Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 229/2024/HS-ST

Ngày 08-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Anh Thư

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ
  2. Bà Nguyễn Thị Thu Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Tường Vy, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Tùng- Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an thành phố D công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 219/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 241/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Lê Văn V (tên gọi khác G), sinh năm 1994 tại tỉnh An Giang; thường trú: Ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 8/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; giới tính: Nam; con ông Lê Văn N, sinh năm 1965 và bà Hồ Thị L, sinh năm 1968; bị cáo có 03 anh chị em (lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 2001); tiền án: Ngày 02/12/2016, bị Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước xử phạt 07 (bảy) năm tù về tội “Cướp tài sản” theo Bản án số 49/HSST ngày 02/12/2016, đóng án phí ngày 01/8/2017, chấp hành xong hình phạt ngày 28/01/2022; tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/01/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

2. Cao Quốc V1, sinh năm 1992 tại tỉnh Khánh Hòa; thường trú: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; giới tính: Nam; con ông Cao Tấn O, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1971; bị cáo có vợ là Võ Thị Kim V2, sinh năm 1990; có 01 con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 22/01/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Người chứng kiến:

  • + Nguyễn Trung N1, sinh năm 2003; vắng mặt;
  • + Nguyễn Minh T, sinh năm 1993; vắng mặt;
  • + Thạch Nhật L1, sinh năm 2000; vắng mặt;
  • + Võ Thị Thu T1, sinh năm 1999; vắng mặt;
  • + Thạch Cầu X, sinh năm 1992; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 22/01/2024, Cao Quốc V1 đang ở phòng trọ tại địa chỉ số A, đường Đ, khu phố C, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương thì Lê Văn V đến chơi. V1 đưa cho Vào 500.000đ (năm trăm ngàn đồng) nhờ mua ma túy. Vào sử dụng điện thoại Oppo F1S gắn sim số 0937244043 đăng nhập tài khoản Zalo tên “Ae Lê G1” liên lạc qua Zalo với tài khoản tên “Ngọc T2” hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá, qua Zalo Vào gửi vị trí gần nhà V1 cho người bán ma túy để giao. Khoảng 20 phút sau người bán ma túy đến và gọi V ra lấy ma túy, V đi bộ ra hẻm gần phòng trọ của V1 gặp người bán ma túy nhận 01 gói ma túy được quấn băng keo đen bên ngoài và trả 500.000đ. Vào cầm gói ma túy bỏ vào túi quần trước đi vào phòng trọ của V1, do phòng Vũ lúc này có một số người bạn của V1 đang ngồi ăn uống nên V nói nhỏ với V1 là đã mua được ma túy. Sau đó V1 và mọi người ngồi ăn uống đến khoảng 23 giờ 00 phút cùng ngày thì Công an phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương kiểm tra hành chính. Do thấy Công an kiểm tra và sợ bị phát hiện nên V lấy gói ma túy trong túi quần ra ném xuống sàn nhà cách chỗ ngồi của Vào khoảng 50cm thì bị Công an phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong tang vật đưa tất cả về trụ sở Công an để làm việc.

Tại Bản kết luận giám định số 660/MT-PC09 ngày 30/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,5373gam.

Ngày 31/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự và Quyết định khởi tố bị can đối với Cao Quốc V1 và Lê Văn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Vật chứng thu giữ:

  • + 01 (một) gói nilon hàn kín chứa tinh thể màu trắng, bên ngoài quấn băng keo màu đen.
  • + 01 (một) điện thoại hiệu Oppo gắn sim số 0937244043 thu giữ của Lê Văn V.

Đối với người đã bán ma túy cho Lê Văn V hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương tiếp tục điều tra, xử lý sau.

Đối với Nguyễn Trung N1, Nguyễn Minh T, Thạch Nhật L1, Võ Thị Thu T1 và Thạch Cầu X ngồi nhậu tại phòng trọ của V1 và V. Quá trình điều tra, xác định các đối tượng trên không biết việc V1 và V mua ma túy và cất giấu ma túy. Vì vậy, không đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại Cáo trạng số 236/CT-VKS-DA ngày 08 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Văn V và bị cáo Lê Quốc V3 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Văn V mức hình phạt từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Cao Quốc V1 mức hình phạt từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù; về xử lý vật chứng: đề nghị tịch thu tiêu hủy đối với mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong ghi số 660/PC09 bên trong chứa M= 0,5103 gam ma túy loại Methamphetamine, là mẫu vật còn lại sau giám định; sim số 0937244043 là phương tiện dùng để liên hệ mua ma túy; tịch thu sung công quỹ Nhà nước một điện thoại hiệu Oppo.

Tại phiên tòa, các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Trong phần nói lời sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về thủ tục tố tụng:
  2. Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng không khiếu nại, tố cáo về các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

  3. Về nội dung vụ án:
  4. Căn cứ vào lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa, lời khai của người tham gia tố tụng, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, có đủ cơ sở xác định:

    Khoảng 23 giờ ngày 22/01/2024, tại phòng trọ của Cao Quốc V1 ở số A, đường Đ, khu phố C, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, Công an phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương kiểm tra hành chính phát hiện trên sàn nhà cách chỗ ngồi của Lê Văn Vào khoảng 50cm có 01 gói ma túy. Vào khai số ma túy này V1 nhờ V mua với giá 500.000₫ (năm trăm nghìn đồng), do trong phòng có các bạn đang ăn uống nên Vào giữ trong túi quần, khi thấy công an Vào sợ quá đã ném ra.

    Hành vi cất giấu ma túy của Lê Văn V và Cao Quốc V1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

  5. Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo Cao Quốc V1 và Lê Văn V thực hiện là nghiêm trọng đã xâm phạm đến công tác quản lý độc quyền của Nhà nước về kiểm soát, quản lý, sử dụng các chất ma tuý. Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo với mức án nghiêm nhằm giáo dục răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, hai bị cáo cùng bàn bạc thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo V1 là người đưa tiền cho bị cáo V đi mua ma túy. Bị cáo V có một tiền án chưa được xóa án tích nay lại phạm tội là tình tiết tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
  6. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Cao Quốc V1 không có; bị cáo Lê Văn V có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  7. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình tố tụng, các bị cáo Cao Quốc V1 và Lê Văn V thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  8. Xử lý vật chứng:
    • + Đối với mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong ghi số 660/PC09 bên trong chứa M= 0,5103 gam ma túy, loại Methamphetamine là mẫu vật còn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.
    • + Đối với 01 (một) điện thoại hiệu Oppo bị cáo V sử dụng liên hệ mua ma túy nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
    • + Đối với sim số 0937244043 là phương tiện dùng để liên hệ mua ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy.
  9. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Mức hình phạt Kiểm sát viên đề nghị đối với các bị cáo là phù hợp.
  10. Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

  • - Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 47; Điều 58 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Lê Văn V;
  • - Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47; Điều 58 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Cao Quốc V1;
  • - Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
  • - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  1. Tuyên bố các bị cáo Lê Văn V và Cao Quốc V1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
    • - Xử phạt bị cáo Lê Văn V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/01/2024.
    • - Xử phạt bị cáo Cao Quốc V1 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/01/2024.
  2. Xử lý vật chứng:
    • + Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong ghi số 660/PC09 bên trong chứa 0,5103 gam ma túy loại Methamphetamine, là mẫu vật còn lại sau giám định và sim số 0937244043.
    • + Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại hiệu Oppo.

    (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/7/2024).

  3. Về án phí hình sự sơ thẩm:
  4. Các bị cáo Lê Văn V và Cao Quốc V1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - Công an TP.Dĩ An;
  • - VKSND TP.Dĩ An;
  • - Chi cục THADS TP.Dĩ An;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, THAHS, AV.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Thị Anh Thư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 229/2024/HS-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 229/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Điểm c KHoản 1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger