|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 229/2025/DS-PT Ngày: 26 - 3 - 2025 V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Tám
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Hùng
Bà Bùi Thị Thu
- Thư ký phiên tòa: Bà Ức Minh Thanh Thuý, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Long - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 1073/2024/TLPT-DS ngày 20 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 1654/2022/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1158/2025/QĐXXPT ngày 28 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị B (Bay Thi Do), sinh năm 1940; Quốc tịch: Hoa Kỳ. Cư trú tại Hoa Kỳ. Hộ chiếu số: [...].
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Thái Thị M, sinh năm 1964. Địa chỉ: Số D đường H, Khu phố A, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
Bị đơn: Ông Lại Tấn V, sinh năm 1958. Địa chỉ: D ấp A xã A, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Thái Thị M, sinh năm 1964. Địa chỉ: Số D đường H, Khu phố A, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
- Bà Huỳnh Thị S, sinh năm 1970 (xin vắng mặt)
- Ông Lại Tấn T, sinh năm 1998 (xin vắng mặt)
- Trẻ Lại Trung K, sinh năm 2005
Người đại diện theo pháp luật của trẻ K: Ông Lại Tấn V (có mặt) và bà Huỳnh Thị S (xin vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Số D ấp A xã A, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người kháng cáo: Bà Đỗ Thị B, bà Thái Thị M.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, đơn xác định yêu cầu khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Đỗ Thị B (Bay Thi D) có bà Thái Thị M là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Phần diện tích đất 33,4m² thuộc thửa số 12 tờ bản đồ thứ 1 bộ địa chính xã A, huyện B (theo tài liệu 02/CT-UB) tọa lạc tại địa chỉ số D ấp A xã A, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Bản đồ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở T2 lập ngày 10/01/2020 có nguồn gốc là của bà Đỗ Thị B được ủy ban nhân dân xã A xác nhận bằng căn cứ pháp lý. Bà Đỗ Thị B được xác nhận ngày 25/8/1975 là chủ sở hữu căn nhà số C có phần đất còn trống liền kề với nhà khoảng 400m². Nhà và đất do bà B trực tiếp quản lý từ trước năm 1975 đến tháng 6/1983.
Vì sức khỏe nên bà B đi nước ngoài để trị bệnh trước khi đi nước ngoài bà có nhờ người cháu ruột gọi bằng dì tên Nguyễn Hữu N có nhà và đất liền kề giữ giùm, hết bệnh trở về bà B canh tác tiếp, ông N đồng ý.
Bà B đi được một hai tháng sau đó ông Trần Văn L là cán bộ chức vụ là Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B đến đuổi con trai út của bà B ra đường, còn phần đất trống khoảng 400m² ông cán bộ Trần Văn V1 chức vụ là Phó thanh tra huyện B chiếm đất trống hết 350m² cất nhà ở còn lại diện tích đất 33,4m² ông Lại Tấn V chiếm đất cất nhà ở và làm chủ kinh doanh. Thấy ông V chiếm đất nên ông N bảo với ông V rằng “Đất này của B nhờ giữ dùm” nhưng ông V trả lời “Thấy đất trống ông ở tạm khi nào chủ đất về ông sẽ trả lại” điều này được ông N xác nhận bằng văn bản.
Trước đây nhiều lần bà B về nước để gặp ông V thương lượng xin lại hoặc bằng giá trị nhưng ông V không đồng ý với lý do ông cất nhà ở lâu. Việc gặp gỡ thương lượng giữa bà B với ông V có trình đến Ủy ban nhân dân xã cùng một số người dân ở nhà đất liền kề và tổ trưởng cũng biết. Hiện nay diện tích đất trên được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo quyết định số 865 ngày 16/11/1996 thuộc dự án khu E.
Nguyên đơn yêu cầu ông Lại Tấn V trả lại phần diện tích đất 33,4m2 thuộc thửa đất số 12 tờ bản đồ thứ 1 bộ địa chính xã A, huyện B (theo tài liệu 02/CT-UB) tọa lạc tại địa chỉ số D ấp A xã A, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Bản đồ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở T2 lập ngày 10/01/2020.
Bà thống nhất với giá trị của phần nhà đất tranh chấp là 719.833.000 đồng theo Chứng thư thẩm định giá số 2021046.IVC-CT ngày 08/6/2021 của Công ty Cổ phần Đ1.
Trong quá trình giải quyết vụ án, tại các bản tự khai, biên bản hòa giải bị đơn ông Lại Tấn V trình bày:
Phần diện tích đất 33,4m² thuộc thửa đất số 12 tờ bản đồ thứ 1 bộ địa chính xã A, huyện B (theo tài liệu 02/CT-UB) tọa lạc tại địa chỉ số D ấp A xã A, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh gia đình ông đang quản lý sử dụng có nguồn gốc của ông Nguyễn Hùng Đ cất chòi sửa xe năm 1980 đến năm 1982 thì cưới em gái tôi là Lại Thị Minh C. Đến năm 1991, ông Đ và bà C cùng đi xuất cảnh Hoa Kỳ nên để lại cho ba ông là Lại Tấn L1 ở. Năm 1996, ba tôi qua Hoa Kỳ để lại đất cho má ông là bà Huỳnh Thị T1 ở và sau đó má tôi đã quản lý sử dụng từ năm 1996.
Gia đình ông cũng về nhà đất trên ở từ khoảng năm 1996, đến năm 2007 thì má ông cho ông nhà đất này. Từ đó đến nay ông quản lý sử dụng ổn dịnh, và cũng đã được Ủy ban nhân dân huyện B cấp số nhà đứng tên ông.
Căn nhà hiện nay có ông đứng hộ khẩu và 3 nhân khẩu tạm trú gồm vợ là bà Huỳnh Thị S, sinh năm 1970 cùng các con là Lại Tấn T, sinh năm 1998 và Lại Trung K, sinh năm 2005.
Phần diện tích đất thực tế chỉ 22m² phần thừa ra là do ông xây thêm để bán quán chứ không được công nhận do đó là mặt đường của Nhà nước. Phần nhà đất này nằm trong Dự án nâng cấp mở rộng Quốc lộ I (đoạn nút giao thông Bình Thuận) và dự án khu E Thành phố. Hiện nay chưa có phương án bồi thường.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông không đồng ý. Và không đồng ý với yêu cầu độc lập của bà Thái Thị M về việc yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất trên.
Ông không có ý kiến gì với giá trị của phần nhà đất tranh chấp là 719.833.000 đồng theo Chứng thư thẩm định giá số 2021046.IVC-CT ngày 08/6/2021 của Công ty Cổ phần Đ1.
Theo đơn yêu cầu độc lập và tại các bản tự khai, biên bản hòa giải người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Thái Thị M trình bày:
Năm 1983, bà mua một số nhà đất trong đó có một phần thửa số 12-TBĐ số 01 có diện tích 33,4m² (theo TL-02 CT/UB) cùng tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh của bà Đỗ Thị B bằng tổng số tiền: 17.060.000 đồng. Việc giao dịch mua bán nhà đất giữa bà với bà B thể hiện bằng văn bản bán đút nhà đất năm 1983 có bà Tô Ánh N1 người mỗi giới, ông Nguyễn Hữu N cháu gọi bà B bằng dì ruột ký tên làm chứng.
Năm 2018 bà B về Việt Nam tái xác nhận lại việc mua bán nhà đất, có nhận đủ tiền 17.060.000 đồng bằng văn bản cam kết đề ngày 09/4/2018 thể hiện việc mua bán được chấm dứt không còn liên quan.
Đồng thời, bà có đơn yêu cầu giám định văn bản bán đứt nhà đất năm 1983, sau đó có kết luận giám định số 574/C09B ngày của Phân Viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận về chữ viết, chữ tên bà Đỗ Thị B.
Do đó, bà đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu độc lập cụ thể yêu cầu Tòa án công nhận quyền sở hữu của bà đối với phần diện tích đất là 33,4m² thuộc thửa đất số 12 tờ bản đồ thứ 1 bộ địa chính xã A, huyện B (theo tài liệu 02/CT-UB) tọa lạc tại địa chỉ số D ấp A xã A, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Bản đồ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở T2 lập ngày 10/01/2020 do bà Đỗ Thị B đã có giấy bán đứt nhà đất ngày 15/5/1983 và Giấy cam kết (tái xác nhận) ngày 09/4/2014 cho bà.
Bà đồng ý với giá trị của phần nhà đất tranh chấp là 719.833.000 đồng theo Chứng thư thẩm định giá số 2021046.IVC-CT ngày 08/6/2021 của Công ty Cổ phần Đ1.
Tại Bản tự khai ngày 20/7/2020, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị S trình bày: Bà là vợ của ông Lại Tấn V, hiện nay bà cùng chồng là ông V và các con gồm Lại Tấn T, Lại Trung K đang sống tại nhà đất số D ấp A xã A, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Việc tranh chấp của bà B với ông V về phần nhà đất gia đình bà đang cư trú bà không đồng ý. Bà thống nhất với toàn bộ nội dung trình bày của chồng ông Lại Tấn V.
Bà xin vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc, hòa giải cũng như xét xử vụ án trên tại Tòa án.
Tại Bản tự khai ngày 20/7/2020, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lại Tấn T trình bày: Ông là con của ông Lại Tấn V, hiện nay ông cùng gia đình đang sống tại nhà đất số D ấp A xã A, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Việc tranh chấp của bà B với ông V về phần nhà đất gia đình ông đang cư trú ông không đồng ý. Ông thống nhất với toàn bộ nội dung trình bày của cha là ông Lại Tấn V.
Ông xin vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc, hòa giải cũng như xét xử vụ án trên tại Tòa án.
Tại Đơn trình bày ngày 23/3/2021, Người làm chứng ông Nguyễn Hữu N trình bày: Trước năm 1975, bà Đỗ Thị B có sở hữu một số tài sản là nhà đất cùng tọa lạc tại ấp E (nay là ấp A, xã A, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh trong đó có phần đất trống khoảng 50m² mà ông V đang quản lý sử dụng. Đến năm 1983 do bệnh nặng cần phải đi điều trị ở nước ngoài nên bà B có gửi lại tất cả nhà đất nêu trên để ông giữ dùm. Do bà B là dì ruột của ông nên ông nhận lời để dì được an tâm điều trị bệnh. Bà B đi được vài tuần thì tất cả nhà của bà bị các ông bà cậy chức quyền đang công tác (tại thời điểm năm 1983) đến chiếm dụng trong đó phần đất trống khoảng 50m² người chiếm dụng là ông Lại Tấn V.
Có một, hai lần vào những năm trước đây bà B có đến gặp lại các ông bà này để thương thuyết việc lấn chiếm nhà đất nêu trên nhưng không thành. Ông cam kết tất cả nhà đất nêu trên là ông có nhận giữ dùm bà B và chứng kiến việc nhà đất này bị chiếm dụng là đúng sự thật. Đồng thời tại thời điểm nhà đất bị chiếm dụng ông có ngăn cản, phản ứng bằng lời nói nhưng không được chấp nhận. Ông xác định là người giữ dùm nhà đất và chứng kiến nhà đất của dì B tôi bị chiếm dụng là đúng sự thật.
Ông xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và xét xử vụ án trên tại các cấp Tòa án.
Tại Đơn trình bày ngày 02/12/2021, Người làm chứng bà Tô Ánh N1 trình bày:
Năm 1983, qua người quen tôi biết bà Đỗ Thị B cần bán một số nhà đất tại ấp E (nay là ấp A), xã A, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh nên bà có giới thiệu bà Thái Thị M đến gặp bà Đỗ Thị B để coi nhà đất đó. Sau khi gặp nhau hai bên thương lượng thống nhất bà B đồng ý bán đứt cho bà M số nhà đất bằng tổng số tiền 17.060.000 đồng trong đó bao gồm: 01/ Căn nhà số: 97 ấp E (nay là số: 38A/2); 02/ Phần đất trống khoảng 50m²; 03/ Phần đất trống khoảng 350m (cả hai phần đất trống này có vị trí liền kề xác nhận số: 38A/2); 04/ Thửa đất số: 11 - diện tích 5.485m²; 05/ Thửa đất số: 20 – diện tích 1.650m. Bà M đồng ý mua dứt số nhà đất nêu trên của bà B bằng tổng số tiền là 17.060.000 đồng và trả đủ cho bà B có sự chứng kiến của ông Nguyễn Hữu N cháu gọi bà B bằng dì ruột. Bà cùng ký tên để làm chứng.
Sau đó bên bà M có trả cho tôi số tiền là 500.000 đồng gọi là tiền dịch vụ (giới thiệu) mua bán nhà đất. Năm 2018, bà B có tái xác nhận lại lần 2 về việc bán đứt nhà đất nêu trên cho bà M, có nhận đủ số tiền 17.060.000 đồng. Bằng văn bản cam kết bà B đề nghị xác nhận chữ ký tên, dấu lăn tay của bà B nhưng chính quyền địa phương không chấp nhận lý do nhà đất đang tranh chấp. Do đó giữa bà B, bà M đề nghị ông Nguyễn Hữu N và tôi cùng ký tên để chứng kiến việc bà B tự ký tên, tự lăn tay vào tờ cam kết ngày 09/4/2018 là đúng. Đồng thời bà B có yêu cầu giám định chữ ký tên, dấu lăn tay theo tờ cam kết đề ngày 09/4/2018 là chính của bà B khi cần thiết. Để bảo vệ quyền lợi lợi ích hợp pháp giữa bà B, bà M, sự công bằng cũng như đạo đức của người giới thiệu, chứng kiến việc mua bán nhà đất giữa hai bà vào năm 1983. Bà xác nhận có giới thiệu, chứng kiến việc mua bán nhà đất giữa bà Đỗ Thị B và bà Thái Thị M vào năm 1983 là đúng sự thật với tư cách người có liên quan trọng vụ án.
Bà xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và xét xử vụ án trên tại các cấp Tòa án.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 1654/2022/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2022, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 38, khoản 1 Điều 147; Điều 227; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 115, Điều 155 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 100 và Điều 203 Luật đất đai năm 2013;
Căn cứ Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ;
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị B.
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Thái Thị M.
Yêu cầu ông Lại Tấn V trả lại phần diện tích đất 33,4m² thuộc thửa đất số 12 tờ bản đồ thứ 1 bộ địa chính xã A, huyện B (theo tài liệu 02/CT-UB) tọa lạc tại địa chỉ số D ấp A xã A, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Bản đồ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở T2 lập ngày 10/01/2020.
Yêu cầu Tòa án công nhận quyền sở hữu của bà đối với phần diện tích đất là 33,4m² thuộc thửa đất số 12 tờ bản đồ thứ 1 bộ địa chính xã A, huyện B (theo tài liệu 02/CT-UB) tọa lạc tại địa chỉ số D ấp A xã A, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Bản đồ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở T2 lập ngày 10/01/2020.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.
Ngày 04/10/2024, bà Đỗ Thị B và bà Thái Thị M có kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm:
- Người đại diện theo uỷ quyền của bà Đỗ Thị B rút toàn bộ đơn kháng cáo.
- Bà Thái Thị M xác định yêu cầu kháng cáo là công nhận diện tích đất tranh chấp là của bà M vì bà M đã nhận chuyển nhượng của bà B từ năm 1983, có con cháu bà B chứng kiến. Khi bà B về Việt Nam tiếp tục có giấy cam kết bán đứt diện tích đất tranh chấp cho bà.
- Ông Lại Tấn V yêu cầu giữ nguyên án sơ thẩm vì diện tích đất tranh chấp gia đình ông sử dụng qua các thế hệ, không ai tranh chấp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao phát biểu quan điểm như sau: Sau khi phân tích các chứng cứ và yêu cầu của nguyên đơn, đơn yêu cầu độc lập và nội dung kháng cáo. Đề nghị: Chấp nhận việc rút kháng cáo của đại diện bà Đỗ Thị B; không chấp nhận kháng cáo của Thái Thị M. Giữ nguyên án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Về thủ tục kháng cáo của nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án được nộp trong thời hạn luật định, có nộp tạm ứng án phí là phù hợp quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện theo uỷ quyền của bà Đỗ Thị B yêu cầu được rút lại toàn bộ nội dung kháng cáo nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 284 Bộ luật Tố dụng dân sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bà Đỗ Thị B.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Diện tích 33,4m² đất tranh chấp thuộc một phần của thửa đất số 12, tờ bản đồ số 1 theo tài liệu 02/CT-UB, tương ứng một phần của thửa 33 tờ bản đồ số 02, tài liệu đo năm 2005, bộ địa chính xã A, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh do bà Huỳnh Thị T1 kê khai, chưa ai được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hiện ông Lại Tấn V đang sử dụng và đã được Ủy ban nhân dân huyện B cấp số nhà D ấp A xã A, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh theo chứng nhận số nhà số 2861/CN-UBND ngày 25/9/2015.
[2.2]. Tại văn bản số 2846/CNCB-LT ngày 21/7/2020, Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện B xác định về nguồn gốc diện tích đất tranh chấp theo sổ mục kê thì thửa 12, tờ bản đồ số 01 (tài liệu 02/CT-UB) thuộc bộ địa chính xã A, huyện B không có chủ sử dụng đăng ký.
[2.3]. Ủy ban nhân dân xã A đã có văn bản số 1582/UBND ngày 19/6/2020 gửi Tòa án xác định nguồn gốc quá trình sử dụng đất theo tài liệu 299/TTg thuộc thửa 06 tờ bản đồ 01 không có chủ sử dụng đăng ký; tài liệu 02/CT-UB thuộc thửa 12 tờ bản đồ 01 không có chủ sử dụng đăng ký; tài liệu bản đồ địa chính thuộc thửa 33, tờ bản đồ số 02 do bà Huỳnh Thị T1 kê khai và hiện do ông Lại Tấn V đang sử dụng để ở nên bà Đỗ Thị B cho rằng: Theo xác nhận của Ủy ban nhân dân xã A có tại Đơn xác nhận ngày 18/3/2019 của bà Thái Thị Mỹ V2 phần đất trên có nguồn gốc là của bà Đỗ Thị B là không chính xác và bà B cũng không xuất trình được giấy tờ theo quy định tại Điều 100 Luật đất đai năm 2013, Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.
[3]. Từ các căn cứ nêu trên bản án sơ thẩm không chấp yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị B về việc yêu cầu ông Lại Tấn V trả lại phần diện tích đất 33,4m² thuộc thửa đất số 12 tờ bản đồ thứ 1 bộ địa chính xã A, huyện B (theo tài liệu 02/CT-UB) tọa lạc tại địa chỉ số D ấp A xã A, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Bản đồ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở T2 lập ngày 10/01/2020 là có căn cứ.
[4]. Xét kháng cáo của bà Thái Thị M, yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất diện tích đất là 33,4m² thuộc thửa số 12 tờ bản đồ thứ 1 bộ địa chính xã A, huyện B (theo tài liệu 02/CT-UB) tọa lạc tại địa chỉ số D ấp A xã A, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cho bà M, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bà Đỗ Thị B, không đăng ký kê khai quyền sử dụng đất và không trực tiếp sử dụng đất diện tích đất là 33,4m² đang tranh chấp nên việc bà Đỗ Thị B có Giấy bán đứt nhà và đất ngày 15/02/1983 cho bà Thái Thị M là phông phù hợp nên bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Thái Thị M về việc công nhận quyền sở hữu của bà đối với diện tích đất là 33,4m² thửa đất số 12 tờ bản đồ thứ 1 bộ địa chính xã A, huyện B (theo tài liệu 02/CT-UB) tọa lạc tại địa chỉ số D ấp A xã A, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ. Bà Thái Thị M kháng cáo nhưng không cung cấp chứng cứ chứng minh làm thay đổi nội dung vụ án nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bà M. Chấp nhận đề nghị của đại điện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh là giữ nguyên án sơ thẩm.
[5]. Về án phí: Bà Thái Thị M và bà Đỗ Thị B phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 284; khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bà Đỗ Thị B; Không chấp nhận kháng cáo của bà Thái Thị M. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 1654/2022/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Đỗ Thị B và Thái Thị M, mỗi người phải chịu 300.000đ, bà B, bà M đã nộp 600.000đ tạm ứng án phí tại biên lai thu số 0003531 ngày 22/11/2022 và biên lai thu số 0001129 ngày 08/12/2023 tại Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh nay được chuyển thu án phí. Bà Đỗ Thị B và Thái Thị M đã nộp đủ án phí
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
| CÁC THẨM PHÁN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Nguyễn Văn Hùng | Cao Văn Tám |
| Bùi Thị Thu |
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Văn Tám |
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi giờ phút, ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Cao Văn Tám |
| Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Văn Hùng |
| Bà Bùi Thị Thu |
Tiến hành nghị án vụ án dân sự thụ lý số 1073/2024/TLPT-DS ngày 20 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 1654/2022/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
Hội đồng xét xử phúc thẩm thảo luận, biểu quyết thống nhất ý kiến, biểu quyết tỷ lệ 3/3 như sau:
Căn cứ khoản 3 Điều 284; khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
1.Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bà Đỗ Thị B; Không chấp nhận kháng cáo của bà Thái Thị M. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 1654/2022/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Đỗ Thị B và Thái Thị M, mỗi người phải chịu 300.000đ, bà B, bà M đã nộp 600.000đ tạm ứng án phí tại biên lai thu số 0003531 ngày 22/11/2022 và biên lai thu số 0001129 ngày 08/12/2023 tại Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh nay được chuyển thu án phí. Bà Đỗ Thị B và Thái Thị M đã nộp đủ án phí
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
Nghị án kết thúc sau 30 phút cùng ngày.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.
| CÁC THẨM PHÁN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Nguyễn Văn Hùng | Cao Văn Tám |
| Bùi Thị Thu |
Bản án số 229/2025/DS-PT ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 229/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: y án sơ thẩm
