Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 229/2024/HS-ST

Ngày: 16-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Hương Giang

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Thiều Đình Thu

Bà Võ Thị Nam

Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Hồ Ngọc Trường

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Nguyên Thạch – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 284/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2142/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 2357/2024/HSST-QĐ ngày 08 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Trương Thành L; Sinh ngày 29 tháng 10 năm 1998 tại Hậu Giang; Thường trú: Ấp N, thị trấn M, huyện C, tỉnh Hậu Giang; Chỗ ở: Phòng D đường C, khu phố F, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Chiến T và bà Lê Thị Lệ T1; Bị cáo sống chung như vợ chồng với Võ Kim T2 và có 01 con sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt, tạm giam ngày 30/7/2023 - Có mặt.

Người bào chữa:

Bà Nguyễn Ngọc T3 là luật sư của văn phòng luật sư Hồ Trung H thuộc Đoàn luật sư Thành phố H bào chữa cho bị cáo - Có mặt.

Người làm chứng:

Ông Trần Văn Q – Vắng mặt.

Bà Võ Kim T2 – Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 17 giờ 00 ngày 30/7/2023, Tổ công tác Công an thành phố T phát hiện Trương Thành L đang dẫn xe gắn máy biển số 95H1-451.75 trước Phòng trọ D5, Nhà trọ số 136, đường số C, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện bên trong túi quần phía trước, bên phải của L đang mặc có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,7850g, loại Ketamine. Quá trình kiểm tra, L khai còn cất giấu số ma túy trong phòng trọ D5 nên tổ công tác tiến hành kiểm tra, thu giữ gồm:

- Trong ngăn tủ trên cùng bên phải bàn làm việc màu vàng:

  • + 01 hộp giấy màu hồng, bên trong có 01 gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu có khối lượng 30,7007g, loại Ketamine; 01 gói nylon bên trong 42 viên nén màu hồng có khối lượng 16,8579g, loại MDMA.
  • + 01 hộp giấy màu đen, bên trong có: 01 gói nylon bên trong 10 viên nén màu hồng và bột màu hồng; 01 gói nylon chứa 02 viên nén màu hồng; có tổng khối lượng 4,7807g, loại MDMA; 01 gói nylon chứa 01 viên nén màu hồng; 01 gói nylon chứa 02 viên nén màu hồng; 43 gói nylon, bên trong đều chứa tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 33,4056g, loại Ketamine.
  • + 01 gói nylon chứa 01 viên nén màu xanh; 01 gói nylon chứa nhiều mảnh vụn màu xanh có tổng khối lượng 1,123g, loại Methamphetamine, MDMA.
  • + 01 hộp nhựa màu trắng, bên trong có 08 gói nylon, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 4,7234g, loại Ketamine.

Thu giữ trong hộc bàn trên gác 01 gói nylon bên trong chứa 11 viên nén màu hồng là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 4,3601g, loại Ketamine.

Ngoài ra, Công an còn thu giữ của Trương Thành L: 01 cân tiểu ly; 01 xe gắn máy biển số 95H1-451.75 và 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu đen.

Số ma túy thu giữ trong vụ án đã được giám định, kết quả thể hiện tại Kết luận giám định số 8402/KL-KTHS ngày 08/8/2023 của Phòng K1 Công an Thành phố H (bút lục 28).

Trương Thành L khai nhận số ma túy Công an thu giữ trên là của L cất giấu để bán cho khách, nên Công an thành phố T đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trương Thành L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Quá trình điều tra, Trương Thành L khai nhận:

Vào khoảng năm 2020, Trương Thành L quen biết 01 người phụ nữ tên H1 có hoạt động mua bán ma túy. Đến tháng 10/2022, H1 đề nghị L cất giấu ma túy, H1 sẽ thông báo cho L qua ứng dụng Telegram để cho L đem ma túy đi bán cho khách, mỗi lần đi bán L nhận tiền công 500.000 đồng. Trung bình, cứ khoảng 03 đến 04 lần giao ma túy thành công, H1 trả tiền công cho L bằng cách H1 cho người đem tiền mặt đưa trực tiếp cho L tại trước Nhà trọ số 136 hoặc những lúc khách trả tiền mặt cho L thì L thông báo để Hà trừ vào số tiền công mà L nhận được. Sau khi nhận ma túy từ H1, L phân chia Ketamine thành các gói có khối lượng từ 0.5g đến 2g, thuốc lắc từ 01 đến 05 viên để khi có khách thì L đem đi giao. L bán hết ma túy từng đợt thì H1 sẽ cho người hoặc G tiếp tục mang ma túy giao cho L. Từ cuối tháng 10/2022 cho đến ngày bị bắt, L đã nhiều lần nhận ma túy của H1 tại khu vực trước nhà trọ số A, đường số C, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh rồi đem về phòng trọ D5 cất giấu nhưng L không nhớ rõ thời gian, số lượng, loại ma túy từng lần nhận mà chỉ nhớ mỗi lần, L nhận từ khoảng 50g đến 100g Ketamine hoặc từ khoảng 50 viên đến 100 viên thuốc lắc.

Riêng 02 lần cuối, ngày 21/7/2023, L nhận 100g Ketamine và ngày 22/7/2023, L nhận 200 viên thuốc lắc từ H1 qua giao hàng công nghệ G. Số ma túy này, L đã bán vào các ngày 23/7/2023 bán 10g Ketamine, 50 viên thuốc lắc; ngày 25/7/2023 bán 10g Ketamine, 30 viên thuốc lắc; ngày 27/7/2023 bán 5g Ketamine, 10 viên thuốc lắc, 2,5g Ketamine, 10 viên thuốc lắc; ngày 29/7/2023 bán 10g Ketamine, 10 viên thuốc lắc; ngày 30/7/2023 bán 5g Ketamine, 10 viên thuốc lắc cho khách tại khu vực Quận A và thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại bản Cáo trạng số: 215/CT-VKSTPHCM-P1 ngày 29 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trương Thành L về tội: “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo Trương Thành L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh trong phần tranh luận sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, hậu quả của tội phạm mà bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự vẫn giữ nguyên nội dung truy tố bị cáo Trương Thành L về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm điểm h khoản 3, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Xử phạt bị cáo Trương Thành L mức án từ 16 đến 17 năm tù.

Phạt bổ sung bị cáo số tiền 20.000.000 đồng, sung ngân sách Nhà nước.

Đồng thời đề nghị xử lý vật chứng và các vấn đề khác của vụ án theo quy định pháp luật.

Luật sư Nguyễn Ngọc T3 bào chữa cho bị cáo Trương Thành L trình bày: Luật sư đồng ý với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố. Về hình phạt mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị là quá nghiêm khắc. Bởi, tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội với khối lượng ma túy bị bắt quả tang thu giữ trong vụ án là đã thể hiện sự thành khẩn khai báo, ăn năn

hối cải. Đồng thời, bị cáo phạm tội lần đầu, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, con nhỏ sinh năm 2022, nên luật sư đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để quyết định mức án nhẹ hơn mức đề nghị của Viện kiểm sát, cho bị cáo có cơ hội sớm quay về chăm sóc cha mẹ và con nhỏ. Về hình phạt bổ sung, luật sư đề nghị miễn giảm đến mức thấp nhất cho bị cáo.

Bị cáo đồng ý bài bào chữa của luật sư và không tham gia tranh luận.

Lời nói sau cùng: Bị cáo Trương Thành L xin được giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội làm lại cuộc đời, sớm trở về chăm sóc con nhỏ và phụng dưỡng cha, mẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an Thành phố H, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị cáo, người làm chứng đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung, Hội đồng xét xử đánh giá như sau:

Qua thẩm tra xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, bị cáo Trương Thành L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa được xác định phù hợp với lời khai của người làm chứng tại Cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định ma túy, cùng các tài liệu chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ của vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Bị cáo Trương Thành L đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy cho đối tượng H1 để hưởng lợi bất chính từ tháng 10/2022. Nguồn ma túy gồm K, thuốc lắc được H1 giao đến chỗ ở của L thông qua người của H1 hoặc ứng dụng giao hàng G, mỗi lần từ 50gam đến 100g Ketamine hoặc từ khoảng 50 viên đến 200 viên thuốc lắc. L giữ vai trò cất giấu ma túy, phân chia nhỏ ma túy loại Ketamine thành từng gói có khối lượng từ 0,5gam đến 2gam và thuốc lắc từ 01 đến 05 viên, để khi có khách mua ma túy thì H1 sẽ liên hệ với L qua ứng dụng Telegram, báo số lượng, chủng loại ma túy, sau đó, L đi giao cho khách và nhận tiền công mỗi chuyến là 500.000 đồng. Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 30/7/2023, L đang cất giấu trong túi quần phía trước, bên phải 01 gói ma túy,

khối lượng 1,7850gam, loại Ketamine để sẵn sàng đi giao theo yêu cầu của H1 thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang. Đồng thời, khám xét chỗ ở của L tại phòng trọ D5, nhà trọ số A, đường số C, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện và thu giữ 73,1898 gam loại Ketamine; 21,6386 gam loại MDMA và 1,123 gam loại Methamphetamine, MDMA.

Hành vi nêu trên của bị cáo Trương Thành L đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Bản cáo trạng truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Hội đồng xét xử xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo Trương Thành L là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền về quản lý các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự, trị an và an ninh xã hội, xâm phạm đến chính sách của nhà nước về đấu tranh phòng ngừa và loại bỏ ma túy ra khỏi cuộc sống xã hội. Bị cáo biết rõ ma túy là loại biệt dược độc hại, đã, đang và sẽ hủy hoại cả về thể chất lẫn tinh thần của những người nghiện hút, do đó nhà nước ta đã nghiêm cấm mọi hành vi sản xuất, tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy và quy định trừng phạt nghiêm khắc với những ai cố tình vi phạm. Bị cáo là người trên 18 tuổi và không thuộc trường hợp không có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng vì tư lợi đã mua bán trái phép 74,9748 gam loại Ketamine; 21,6386 gam loại MDMA và 1,123 gam loại Methamphetamine, MDMA. Căn cứ hướng dẫn tại khoản 3, 4 Điều 5 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02 tháng 02 năm 2018 của Chính phủ về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích các chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự, xét cần áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xử phạt bị cáo một mức án nghiêm. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo L.

[4] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, tỏ thái độ ăn năn, hối cải nên Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo L.

[6] Về nhân thân: Bị cáo phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự nên được xem xét là người có nhân thân tốt khi quyết định hình phạt theo quy định tại Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[7] Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức phạt tù trong khung hình phạt, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[8] Lập luận trên đây cũng là căn cứ chấp nhận quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và một phần quan điểm bào chữa của luật sư về việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như giảm hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[9] Về xử lý vật chứng thu giữ trong vụ án:

- Đối với 07 bì thư được niêm phong bên ngoài ghi số 8402/(1676/23)G1; 8402/(1676/23)G2; 8402/(1676/23)G3; 8402/(1676/23)G4; 8402/(1676/23)G5; 8402/(1676/23)G6; 8402/(1676/23)G7, có chữ ký của giám định viên Huỳnh Minh T4 (PC09) và Nguyễn Thị Phương M (Công an T), bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định, 01 cân điện tử màu đen, 01 hộp giấy màu hồng; 01 hộp giấy màu đen; 01 hộp nhựa màu trắng là vật nhà nước cấm lưu hành và vật không có giá trị sử dụng, xét cần tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Redmi, màu đen (model M2101K6G, bể nát, không kiểm tra đời máy, I do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong; 01 xe hai bánh gắn máy, nhãn hiệu Honda, số loại Winner, dung tích xi lanh 149, BS: 95H1-451.75, SK: RLHKC2609GY393043, SM: KC26E1239483 (bể nhựa, yên, không gương, dàn nhựa bể, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra) thu giữ của bị cáo Trương Thành L là công cụ, phương tiện liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, xét cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

[9] Các vấn đề khác:

- Đối với các lần Trương Thành L mua bán trái phép chất ma túy cho đối tượng H1 trước đó. Do ngoài lời khai nhận tội của L, không có chứng cứ nào khác chứng minh hành vi phạm tội của L nên Hội đồng xét xử không đủ căn cứ để xử lý Trương Thành L về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” của những lần mua bán này.

- Đối với đối tượng H1 là người cung cấp ma túy cho L. Quá trình điều tra và tại phiên tòa L khai H1 cung cấp tài khoản số 1033674630 tại Ngân hàng V để L chuyển tiền trả nợ cho H1. Kết quả xác minh tài khoản trên do Nguyễn Thị Thu H2, sinh năm 1988, trú tại: Tổ E, ấp C, xã N, thị xã C, tỉnh Bình Phước đứng tên, hiện H2 đã bỏ đi khỏi địa phương, đi đâu chưa rõ. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm người số 3372 đối với Nguyễn Thị Thu H2, khi nào phát hiện sẽ điều tra, xử lý sau.

- Đối với người phụ nữ tên “Bé B”, cặp vợ chồng tên “A”, “người phụ nữ” không rõ lai lịch là người mua ma túy của L vào các ngày 23, 27 và 29/7/2023. Do Trương Thành L không khai rõ được nhân thân, lai lịch nên không có cơ sở điều tra, làm rõ hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy của các đối tượng này.

- Đối với lời khai của Trương Thành L về việc giao ma túy cho người đàn ông tên tên T5 tại địa chỉ A L, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh và giao ma túy cho một người tên T6 tại địa chỉ D L, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Cơ quan Điều tra đã tiến hành xác minh các đối tượng

trên, kết quả xác định không có đối tượng tên T5, T6 cư trú, sinh sống tại 02 địa chỉ trên. Nên không có cơ sở điều tra làm rõ hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy của các đối tượng này.

- Đối với Võ Kim T2 sống chung như vợ chồng với Trương Thành L và có 01 con chung tên Võ Ngọc Anh T7. Ngày 30/7/2023, T2 cùng trẻ Thư từ thị xã B, Bình Dương xuống Phòng trọ D5, Nhà trọ số 136, đường số C, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh để thăm L thì đến khoảng 17 giờ 00 phút, cùng ngày xảy ra vụ việc như đã nêu trên. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và T2 khai thống nhất nội dung Võ Kim T2 không biết và không liên quan đến số ma túy bị thu giữ trong phòng trọ D5 cũng như hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Trương Thành L. Kết quả xét nghiệm thể hiện T2 âm tính với chất ma túy nên Cơ quan điều tra nên không có căn cứ xử lý trách nhiệm liên quan đối với Võ Kim T2.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định tại Điều 135, 136 Bộ luật Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm h khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Trương Thành L 16 (mười sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 30/7/2023.

Xử phạt bổ sung bị cáo Trương Thành L 5.000.000 (năm triệu) đồng, sung ngân sách Nhà nước.

Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

Tịch thu tiêu hủy: 07 bì thư được niêm phong bên ngoài ghi số 8402/(1676/23)G1; 8402/(1676/23)G2; 8402/(1676/23)G3; 8402/(1676/23)G4; 8402/(1676/23)G5; 8402/(1676/23)G6; 8402/(1676/23)G7, có chữ ký của giám định viên Huỳnh Minh T4 (PC09) và Nguyễn Thị Phương M (Công an T), bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định, 01 cân điện tử màu đen, 01 hộp giấy màu hồng; 01 hộp giấy màu đen; 01 hộp nhựa màu trắng.

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Redmi, màu đen (model M2101K6G, bể nát, không kiểm tra đời máy, I do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong; 01 xe hai bánh gắn máy, nhãn hiệu Honda, số loại Winner, dung tích xi lanh 149, BS: 95H1-451.75, SK: RLHKC2609GY393043, SM: KC26E1239483 (bể nhựa, yên, không gương, dàn nhựa bể, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra)

(Theo Biên bản giao nhận tang tài vật số NK2024/276 ngày 12/4/2024 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).

Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017,

Bị cáo có quyền kháng cáo xin xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TC; (1)
  • - TAND Cấp Cao; (1)
  • - VKSND TP. HCM; (3)
  • - Cục THA DS TP. HCM; (1)
  • - Sở tư pháp; (1)
  • - Cơ quan điều tra; (1)
  • - Trại tạm giam; (4)
  • - Bị cáo; (2)
  • - Đương sự; (2)
  • - THA HS; (1)
  • - Phòng PV06 - CA TP. HCM; (1)
  • - UBND nơi bị cáo cư trú; (1)
  • - Lưu: VT, THS, hồ sơ; (25) (3)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Thị Hương Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 229/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 229/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Thành L bị xét xử về tội Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger