Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 229/2024/DS-PT

Ngày 07/05/2024

“V/v tranh chấp về dân sự

chia thừa kế quyền sử dụng"

 


NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trung Thành

Các Thẩm phán:

Ông Lê Hồng Nước

Bà Kiều Kim Xuân

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 02/2024/TLPT-DS ngày 11 tháng 01 năm 2024, về việc “Tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 156/2023/DS-ST ngày 19 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 191/2024/QĐ-PT ngày 13 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn:

  1. Nguyễn Thị C, sinh năm: 1958;
  2. Địa chỉ: Số E, tổ D, ấp A, xã M, thành phố C, Đồng Tháp.

  3. Nguyễn Thị L, sinh năm: 1965;
  4. Địa chỉ: Số A, tổ D, ấp A, xã M, thành phố C, Đồng Tháp.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà L: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm: 1958;

Địa chỉ: Số E, tổ D, ấp A, xã M, thành phố C, Đồng Tháp.

* Bị đơn:

  1. Lê Thị L1, sinh năm 1963;
  2. Anh Nguyễn Văn N (Hiếu A), sinh năm: 1986;
  3. Anh Nguyễn Văn Hoàng H (Hiếu E), sinh năm: 1988;
  4. Chị Nguyễn Ngọc T, sinh năm: 1996;

Cùng địa chỉ: Số A, tổ D, ấp A, xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

  1. Võ Thị Đ, sinh năm: 1952;
  2. Anh Nguyễn Thanh S, sinh năm: 1987;

Cùng địa chỉ: Số B, tổ A, ấp A, xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

*Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị L là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn do bà Nguyễn Thị C trình bày:

Nguyễn Thị Ú (chết ngày 30/11/2003) và ông Nguyễn Văn M (chết ngày 25/02/1970) có 05 người con gồm: Nguyễn Văn C1 (chết ngày 22/9/2019 có vợ Võ Thị Đ, con Nguyễn Thanh S); Nguyễn Thị Đ1 (chết ngày 15/10/2010 không có chồng con); Nguyễn Thị C; Nguyễn Văn K (chết ngày 10/6/2016); Nguyễn Thị L. Khi còn sống bà Nguyễn Thị Ú có tạo lập các tài sản như sau:

  • Diện tích 1.366 m², đất LN, thuộc thửa 973, tờ bản đồ số 8.
  • Diện tích 1.156 m², đất LN, thuộc thửa 1004, tờ bản đồ số 8.
  • Diện tích 495,7 m² (gồm 200 m² đất T và 295,7 m² đất LN), thuộc thửa số 4, tờ bản đồ số 25. Các diện tích đất trên cùng tọa lạc tại xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. Nguồn gốc đất là do bà Ú khai phá từ khoảng sau năm 1975. Bà Ú có xây dựng nhà ở ổn định từ năm 1975 cho đến nay. Hiện trên đất tranh chấp có các tài sản như sau:

Một căn nhà khung gỗ, nền đất, vách lá, mái tole của bà Ú xây dựng từ năm 1975. Một căn nhà của bà L kết cấu khung gỗ, nền gạch tàu, vách tole, mái tole được xây dựng khoảng năm 1992. Các hài cốt của ông bà và cha là ông M (được bà Ú đem về sau khi khai phá đất), mộ của bà Ú (chết năm 2003), mộ của bà Đ1 (chết năm 2010), mộ của ông K (chết năm 2016). Ngoài ra, trên đất còn một số cây trồng của gia đình. Sau khi bà Ú chết, anh chị em tiếp tục quản lý, sử dụng đất và tài sản trên đất của bà để lại như đã nêu trên. Tuy nhiên, hiện nay phía vợ con của ông Nguyễn Văn K gồm bà Lê Thị L1, anh Nguyễn Văn N, anh Nguyễn Văn Hoàng H, chị Nguyễn Ngọc T tiến hành bán phần diện tích đất (Thửa đất số 973, tờ bản đồ số 8) có hài cốt, mồ mã ông bà, cha mẹ, chị ruột. Thời điểm này, bà C và bà L mới biết được ông K đã đứng tên toàn bộ diện tích đất nêu trên.

Nhận thấy, việc ông K tự đăng ký kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng toàn bộ diện tích đất của bà Ú mà không được sự đồng ý của các con bà Ú là các đồng thừa kế đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của bà C, bà L.

Nay bà C và bà L yêu cầu buộc bà Lê Thị L1, anh Nguyễn Văn N, anh Nguyễn Văn Hoàng H, chị Nguyễn Ngọc T phải chia di sản của bà Ú để lại thành 04 phần bằng nhau, cụ thể:

Yêu cầu mỗi người được nhận hiện vật là diện tích đất là 1/4 diện tích đo đạc thực tế 1.153,2m2 thuộc thửa 4 tờ bản đồ số 8 và thửa 1004 diện tích 474,7m2 tờ bản đồ số 25, tọa lạc tại xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. Giấy chứng nhận QSDĐ do hộ ông Nguyễn Văn K đứng tên ngày 24/4/2003.

Đối với căn nhà của bà Nguyễn Thị L thì bà L yêu cầu được nhận diện tích đất có căn nhà của bà đang ở. Bà L đồng ý trả cho các đồng thừa kế giá trị diện tích đất chênh lệch so với diện tích đất được chia (nếu có).

Đối với căn nhà của bà Ú thì không yêu cầu chia, đồng ý để cho vợ con của ông K sở hữu để làm nơi thờ cúng cha mẹ.

Đối với cây trồng trên đất, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Thửa đất số 973, tờ bản đồ số 8 đã chuyển nhượng cho người khác nên bà C và bà L rút cầu (không yêu cầu chia thừa kế) đối với thửa đất này.

- Bà Lê Thị L1, anh Nguyễn Văn N, chị Nguyễn Ngọc T và anh Nguyễn Văn Hoàng H cùng trình bày:

Ông Nguyễn Văn K chết vào năm 2016; hàng thừa kế thứ nhất của ông K gồm: Vợ: Bà Lê Thị L1, sinh năm 1963; Con: Anh Nguyễn Văn N (Hiếu A), sinh năm 1986; Anh Nguyễn Văn Hoàng H (Hiếu E), sinh năm 1988; Chị Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1996; Cha và mẹ ông K đã chết; Ngoài ra ông K không còn người thừa kế thứ nhất nào khác.

Ông K sống chung và sử dụng đất cùng với bà Ú đến năm 1999 được sự đồng ý của bà Ú và các anh chị em ông K đã kê khai đăng ký quyền sử dụng đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2000 đối với các thửa đất tranh chấp.

Quyền sử dụng đất thửa số 1004 tờ bản đồ số 8 và thửa số 4, tờ bản đồ số 25, tọa lạc tại ấp A, xã M, thành phố C, Đồng Tháp hộ ông K được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng lần đầu năm 2000, cấp đổi năm 2003; Thành viên trong hộ của ông K tại thời điểm cấp, đổi giấy chỉ có: Ông Nguyễn Văn K; bà Lê Thị L1, anh Nguyễn Văn N và anh Nguyễn Văn Hoàng H và chị Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1996; Quyền sử dụng đất thửa số 1004 và thửa số 4, cùng tờ bản đồ số 25, tọa lạc tại ấp A, xã M, thành phố C, Đồng Tháp hiện không thế chấp cho ai.

Đối với yêu cầu của các nguyên đơn thì bà Lê Thị L1, anh Nguyễn Văn N và anh Nguyễn Văn Hoàng H và chị Nguyễn Ngọc T không đồng ý; Tuy nhiên, bà Lê Thị L1, anh Nguyễn Văn N và anh Nguyễn Văn Hoàng H và chị Nguyễn Ngọc T đồng ý cho bà Nguyễn Thị L được sử dụng diện tích đất trên thửa đất tranh chấp theo giấy thỏa thuận ngày 23/01/2022.

* Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 156/2023/DS-ST ngày 19 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh đã tuyên xử:

Đình chỉ xét xử yêu cầu của nguyên đơn về việc chia thừa kế đối với thửa đất số 973, tờ bản đồ số 8.

Không chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của các nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị C và bà Nguyễn Thị L đối với việc yêu cầu chia thừa kế và nhận ¼ diện tích đất 1.153,2m² thuộc thửa 1004 tờ bản đồ số 8 và diện tích 474,7m² thửa 04 tờ bản đồ số 25, tọa lạc tại xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

- Chấp nhận sự tự nguyện của các bị đơn: Bà Nguyễn Thị L được sử dụng diện tích 56,3m², trong phạm vi các mốc C, 11, D, N, M, C; Đất trồng cây lâu năm, thuộc một phần thửa 1004, tờ bản đồ số 8 tọa lạc tại xã M, thành phố C.

Kèm theo bản đồ đo đạc ngày 18/10/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C.

Giá trị cây trồng, tài sản trên đất và diện tích đất 409,4m² chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không xem xét giải quyết.

Các đương sự được đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh và đăng ký quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản mình được sở hữu, sử dụng và chịu trách nhiệm nộp các khoản thu theo quy định pháp luật.

- Án phí sơ thẩm:

C và bà L được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Bị đơn không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.

- Về chi phí tố tụng là xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:

Tổng cộng là 9.355.690 đồng nguyên đơn phải chịu (nguyên đơn đã nộp và chi xong).

Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền kháng cáo và thi hành án.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

Ngày 30 tháng 10 năm 2023, bà Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị L kháng cáo đối với bản án sơ thẩm số 156/2023/DS-ST ngày 19/10/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Bà C, bà L yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị L chia thừa kế đối với diện tích 1.153,2m², thuộc thửa số 1004, tờ bản đồ số 08 và diện tích 474,7m², thửa 04, tờ bản đồ số 25, đất tọa lạc tại xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị L trình bày: Bà C, bà L không đồng ý với án sơ thẩm nhận định mẹ là bà Nguyễn Thị Ú không còn di sản là quyền sử dụng đất là không đúng. Bời vì, đất tranh chấp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Văn K vào năm 2000. Thời điểm này, bà Nguyễn Thị Ú vẫn còn sống. Cấp sơ thẩm tuyên bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà C, bà L về việc chia thừa kế đối với di sản của mẹ bà Nguyễn Thị Ú chết để lại, làm thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà C, bà L. Do đó, bà C, bà L kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C, bà L là chia thừa kế đối với di sản của bà Nguyễn Thị Ú chết để lại, gồm:

Thửa số 1004, tờ bản đồ số 08, đo đạc thực tế diện tích 1.153,2m²; Thửa số 04, tờ bản đồ số 25, đo đạc thực tế diện tích 474,7m², đất tọa lạc tại xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án đảm bảo chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị L, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, được kiểm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị L đúng về hình thức, nội dung được nộp trong hạn luật định nên kháng cáo của bà C, bà L được Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Chị Nguyễn Ngọc T và bà Võ Thị Đ, anh Nguyễn Thanh S là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được tống đạt hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Xét thấy, việc vắng mặt của đương sự nêu trên không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ vào khoản 3 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đương sự trên.

[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị L, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[2.1] Về nguồn gốc đất:

Các đương sự đều thừa nhận: Diện tích đất tranh chấp theo đo đạc thực tế là 474,7m² thửa số 4, tờ bản đồ số 25 và 1.153,2m² thửa 1004, tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại xã M, thành phố C đã được cấp Giấy CNQSD đất ngày 24/4/2003. Đối với diện tích 409,4m² trong các mốc 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 14, 1 được cơ quan Văn phòng đăng ký QSD đất thành phố C xác định chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Nguồn gốc diện tích đất tranh chấp các đương sự xác định là của cha mẹ là bà Nguyễn Thị Ú (chết ngày 30/11/2003) và ông Nguyễn Văn M (chết ngày 25/02/1970). Ông M và bà Ú có 05 nguời con gồm: ông Nguyễn Văn C1 (chết ngày 22/9/2019); bà Nguyễn Thị Đ1 (chết ngày 15/10/2010 không có chồng con); bà Nguyễn Thị C; ông Nguyễn Văn K (chết ngày 10/6/2016); bà Nguyễn Thị L. Ông M và bà Ú chưa được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Năm 1999 ông K đi kê khai xin được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến ngày 28/01/2000 thì hộ ông K được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm các thửa như sau: Thửa 2528 diện tích 200m²; Thửa 3779 diện tích 1.609m²; Thửa 2530 diện tích 783m²; Thửa 2531 diện tích 578m² tờ bản đồ số 01. Sau đó, hộ ông K được cấp đổi lại Giấy CNQSD đất ngày 24/4/2003 với số thửa như sau: Thửa 1004 diện tích 1.156m²; Thửa 973 diện tích 1.366m² tờ bản đồ số 08; Thửa 04 diện tích 495,7m² tờ bản đồ số 25.

Theo hồ sơ đăng ký thể hiện: Đơn đăng ký quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn K ngày 29/12/1999 thể hiện “đất của bà Nguyên Thị Ú1 cho con tên Nguyễn Văn K sử dụng từ 1980 cho đến nay” (BL 77). Khi hộ ông Nguyễn Văn K được cấp giấy CN.QSDĐ vào ngày 28/01/2000, theo giấy CN.QSDĐ gồm: thửa 2528, diện tích 200m², đất thổ; thửa 3779, diện tích 1609, đất LN; thửa 2530, diện tích 783, đất LN, thửa 2531, diện tích 578, đất LN (BL 78); Tuy nhiên, bà Ú1 còn sống và sống chung với hộ ông K, nhưng bà Ú1 không có ý kiến phản đối thể hiện ý chí của bà Ú1 đã đồng ý tặng cho phần đất trên cho ông K. Đồng thời, bà C cũng thừa nhận bà C cùng với bà Ú1 và bà L, ông C1 đều ký tên để ông K đi đăng ký quyền sử dụng đất. Trong thời gian ông K đi kê khai đăng ký quyền sử dụng đất thì không có ai tranh chấp, khiếu nại nên việc UBND thị xã C (nay là thành phố C) đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông K như đã nêu trên và trình tự thủ tục cấp Giấy CNQSD đất được thực hiện đúng quy định pháp luật.

Theo Công văn số: 294/CNVPĐKĐĐTPCL-KTĐC ngày 03/02/2023 và công văn số: 4136 CNVPĐKĐĐTPCL-KTĐC ngày 03/10/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C xác định diện tích đất tranh chấp đã được cấp giấy cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Văn K.

Theo lời thừa nhận của các đương sự nêu trên, tại thời điểm kê khai đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông K được sự đồng ý của các đồng thừa kế là bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn C1 và bà Nguyễn Thị Ú thể hiện tại đơn xác nhận ngày 18/8/1999 với nội dung “...đồng ý giao cho Nguyễn Văn K thừa hưởng để Nguyễn Văn K đăng ký cấp QSD Đ...”(BL 172). Bà C xác định có ký tên văn bản xác nhận trên, do ông K yêu cầu ký tại UBND xã M mặc dù bà C biết chữ nhưng không đọc vì nghĩ là ký tên để ông K đứng tên kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thay cho cha mẹ chứ cha mẹ chưa chia đất. Tuy nhiên, căn cứ phân tích chứng cứ nêu trên thì lời trình bày của bà C là chưa phù hợp.

[3] Tại phiên tòa phúc thẩm bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị L không có chứng cứ nào khác chứng minh việc ông Nguyễn Văn K đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tranh chấp vào năm 2000 chỉ là đại diện cho bà Ú như đã trình bày.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị L là có căn cứ.

[4] Đối với diện tích bà Nguyễn Thị L sử dụng: Các đương sự thừa nhận bà L có xây nhà ở trên đất từ khi bà Ú còn sống (2003) và ở cho đến nay. Theo Giấy tặng cho quyền sử dụng đất ngày 23/01/2022 có chữ ký của bà Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị L, Lê Thị L1, Võ Thị Đ, Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn H, Nguyễn Ngọc T cùng ký tên đồng ý cho bà L được sử dụng diện tích 56,25m² nay các bị đơn đồng ý tiếp tục đồng ý cho bà L sử dụng diện tích đất này (Theo diện tích thực tế đo đạc là 56,3m²) đây là sự tự nguyện của các bị đơn có lợi cho nguyên đơn nên chấp nhận.

[5] Từ những phân tích như trên, Hội đồng xét xử xét thấy không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị C và bà Nguyễn Thị L, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Tuy nhiên cần sửa lại cách tuyên án để đảm bảo tính khả khi trong giai đoạn thi hành án.

[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp là phù hợp nên chấp nhận.

Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết hạn kháng cáo kháng nghị.

Do giữ nguyên bản án sơ thẩm, nên bà Nguyễn Thị C và bà Nguyễn Thị L phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm theo khoản 1 Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bà C, bà L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Do thuộc trường hợp người cao tuổi.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 148; khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ Điều 95, Điều 99, Điều 100, Điều 166, Điều 167, Điều 168, Điều 170, Điều 203 Luật đất đai.

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 7 Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  • Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị C và bà Nguyễn Thị L.
  • Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 156/2023/DS–ST ngày 19/10/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Đình chỉ xét xử yêu cầu của nguyên đơn về việc chia thừa kế đối với thửa đất số 973, tờ bản đồ số 8.

Không chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của các nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị C và bà Nguyễn Thị L đối với việc yêu cầu chia thừa kế và nhận ¼ diện tích đất 1.153,2m² thuộc thửa 1004 tờ bản đồ số 8 và diện tích 474,7m² thửa 04 tờ bản đồ số 25, tọa lạc tại xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Chấp nhận sự tự nguyên của các bị đơn: Bà Nguyễn Thị L được sử dụng diện tích 56,3m², trong phạm vi các mốc C, 11, D, N, M, C; Đất trồng cây lâu năm, thuộc một phần thửa 1004, tờ bản đồ số 8 tọa lạc tại xã M, thành phố C.

Kèm theo bản đồ đo đạc ngày 18/10/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C.

Giá trị cây trồng, tài sản trên đất và diện tích đất 409,4m² chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không xem xét giải quyết.

Các đương sự được đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh và đăng ký quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản mình được sở hữu, sử dụng và chịu trách nhiệm nộp các khoản chi phí lệ phí theo quy định pháp luật (khi có đủ điều kiện theo qui định).

- Về án phí dân sự sơ thẩm:

Nguyễn Thị C và bà Nguyễn Thị L được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Bị đơn Lê Thị L1 không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.

- Về chi phí tố tụng là xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:

Tổng cộng là 9.355.690 đồng nguyên đơn phải chịu (nguyên đơn đã nộp và chi xong).

- Về án phí dân sự phúc thẩm:

Nguyễn Thị C và bà Nguyễn Thị L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Do thuộc trường hợp người cao tuổi.

Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND Tỉnh;
  • - TAND thành phố Cao Lãnh;
  • - CCTHADS thành phố Cao Lãnh;
  • - Phòng KTNV-THA TA Tỉnh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án (T).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Trần Trung Thành

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 229/2024/DS-PT ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 229/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Ch và bà L khởi kiện yêu cầu chia thừa kế quyền sử dụng đất thửa 1004 và thửa 04, chia làm 4 phần bằng nhau.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger