TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 229/2024/HSST Ngày 14/8/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ——————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mai.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Long và bà Nguyễn Thị Tạc
Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột: Ông Nguyễn Tuấn Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 200/2024/HSST ngày 05 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 209/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Trung T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 04 tháng 10 năm 1997, Tại tỉnh Lâm Đồng.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.
Chỗ ở hiện nay: Số A H, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 10/12; Họ và tên cha: Nguyễn Văn H; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị H1; Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 20/7/2017, tại Bản án số 28/2017-HS-ST của Toà án nhân dân huyện Cư M'gar, tỉnh Đắk Lắk, xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 tháng, về tội: Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, đã chấp hành xong.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, từ ngày 08 tháng 4 năm 2024 cho đến nay – Có mặt
Họ và tên: Chu Đình P; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 20 tháng 3 năm 2000, Tại tỉnh Đắk Lắk.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn H, xã Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Họ và tên cha: Chu Đình T1, sinh năm 1966 (đã chết); Họ và tên mẹ: Đinh Thị K, sinh năm: 1970; Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 02/10/2015, bị Công an thị trấn Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản, hình thức phạt cảnh cáo; Ngày 07/8/2023, bị Công an phường K, thành phố B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, hình thức phạt cảnh cáo.
Ngày 23/01/2024, Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, xử phạt 12 tháng tù giam, về tội “Trộm cắp tài sản”, tại bản án số 17/2024/HS-ST.
Bị cáo đang chấp hành án phạt tù theo bản án số 17/2024/HS-ST, ngày 23/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B cho đến nay – Có mặt
* Bị hại: Anh Trần Văn Đ
Địa chỉ: Ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Long An (Vắng mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Cao Tiến C
Địa chỉ: F Y Ni K, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 01/7/2023, Chu Đình P gặp anh Trần Văn Đ tại huyện B, thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, cho Chu Đình P mượn 01 xe mô tô kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 62E1-169.26 để đi lại, P điều khiển xe 62E1-169.26 đến nhà vợ của anh Đ tại huyện D, tỉnh Lâm Đồng chơi và ở lại.
Đến chiều ngày 02/7/2023, P nói với em vợ của anh Đ là anh Triệu Đỗ Duy H2 là P mượn xe mô tô biển số kiểm soát 62E1-169.26 để về tỉnh Đắk Lắk chơi một vài ngày, khi nào anh Đ gọi thì sẽ quay lại huyện D, tỉnh Lâm Đồng, khi đi với P còn có một người tên H (chưa rõ lai lịch). Khi đến thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, P liên lạc với Nguyễn Trung T, rồi P và H đến phòng trọ mà T đang thuê(chưa xác định được địa chỉ) trên đường N, phường T, thành phố B. Tại đây cả ba tổ chức ăn, uống, sử dụng ma túy Đá với nhau, quá trình nói chuyện thì P có nói cho T biết chiếc xe mô tô biển số kiểm soát 62E1-169.26 là do P mượn của anh Trần Văn Đ để đi lại.
Đến ngày 04/7/2023, thì cả ba tiếp tục thuê một nhà nghỉ (chưa xác định được địa chỉ) để ở lại và tiếp tục sử dụng ma túy Đá với nhau, đến khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 04/7/2023 T mượn xe mô tô biển số kiểm soát 62E1-169.26 để đi công việc, P đồng ý. Sau khi mượn được xe 62E1-169.26 đi, thì T nảy sinh ý định mang xe mô tô biển số kiểm soát 62E1-169.26 đi cầm cố, thế chấp để lấy tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân. T đã điều khiển xe đi đến tiệm sửa xe mô tô tên “Út yamaha” trên đường L, thành phố B, gặp anh Cao Tiến C, là chủ tiệm sửa xe. Tại đây, T trao đổi với anh C nội dung T muốn mượn anh C số tiền 8.000.000 đồng và để lại chiếc xe mô tô biển số kiểm soát 62E1-169.26 để đảm bảo. Do có quen biết từ trước nên anh C đồng ý và đưa cho T mượn số tiền mặt 8.000.000 đồng. Sau đó, T sử dụng tiền này để trả nợ, mua sắm, nạp tiền chơi G và tiêu xài cá nhân hết. Khoảng 30 phút sau thì T nhắn tin cho Chu Đình P nội dung “tao mượn xe mày đi cầm nha”, P nhắn tin lại là “không được”, nhưng T nhắn tin lại là “tao cầm rồi”.
Đến khoảng 19 giờ 30 phút, cùng ngày T quay lại nhà nghỉ, thì P hỏi T là cầm xe bao nhiêu, T nói cầm 8.000.000 đồng, nghe vậy P đồng ý. Đồng thời do không còn tiền tiêu xài nên P nói với T hỏi mang giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số kiểm soát 62E1-169.26 bản gốc để cầm cố, thế chấp để lấy thêm tiền được không thì T đồng ý. Tín liên lạc với anh C về nội dung muốn giao giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số kiểm soát 62E1-169.26 để lấy thêm tiền từ việc thế chấp xe, thì anh C đồng ý. Đến khoảng 21 giờ 00 phút, ngày 04/7/2023, T chở P đến tiệm sửa xe của anh C và đưa cho anh C xem giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số kiểm soát 62E1-169.26, xem xong anh C đồng ý cho P mượn thêm số tiền 2.700.000 đồng từ việc thế chấp xe trước đó, anh C đã chuyển khoản số tiền này cho Chu Đình P. Sau đó, T và P đi về lại nhà nghỉ, tại đây T mượn P số tiền 1.000.000 đồng, thì P chuyển khoản cho T, còn lại số tiền 1.700.000 đồng P tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 05/7/2023, anh Đ liên tục điện thoại cho P để yêu cầu mang xe mô tô biển số kiểm soát 62E1-169.26 về trả lại cho anh Đ, nhưng không thấy P mang xe về trả nên anh Đ đi đến thành phố B, tỉnh Đắk Lắk liên lạc với P để lấy lại xe mô tô biển số kiểm soát 62E1-169.26, thì P có nói đã mang xe đi cầm cố, thế chấp lấy tiền rồi, thì anh Đ yêu cầu P chuộc xe trả lại hoặc chỉ chỗ cầm cố xe để anh Đ đi chuộc. Do đã tiêu xài hết tiền, không có khả năng chuộc xe nên P không dám ra gặp anh Đ. P nói T gặp anh Đ, nói với anh Đ là đã cầm cố xe hết số tiền 16.000.000đồng và chỉ chỗ cho anh Đ biết nơi cầm cố, thế chấp xe và P nói với T là nói với anh C là khi anh Đ đến hỏi thì nói là xe T và P đã được cầm cố số tiền 16.000.000 đồng.
Sau đó, T gặp nói với anh Đ là xe đã được cầm cố, thế chấp lấy số tiền 16.000.000 đồng, còn anh Đ trình báo sự việc đến Cơ quan Công an còn T và P bỏ trốn khỏi địa phương. Khi Cơ quan Điều tra làm việc, thì anh Cao Tiến C đã tự nguyện giao nộp lại chiếc xe mô tô biển số kiểm soát 62E1-169.26 và Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 009731.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 647/KL-HĐĐG ngày 10 tháng 8 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện D, tỉnh Lâm Đồng, xác định trị giá: 01 xe mô tô nhãn hiệu: HONDA; số loại: WINNER; dung tích: 149; BKS 62E1-169.26, đã qua sử dụng, tại thời điểm tháng 7/2023. Giá trị tài sản là 11.300.000 đồng.
Tại Bản Kết luận giám định số 125/KL-KTHS, ngày 11/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ, kết luận: Xe mô tô gắn biển số 62E1-169.26 số máy, số khung không thay đổi.
Việc tạm giữ vật chứng: 01 xe mô tô biển số kiểm soát 62E1-169.26; nhãn hiệu: HONDA; số loại: WINNER; màu sơn: Xanh trắng; dung tích: 149; số khung: 2601GY058097; số máy: KC26E1092735; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 009731 do Công an huyện A, tỉnh Long An cấp ngày 05/5/2017.
Tại bản cáo trạng số 205/CT-VKS-HS ngày 04 tháng 7 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã truy tố các bị cáo Nguyễn Trung T và Chu Đình P về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; các điểm b,h,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T từ 15 tháng - 18 tháng tù.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; các điểm h,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Chu Đình P từ 12 tháng - 15 tháng tù.
Tổng hợp hình phạt 01 năm tù của bản án số 17/2024/HS-ST ngày 23/01/2024, của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, về tội: Trộm cắp tài sản, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 24 tháng - 27 tháng tù.
Xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô biển số kiểm soát 62E1-169.26; nhãn hiệu: HONDA; số loại: WINNER; màu sơn: Xanh trắng; dung tích: 149; số khung: 2601GY058097; số máy: KC26E1092735; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 009731 do Công an huyện A, tỉnh Long An cấp ngày 05/5/2017, do anh Trần Văn Đ là chủ sở hữu hợp pháp, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô biển số kiểm soát 62E1-169.26 cùng giấy tờ xe cho anh Trần Văn Đ quản lý, sử dụng, là phù hợp.
Về dân sự:
Đối với anh Trần Văn Đ nhận lại tài sản là xe mô tô biển số 62E1-169.26 và Giấy chứng nhận đăng ký xe thì không yêu cầu bồi thường gì thêm;
Đồi với anh Cao Tiến C sau khi được bị cáo T trả lại số tiền 10.700.000 đồng, thì anh C không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Trung T, Chu Đình P và H (chưa rõ nhân thân lai lịch) mà các bị cáo đã khai nhận, do không đủ cơ sở để xử lý nên không đề cập là phù hợp.
Đối với anh Cao Tiến C là người cho Nguyễn Trung T, Chu Đình P mượn tiền và để lại xe mô tô biển số 62E1-169.26 để đảm bảo, nhưng anh T không biết đây là tài sản do T và P chiếm đoạt mà có. Sau khi phát hiện thì anh C đã tự giao nộp tài sản cho Cơ quan Công an, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
Tại phiên toà, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố là đúng, các bị cáo không khai báo thêm tình tiết mới.
Các bị cáo không tranh luận, bào chữa gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột, Kiểm sát viên trong qúa trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo xét thấy:
Vào ngày 01/7/2023, Chu Đình P mượn của anh Trần Văn Đ 01 xe mô tô kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 62E1-169.26 để đi lại. Vào ngày 04/7/2023, Nguyễn Trung T mượn của Chu Đình P chiếc xe trên để đi lại nhưng sau đó nảy sinh chiếm đoạt tài sản chiếc xe mô tô trên lấy tiền tiêu xài. Tín đưa xe mô tô đến nhà anh Cao Tiến C thế chấp để vay số tiền 8000.000đồng và tiêu xài cá nhân hết. Sau khi biết T đã thế chấp xe lấy tiền tiêu xài thì Chu Đình P đồng ý và bàn bạc với Nguyễn Trung T tiếp tục mang 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 62E1-169.26 bản gốc đến thế chấp cho anh Cao Tiến C để lấy thêm tiền tiêu xài từ việc thế chấp xe trước đó. Sau đó bị cáo P và T đem 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 62E1-169.26 bản gốc thế chấp cho anh Cao Tiến C và lấy thêm số tiền 2.700.000 đồng chia nhau tiêu xài cá nhân hết. Khi anh Đ gọi điện đòi xe thì P nói đã cầm cố xe lấy tiền tiêu xài và không có tiền để chuộc rồi T và P bỏ trốn khỏi địa phương, còn anh Đ trình báo sự việc đến Cơ quan Công an. Trị giá tài sản bị cáo Nguyễn Trung T và bị cáo Chu Đình P chiếm đoạt là 11.300.000 đồng.
Như vậy hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã truy tố hành vi của bị cáo như nội dung bản cáo trạng là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Điều 175 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;”
[3] Xét tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo là công dân có đủ nhận thức và phải biết tài sản hợp pháp của người khác là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, mọi hành vi xâm hại đến tài sản của người khác đều phải bị trừng trị nghiêm minh. Nhưng do ý thức coi thường pháp luật, quyền sở hữu tài sản của người khác và muốn có tiền để tiêu xài cá nhân nên sau khi mượn xe của anh Đ thì bị cáo P và bị cáo T đã thế chấp xe và giấy chứng nhận đăng ký xe cho Cao Tiến C để lấy tiền tiêu xài. Do đó các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của các bị cáo gây ra.
Xét về nhân thân: Bị cáo Chu Đình P là người có nhân thân xấu, ngày 02/10/2015, bị Công an thị trấn Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, hình thức phạt cảnh cáo; Ngày 07/8/2023, bị Công an phường K, thành phố B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, hình thức phạt cảnh cáo và Ngày 23/01/2024, của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, xử phạt 12 tháng tù, về tội: Trộm cắp tài sản.
Đối với bị cáo Nguyễn Trung T cũng là người có nhân thân xấu, ngày 20/7/2017, bị Toà án nhân dân huyện Cư M'gar, tỉnh Đắk Lắk, xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng, về tội: Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo T và bị cáo P đều thành khẩn khai báo; phạm tội gây thiệt hại không lớn, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định các điểm h, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo T đã bồi thường cho anh C số tiền chiếm đoạt nên cần áp dụng thêm điểm b khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự; Còn đối với bị cáo P được anh Đ làm đơn bãi nãi giảm nhẹ hình phạt nên cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ nêu trên để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với các bị cáo, nhằm thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật.
Xét tính chất của vụ án, hành vi của các bị cáo như đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng trừng trị, cải tạo, giáo dục đối với các bị cáo; đồng thời đủ sức răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.
[4] Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô biển số kiểm soát 62E1-169.26; nhãn hiệu: HONDA; số loại: WINNER; màu sơn: Xanh trắng; dung tích: 149; số khung: 2601GY058097; số máy: KC26E1092735; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 009731 do Công an huyện A, tỉnh Long An cấp ngày 05/5/2017, do anh Trần Văn Đ là chủ sở hữu hợp pháp, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô biển số kiểm soát 62E1-169.26 cùng giấy tờ xe cho anh Trần Văn Đ quản lý, sử dụng là phù hợp.
Về phần dân sự: Đối với anh Trần Văn Đ đã nhận lại xe mô tô biển số 62E1-169.26 và Giấy chứng nhận đăng ký xe và không yêu cầu bồi thường gì thêm; Còn đối với anh Cao Tiến C sau khi được bị cáo T trả lại số tiền chiếm đoạt 10.700.000 đồng, thì anh C không có yêu cầu bồi thường gì thêm là phù hợp nên cần chấp nhận.
[5] Về hành vi khác:
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Nguyễn Trung T, bị cáo Chu Đình P và H (chưa rõ nhân thân lai lịch) mà các bị cáo đã khai nhận, do không đủ cơ sở để xử lý nên không đề cập là phù hợp.
Đối với anh Cao Tiến C là người cho bị cáo Nguyễn Trung T và bị cáo Chu Đình P mượn tiền và để lại xe mô tô biển số 62E1-169.26 để đảm bảo, nhưng anh C không biết đây là tài sản do T và P chiếm đoạt mà có. Sau khi phát hiện thì anh C đã tự giao nộp tài sản cho Cơ quan Công an, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh C là phù hợp.
[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trung T và bị cáo Chu Đình P phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Chu Đình P 01 năm 3 tháng tù.
Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt 01 năm tù của Bản án số 17/2024/HS-ST, ngày 23/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.
Buộc bị cáo Chu Đình P phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 02 năm 3 tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 14/11/2023.
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; các điểm b,h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T 01 năm 03 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt thi hành án.
Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về xử lý vật chứng: Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 xe mô tô biển số kiểm soát 62E1-169.26; nhãn hiệu: HONDA; số loại: WINNER; màu sơn: Xanh trắng; dung tích: 149; số khung: 2601GY058097; số máy: KC26E1092735 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 009731 do Công an huyện A, tỉnh Long An cấp ngày 05/5/2017, cho anh Trần Văn Đ là chủ sở hữu hợp pháp, nhận quản lý, sử dụng.
Về dân sự: Đối với anh Trần Văn Đ và anh Cao Tiến C không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.
Về hành vi khác: Chấp nhận Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh Cao Tiến C là người cho bị cáo Nguyễn Trung T và bị cáo Chu Đình P mượn tiền và để lại xe mô tô biển số 62E1-169.26 để đảm bảo, do anh C không biết đây là tài sản do T và P chiếm đoạt mà có.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo Nguyễn Trung T và bị cáo Chu Đình P mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
Quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Mai |
Bản án số 229/2024/HSST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 229/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trung Tín và bị cáo Chu Đình Phúc phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. - Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Chu Đình Phúc 01 năm 3 tháng tù. Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt 01 năm tù của Bản án số 17/2024/HS-ST, ngày 23/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột. Buộc bị cáo Chu Đình Phúc phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 02 năm 3 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 14/11/2023. - Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; các điểm b,h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung Tín 01 năm 03 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt thi hành án
