị M cung cấp thông tin về địa chỉ tại nước ngoài của chị H và thông báo cho chị H biết việc Tòa án đang thụ lý, giải quyết vụ án ly hôn giữa anh T và chị H. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành làm việc trực tiếp với ông N1 và bà M thì được ông bà cung cấp như sau: Ông bà đã nhận được các văn bản mà Toà án gửi, ông bà cũng đã thông tin về nội dung vụ án và yêu cầu khởi kiện của anh T với chị H do chị H thường xuyên liên lạc về với gia đình qua Zalo. Chị H đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh T, nhưng từ chối cung cấp địa chỉ của chị tại Canada và từ chối cung cấp lời khai cho Toà án vì chị muốn tập trung làm ăn. Từ căn cứ trên, việc yêu cầu ly hôn của anh T thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Căn cứ vào hướng dẫn nêu trên, Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.

[3] Tại phiên toà, nguyên đơn là anh Lê Văn T vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn là chị Nguyễn Thị Thúy H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[4] Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Văn T và chị Nguyễn Thị Thúy H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng ngày 21/3/2005 là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Sau đó, chị Nguyễn Thị Thúy H sang nước ngoài sinh sống và làm việc. Xét, chị H và anh T hiện mỗi người ở một nơi, vợ chồng không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu của anh Lê Văn

3

T xin được ly hôn với chị Nguyễn Thị Thúy H là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

[5] Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Lê Nguyễn Khánh N, sinh ngày 29/12/2005 và Lê Minh Tuệ S, sinh ngày 17/8/2011. Cháu N đã trưởng thành, đủ khả năng lao động nên Toà án không xem xét. Cháu S hiện đang sinh sống cùng anh T, chị H đang ở nước ngoài không có điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng cháu S; cháu S cũng có nguyện vọng được sống cùng với bố. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu Lê Minh Tuệ S, sinh ngày 17/8/2011 cho anh Lê Văn T trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, anh chị tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xét.

[6] Về tài sản chung: Anh Lê Văn T không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Anh Lê Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 28, 37, 39, 147, 228, 235, 238, 273, 469 và 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 9 và Điều 56, Điều 81,82,83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,

X:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Lê Văn T ly hôn chị Nguyễn Thị Thúy H.

2. Về con chung: Giao con chung Lê Minh Tuệ S, sinh ngày 17/8/2011 cho anh Lê Văn T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Lê Văn T không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

3. Về tài sản chung: Anh Lê Văn T không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.

4

4. Về án phí: Anh Lê Văn T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Anh Lê Văn T đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) - tiền tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai số 0000444 ngày 14 tháng 6 năm 2024 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Anh Lê Văn T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - Cục THADS thành phố Hải Phòng;
  • - UBND xã Thuỷ Đường, huyện thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng (đăng ký ngày 21/3/2005);
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hồng Giang

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 229/2024/HNGĐ-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 229/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger