Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 229/2024/HS-PT

Ngày: 05-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh.

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Mỹ.

Bà Nguyễn Thị Võ Trinh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Châu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Trí - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 186/2024/TLPT-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Lê Bi Đ. Do có kháng cáo của bị cáo Lê Bi Đ đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 32/2024/HS-ST ngày 02 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.

Bị cáo có kháng cáo: Lê Bi Đ, sinh ngày 01/01/1985; Giới tính: Nam; Nơi sinh: An Giang; Nơi cư trú: Ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 07/12; Con ông Lê Văn K, sinh năm 1953 và bà Triệu Thị Đ1, sinh năm 1958; vợ tên Đoàn Thị Ngọc L, sinh năm 1990; Có 02 người con, lớn sinh năm 2014 và nhỏ sinh năm 2019; Tiền sự, tiền án: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không; bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

Trong vụ án còn có bị hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Lê Bi Đ có giấy phép lái xe hạng C và làm nghề chở hàng thuê. Rạng sáng ngày 07/10/2023, bị cáo Bi Đ điều khiển xe ô tô tải biển số 67H-032.37 đi từ thành phố Hồ Chí Minh đến huyện C, tỉnh An Giang để giao hàng.

Đến khoảng 05 giờ cùng ngày, khi lưu thông trên tuyến đường H theo hướng thị trấn M đi Chợ Đường T, đến đoạn đường tại Km 2313+400 thuộc ấp M, xã M do không chú ý quan sát nên đã không kịp thời phát hiện được xe ô tô chở rác thải sinh hoạt mang biển số 66C-042.73 do anh Nguyễn Minh Đ2 điều khiển, đang dừng sát lề đường bên phải cùng chiều, phía trước. Thời điểm này, anh Trần Văn N đang đứng phía sau bên trái xe biển số 66C-042.73 để thu gom rác bỏ lên thùng xe. Từ việc thiếu chú ý quan sát, dẫn đến phần phía trước, bên phải xe ô tô tải biển số 67H-032.37 do bị cáo Bi Đ điều khiển đụng trúng vào phần phía sau, bên trái xe ô tô chở rác nơi anh N đang đứng. Hậu quả anh N bị thương nặng được đưa đến cấp cứu tại Bệnh viên Đa khoa Đ, sau đó chuyển đến Bệnh viện C điều trị; hai xe bị hư hỏng.

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định, đoạn đường xảy ra tai nạn có tầm nhìn thông thoáng, không hạn chế, mặt đường rộng 6,4m và có vạch kẻ tim đường. Lấy mép đường chuẩn là hướng bên phải từ thị trấn M đi chợ Đ3, xác định tâm vùng va chạm cách mép đường chuẩn 2,4m.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 72/KLTTCT-TTPYĐT ngày 12/01/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận đối với Trần Văn N như sau: Sẹo tạo mỏm cụt 1/3 giữa đùi phải, kích thước lớn; sẹo vết thương phần mềm mu bàn chân trái đến lòng bàn chân trái, kích thước lớn; 02 sẹo đinh cố định ngoài mu bàn chân trái, kích thước nhỏ; cụt 1/3 giữa đùi phải; mất xương bàn và các đốt ngón I, II bàn chân trái; gãy ngón III bàn chân trái. Xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Văn N tại thời điểm giám định là 74%.

Kết quả kiểm tra nồng độ trong khí thở của bị cáo Lê Bi Đ tại thời điểm xảy ra tai nạn không phát hiện nồng độ cồn trong khí thở.

Về vật chứng, quá trình điều tra đã thu giữ và xử lý bằng hình thức trao trả cho chủ sở hữu, cụ thể như sau:

  • - Thu giữ 01 xe ô tô tải biển số 67H-032.37, giấy chứng nhận kiểm định xe của bị cáo Lê Bi Đ, hiện đã trả cho bị cáo.
  • - Thu giữ 01 xe ô tô chở rác biển số 67H-032.37, giấy đăng ký xe và giấy kiểm định xe Công ty Cổ phần C1. Hiện đã trả cho chủ sở hữu.
  • - Thu giữ 01 giấy phép lái xe hạng C của anh Nguyễn Minh Đ2. Hiện đã trao trả lại cho anh Đ2.
  • - Thu giữ 01 giấy phép lái xe hạng C của bị cáo Lê Bi Đ.
  • - Thu giữ 01 đĩa DVD chứa đoạn video ghi lại diễn biến vụ tai nạn do camera giám sát tại hiện trường ghi lại.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lê Bi Đ và anh Trần Văn N thống nhất thỏa thuận số tiền bồi thường thiệt hại là 200.000.000 đồng. Các bên đã giao nhận tiền xong, không ai có yêu cầu gì khác. Đối với xe chở rác bị hư hỏng, đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần C1 yêu cầu bị cáo chi trả số tiền sửa chữa là 21.900.000 đồng. Bị cáo đồng ý và bồi thường xong.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 32/2024/HS-ST ngày 02 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp đã quyết định:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Bi Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Bi Đ 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 15 tháng 7 năm 2024, bị cáo Lê Bi Đ có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm: Hành vi của bị cáo Lê Bi Đ bị Tòa án cấp sơ thẩm quy kết về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Sau khi án sơ thẩm tuyên, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo có cung cấp các tình tiết mới như bị cáo là lao động chính trong gia đình để nuôi cha mẹ già và hai con nhỏ; bị cáo có hỗ trợ thêm cho bị hại 40.000.000 đồng; bị hại tiếp tục có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tuy nhiên, xét mức hình phạt mà án sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với tính chất mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết mà bị cáo mới cung cấp cũng không phải là điều kiện để cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Bi Đ. Giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Lê Bi Đ.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa bị cáo Lê Bi Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng cùng các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 05 giờ ngày 07/10/2023, Lê Bi Đ điều khiển xe ô tô tải biển số 67H-032.37 lưu thông trên tuyến đường H theo hướng thị trấn M đi chợ Đ3. Khi đến Km 2313+400 thuộc ấp M, xã M, do không chú ý quan sát, nên phần phía trước, bên phải xe ô tô tải biển số 67H-032.37 do bị cáo Bi Đ điều khiển đụng trúng vào phần phía sau, bên trái xe ô tô chở rác nơi anh N đang đứng để thu gom rác bỏ lên thùng xe. Hậu quả làm anh Trần Văn N đang đứng phía sau bên trái xe rác bị thương nặng ở hai chân với tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 74%.

[2] Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo điều khiển xe ô tô tải là nguồn nguy hiểm cao độ. Do bị cáo không chú ý quan sát nên đã điều khiển xe đụng trúng vào phần phía sau, bên trái xe ô tô chở rác nơi anh N đang đứng để thu gom rác. Hậu quả là làm cho bị hại Trần Văn N1 bị tổn thương cơ thể với tỷ lệ thương tật tại thời điểm giám định là 74%. Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn giao thông đường bộ ở địa phương, đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lê Bi Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Sau khi án sơ thẩm tuyên, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo có cung cấp các tình tiết mới như bị cáo là lao động chính trong gia đình để nuôi cha mẹ già và hai con nhỏ; bị cáo có hỗ trợ thêm cho bị hại số tiền 40.000.000 đồng; bị hại tiếp tục có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà cấp sơ thẩm chưa xem xét cho bị cáo. Tuy nhiên, xét mức hình phạt 01 năm tù mà án sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với tính chất mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Cấp sơ thẩm đã có xem xét về nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và đã áp dụng mức hình phạt đầu khung. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo mới cung cấp cũng không phải là điều kiện để cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Bi Đ, giữ nguyên phần Quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.

[4] Xét lời phát biểu của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo Lê Bi Đ là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Do kháng cáo của bị cáo Lê Bi Đ không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự.
  2. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Bi Đ. Giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt chính đối với bị cáo Lê Bi Đ.

  3. Tuyên bố bị cáo Lê Bi Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  4. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Lê Bi Đ 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

  5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  6. Bị cáo Lê Bi Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

  7. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDTC (Vụ GĐKT 1);
  • - VKSND Tỉnh;
  • - Ban nội chính Tỉnh ủy;
  • - Sở Tư pháp Tỉnh;
  • - Cơ quan THAHS Công an Tỉnh;
  • - Trại tạm giam Công an Tỉnh;
  • - TAND huyện Tháp Mười (05 bản);
  • - VKSND huyện Tháp Mười;
  • - Chi cục THADS huyện Tháp Mười;
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện Tháp Mười;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Tháp Mười;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CAT;
  • - Phòng KTNV-THA Tòa án Tỉnh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu VT, HSVA (Châu).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Lê Khắc Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 229/2024/HS-PT ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 229/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger