|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 229/2024/HS-ST
Ngày 19/7/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hồ Sĩ Tiến
Bà Ngô Thị Thúy Hảo
- Thư ký phiên toà: Ông Khuất Cao Hoàng – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Thùy Linh- Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 188/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 259/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
NGUYỄN PHÚC Đ, sinh năm 1986 tại thành phố Hồ Chí Minh;
Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: D Hậu Giang, phường A, Quận F, Tp . Hồ Chí Minh; Giới tính: nam; Trình độ học vấn: Đại học; Nghề nghiệp: Biên đạo múa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Tên cha: Nguyễn Thành M (đã chết); Tên mẹ: Đinh Thị Xuân H, sinh năm 1956; Có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Chưa có vợ con.
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Bị bắt ngày 29/02/2024, đến ngày 09/03/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại tại địa chỉ: D Hậu Giang, phường A, Quận F, Tp . Hồ Chí Minh (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Phúc Đ1 khai nhận bản thân Đ1 sử dụng ma túy đá từ tháng 3/2023 đến nay. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào ngày 20/02/2024, Đ1 đến khu vực cầu H thuộc phường A, Quận F, TP Hồ Chí Minh gặp một thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 01 (một) gói ma túy đá với số tiền 500.000đ (năm trăm ngàn đồng). Sau khi mua ma túy, Đ1 sử dụng một ít và số còn lại Đ1 cất trong túi da của Đ1 để sử dụng dần. Khoảng 12 giờ ngày 28/02/2024, Đ1 từ Tp . Hồ Chí Minh xuống Tp ., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu rủ anh Bùi Xuân D, sinh năm 1990; nơi thường trú và nơi ở: 1 T, phường C, Tp ., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến thuê phòng 202, nhà nghỉ G địa chỉ Lô L Khu B, đường C, phường H, Tp ., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Đến khoảng 23 giờ 45 phút cùng ngày thì Đ1 bị Công an P, Tp ., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phát hiện, bắt quả tang thu giữ vật chứng nghi là ma túy Đ1 đang cất giấu.
Tại Kết luận giám định số 186/KL-KTHS-MT ngày 04/3/2024 của Phòng K, Công an tỉnh B kết luận: 01 (một) gói nylon hàn kín chứa chất kết tinh không màu, trong suốt gửi giám định có khối lượng 0,1220 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.
Lời khai của Nguyễn Phúc Đ1 phù hợp với chứng cứ thu thập được và phù hợp với lời khai của anh Bùi Xuân D là người chứng kiến (các bút lục điều tra từ số 62, 63)
Việc thu giữ vật chứng: Công an phường P, Tp ., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thu giữ vật chứng của vụ án là 01 (một) (gói) nylon hàn kín, bên trong chứa chất kết tinh không màu trong suốt. Qua giám định có khối lượng 0,1220 gam, là ma túy, loại Methamphetamine. Mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định tại Phòng K Công an tỉnh B. Sau giám định, Phòng K Công an tỉnh B hoàn lại 01 (một) phong bì niêm phong số 186 ngày 07/3/2024.
Vật chứng trên được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T chuyển đến Chi cục Thi hành án Dân sự Tp.Vũng Tàu quản lý, chờ xử lý.
Bản cáo trạng số 178/CT-VKS ngày 24/5/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố bị cáo Nguyễn Phúc Đ1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Phúc Đ1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đồng thời đề nghị:
Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự; Đề nghị xử phạt Nguyễn Phúc Đ1 mức án từ 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: đề nghị;
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong số 186 ngày 07/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh B.
- Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát. Không có ý tranh luận, bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong quá trình tiến hành tố tụng đã thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Căn cứ lời khai nhận tại phiên tòa, đối chiếu lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra là thống nhất, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:
Nguyễn Phúc Đ1 là người sử dụng ma túy đá từ 3/2023. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào ngày 20/02/2024, Đ1 đến khu vực cầu H thuộc phường A, Quận F, TP . Hồ Chí Minh mua 01 (một) gói ma túy đá với số tiền 500.000đ (năm trăm ngàn đồng) của một người không rõ nhân thân, lai lịch.) Sau khi mua ma túy, Đ1 sử dụng một ít và số còn lại Đ1 cất trong túi da của Đ1 để sử dụng dần. Khoảng 12 giờ ngày 28/02/2024, Đ1 từ TP . Hồ Chí Minh xuống Tp ., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu rủ anh Bùi Xuân D, sinh năm 1990; nơi thường trú và nơi ở: 1 T, phường C, Tp ., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến thuê phòng 202, nhà nghỉ G địa chỉ Lô L Khu B, đường C, phường H, Tp ., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Đến khoảng 23 giờ 45 phút cùng ngày thì Đ1 bị Công an P, Tp ., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phát hiện, bắt quả tang, thu giữ của Đ1 01 (một) gói nylon chứa chất kết tinh không màu trong suốt, Đ1 khai là ma túy đá, bị cáo cất để sử dụng cho bản thân.
Tại Kết luận giám định số 186/KL-KTHS-MT ngày 04/3/2024 của Phòng K, Công an tỉnh B kết luận: 01 (một) gói nylon hàn kín chứa chất kết tinh không màu, trong suốt gửi giám định có khối lượng 0,1220 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.
Hành vi của Nguyễn Phúc Đ1 đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố.
Đối với Bùi Xuân D, không có chứng cứ chứng minh D liên quan đến hành vi, sự việc phạm tội Điền nên không xem xét xử lý.
[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo gây ra là nguy hiểm; bị cáo có đầy đủ nhận thức để biết rõ ma túy là chất độc hại; mọi hành vi vi phạm liên quan đến ma túy đều bị pháp luật xử lý nghiêm khắc nhưng là người có nhu cầu sử dụng ma túy nên bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt phù hợp với hành vi, mức độ phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo, đồng thời bảo đảm phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tăng nặng: Không có;
- Giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt, gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Ngoài ra, bị cáo cung cấp tài liệu thể hiện bản thân bị nhiễm HIV giai đoạn đầu. Nên áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
[5] Về xử lý vật chứng: Chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát, cụ thể:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong số 186 ngày 07/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh B.
[6] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phúc Đ1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt Nguyễn Phúc Đ1 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án, được khấu trừ thời hạn đã bị tạm giữ trước đây từ ngày 29/02/2024 đến ngày 09/3/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong số 186 ngày 07/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh B.
Thực hiện xử lý vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 223/BB.CCTHADS ngày 05/6/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng).
4. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Huyền |
Bản án số 229/2024/HS-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 229/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
