Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số:229/2025/DS - PT

Ngày 25 tháng 11 năm 2025

V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Huyền

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Anh Tuấn

Bà Điêu Thị Bích Lượt

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

· Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 22/2025/TLPT-DS ngày 14 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 02/2025/DS - ST ngày 22 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ (nay là TAND khu vực 2 - Phú Thọ) bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 35/2025/QĐXX - PT ngày 09 tháng 4 năm 2025 và các quyết định hoãn phiên tòa, quyết định tạm ngừng phiên tòa, quyết định tạm đình chỉ, quyết định tiếp tục giải quyết vụ án giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty cổ phần T5; địa chỉ: Khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ (Nay là phường P, tỉnh Phú Thọ). Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1976 - Chức vụ: Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Công ty L chi nhánh Đ2; địa chỉ: Thôn B, xã T, thành phố Hà Nội (Ông Đinh Sóng H1, ông Đặng Hồng Đ)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Công ty L chi nhánh Đ2; địa chỉ: Thôn B, xã T, thành phố Hà Nội (Luật sư Bùi Thiên Â, sinh năm 1998)

Bị đơn: Ông Dương Văn H2, sinh năm 1968; địa chỉ: Khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ (Nay là phường P, tỉnh Phú Thọ).

Người đại diện theo ủy quyền :

Ông Dương Văn T, sinh 1978; địa chỉ: Số nhà F, đường T, phường T, tỉnh Phú Thọ.

Ông Phùng Kế C, sinh 1980; ĐKTT tại : N, xã B, thành phố Hà Nội.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông H2:

  1. Ông Đỗ Thành H3, sinh năm 1994 - Luật sư Công ty L1 - Đoàn luật sư thành phố H; địa chỉ: Số B, khu B, đường K, phường T, thành phố Hà Nội.
  2. Ông Dương Tiến K, sinh năm 1952; địa chỉ: Khu G, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ (Nay là phường P, tỉnh Phú Thọ). Hiện là Bí thư chi bộ 7, phường P, tỉnh Phú Thọ.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Ủy ban nhân dân tỉnh P; địa chỉ: Đường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Huy N - Chức vụ: Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường
  2. Bà Trần Thị B, sinh năm 1970; địa chỉ: Khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ (Nay là phường P, tỉnh Phú Thọ).

(Ông H, ông H1, ông H2, bà B, ông T, ông C, ông K, ông H3, Á có mặt; (khi tuyên án có mặt: Ông H, ông H1, ông H2, bà B, ông T, ông C, ông K, Ả; vắng mặt ông H3); ông Đ vắng mặt; ông N vắng mặt có đơn xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng người đại diện theo pháp luật, đại diện theo ủy quyền và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty cổ phần T5 trình bày: Công ty Cổ phần T5 (Hợp tác xã T6 cũ) được thành lập năm 1978 để tổ chức sản xuất phân nhằm cung cấp cho nhà máy G. Ngày 02/6/1979 được UBND tỉnh V phê duyệt cho xây dựng xưởng sản xuất tại xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Đến năm 2001, Hợp tác xã T6 tiến hành lập bản đồ theo kế hoạch của UBND tỉnh P theo Quyết định số 3887 ngày 07/11/2001 và được UBND tỉnh P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến ngày 29/03/2023, Công ty T5 điều chỉnh và cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD509784 với tổng diện tích 30.273,1m² và được chia làm 03 thửa:

Thửa thứ 01: Diện tích 4.855,4m² thuộc thửa đất số 406, tờ bản đồ số 73, địa chỉ: Khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.

Thửa thứ 02: Diện tích 24.751,8m² thuộc thửa đất số 407, tờ bản đồ số 73, địa chỉ: Khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.

Thửa thứ 03: Diện tích 665,9m² thuộc thửa đất số 667, tờ bản đồ số 15 địa chỉ: xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.

Công ty sử dụng ổn định từ ngày được UBND tỉnh P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì do diện tích đất của Công ty rộng, Công ty không sử dụng hết còn nhiều diện tích đất trống. Những năm gần đây có gia đình ông Dương Văn H2 là hộ giáp ranh với thửa đất số 407, tờ bản đồ số 73, địa chỉ: Khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ của Công ty đã lấn chiếm và tự do trồng cây, xây dựng chuồng trại trên diện tích đất của Công ty. Công ty đã nhiều lần yêu cầu ông H2 phải chặt bỏ cây cối, tháo dỡ chuồng trại trả lại diện tích đất mà anh H2 đã lấn chiếm của Công ty nhưng ông H2 đã không trả lại.

Theo đơn khởi kiện Công ty T5 yêu cầu Tòa án buộc gia đình ông H2 phải tháo dỡ các công trình và chặt bỏ cây cối trên diện tích đất là 24.751,8m² sau đó Công ty T5 thay đổi yêu cầu buộc gia đình anh H2 phải tháo dỡ các công trình và chặt bỏ cây cối trên diện tích đất 1.874,3m² thuộc thửa đất số 407, tờ bản đồ số 73 mà gia đình ông H2 đã lấn chiếm để trả lại đất cho Công ty T5. Tại phiên tòa sơ thẩm Công ty T5 có ý kiến tự nguyện hỗ trợ gia đình anh H2 số tiền 80.000.000₫ đến 100.000.000đ để chi phí di dời cây cối, tháo dỡ chuồng trại. Tại phiên tòa phúc thẩm Công ty T5 đồng ý bồi thường toàn bộ tài sản trên diện tích đất tranh chấp theo kết quả định giá lại ngày 18/11/2025 và hỗ trợ thêm cho gia đình ông H2, bà B số tiền 50.612.200đồng. Tổng số tiền Công ty T5 thanh toán cho gia đình ông H2, bà B là 100.000.000đồng.

Còn đối với Diện tích đất 4.855,4m² thuộc thửa đất số 406, tờ bản đồ số 73, địa chỉ: Khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ và Diện tích đất 665,9m² thuộc thửa đất số 667, tờ bản đồ số 15 địa chỉ: xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ thì Công ty T5 không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa phúc thẩm Công ty T5 đồng ý với nội dung như trong biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 27/10/2025 và kết quả định giá tài sản ngày 18/11/2025.

Bị đơn ông Dương Văn H2 trình bày: Năm 1989, vợ chồng ông bà khai hoang diện tích đất gần 20 ha (20.000m²) đất đồi rừng, đất thuộc quản lý của Nhà nước. Đến năm 1998, gia đình ông kê khai và được Nhà nước cấp:

Diện tích 802m² (Trong đó: 300m² đất ở, 502m² đất vườn) thuộc thửa đất số 23, tờ bản đồ 40B, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B 136875, cấp ngày 02/5/1998 cấp cho ông Dương Văn H2.

Diện tích đất 262m² (Đất RT lâu dài) thuộc thửa đất số 27, tờ bản đồ 40B, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A 984089, cấp ngày 02/5/1998 cấp cho hộ ông Dương Văn H2.

Diện tích đất 300m² (Đất T lâu dài) thuộc thửa đất số 21, tờ bản đồ 40B, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A 984089, cấp ngày 02/5/1998 cấp cho hộ ông Dương Văn H2.

Diện tích đất 92m² (Đất vườn) thuộc thửa đất số 21, tờ bản đồ 40B, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A 984089, cấp ngày 02/5/1998 cấp cho hộ ông Dương Văn H2.

Toàn bộ diện tích đất trên của gia đình ông hiện nay đang nằm trên diện tích đất tranh chấp với Công ty T5. Gia đình ông đề nghị Tòa án làm rõ nếu toàn bộ diện tích đất tranh chấp thuộc quyền sở hữu của gia đình ông thì trả lại cho ông. Nếu diện tích đất tranh chấp của Nhà nước giao cho Công ty T5 thì gia đình ông sẽ trả lại cho Công ty T5 và yêu cầu Công ty T5 hỗ trợ gia đình ông về chi phí san lấp mặt bằng, công tôn tạo đất, di dời cây cối và tháo dỡ chuồng trại.

Tại phiên tòa phúc thẩm ông H2 không đồng ý với kết quả định giá tài sản ngày 18/11/2025 vì ông cho rằng không phù hợp với giá thị trường.

Ngày 25/12/2024 ông H2 có đơn đề nghị về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cụ thể: Quá trình sinh sống, vợ chồng ông khai hoang sử dụng nhiều diện tích đất xung quanh từ những năm 1989 đến nay. Vợ chồng ông đã làm nhà, làm chuồng trại và trồng rất nhiều cây cối trong đó cả những cây lâu năm. Công ty cổ phần T5 khởi kiện gia đình ông đòi đất, ông không đồng ý. Ông được biết Công ty cổ phần T5 thành lập ngày 10/02/2004 và ngày 29/03/2023 Công ty cổ phần T5 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng khi giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Công ty cổ phần T5 thì UBND tỉnh P và Sở tài nguyên môi trường tỉnh P không thu hồi đất của gia đình ông, không bồi thường tài sản trên đất cho gia đình ông là trái quy định của pháp luật. Như vậy UBND tỉnh P và Sở tài nguyên môi trường tỉnh P là trái với quy định của pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình ông. Ông đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ xem xét giải quyết hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD 509784 số vào sổ cấp giấy chứng nhận CT 09640 do Sở tài nguyên môi trường tỉnh P cấp cho Công ty cổ phần T5 ngày 29/03/2023.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn:

Trong phần diện tích đất mà Công ty Cổ phần T5 đang tranh chấp với vợ chồng ông H2 có tài sản trên đấy, tài sản gồm: Cây cối, hoa màu, căn nhà đã cũ. Gia đình ông H2 đã sử dụng từ trước khi Hợp tác xã T6 sử dụng, trước những năm 1990, đất do vợ chồng ông H2 khai hoang. Giả sử sau này Hợp tác xã T6 được Nhà nước giao đất thì vợ chồng ông H2 cứ nghĩ là diện tích đất đấy do vợ chồng ông H2 khai hoang và sẽ được Nhà nước giao nên rất là thiệt thòi. Về phần bồi thường, đề nghị Công ty Cổ phần T5 hỗ trợ số tiền 300.000.000đ cho vợ chồng ông H2.

Gia đình ông H2 cho rằng bìa đỏ của nhà ông H2 được Nhà nước cấp nằm trong diện tích đất hơn 31.000m² của Công ty T5 được Nhà nước giao. Đề nghị Tòa án dựa trên những tài liệu, chứng cứ để xem xét cho công tâm.

Hợp tác xã T6 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, UBND tỉnh V ghi là sử dụng từ ngày 01/01/1996. Hợp tác xã T6 thành lập năm 1978, sau thời điểm này Hợp tác xã T6 giải thể. Trong Hợp đồng thuê đất, khi Hợp tác xã T6 giải thể thì diện tích đất phải thuộc về Nhà nước, công ty Cổ phần T5 mãi đến năm 2004 mới được thành lập. Nhà nước giao đất cho Công ty Cổ phần T5 phải làm lại trình tự thủ tục từ đầu mấy đầy đủ các quy định theo Luật đất đai năm 2003. Đề nghị Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Công ty Cổ phần T5.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: UBND tỉnh P trình bày: Công ty cổ phần T5 (trước đây là Hợp tác xã T6) được UBND tỉnh P giao và cấp GCNQSD đất số S 534773 với diện tích 31.937,5m² tại xã H, thị xã P; mục đích sử dụng đất: dịch vụ sản xuất kinh doanh (nay là đất cơ sở S1); thời hạn sử dụng: 30 năm, tính từ ngày 01/1/1996 tại Quyết định số 3887/QĐ-UBND ngày 07/11/2001.

Ngày 29/9/2022 UBND tỉnh P có Quyết định số 2575/QĐ-UBND về việc điều chỉnh ranh giới, diện tích đất cho Công ty cổ phần T5 tại xã H và xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, nội dung: Điều chỉnh ranh giới, diện tích đất cơ sở S1 cho Công ty cổ phần T5 từ 31.452,1 m² thành 30.273,1 m² (giảm 1.179,0 m²) tại xã H và xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, trong đó: Diện tích xã H là 665,9 m²; Diện tích xã H là 29.607,2 m².

Lý do điều chỉnh: Xác định lại theo hiện trạng sử dụng đất của đơn vị.( Diện tích đất cơ sở S1 đã thu hồi để thực hiện dự án xây dựng đường C - Lào Cai tại Quyết định số 1921/QĐ-UBND ngày 25/6/2010 của UBND tỉnh là 485,4 m². Diện tích đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp còn lại của Công ty cổ phần T5 tại Quyết định số 3887/QĐ-UBND ngày 07/11/2001 của UBND tỉnh là 31.452,1 m²).

Vị trí, ranh giới khu đất điều chỉnh theo ranh giới: 1, 2, 3, 4......, 33, 34, 1 và 35, 36, 37, 38,..., 77, 78, 35 thể hiện trên bản vẽ trích đo địa chính tỷ lệ 1/1000 do Công ty cổ phần K1 lập năm 2022, được UBND xã H, UBND xã H, UBND thị xã P xác nhận, Sở T thẩm định, trình duyệt.

(Các nội dung khác giữ nguyên theo Quyết định số 3887/QĐ-UBND ngày 07/11/2001 của UBND tỉnh).

Ngày 21/3/2023, Công ty cổ phần T5 nộp hồ sơ xin cấp đổi GCNQSD đất số S 534773 với lý do đề nghị cấp đổi: Do bị rách.

Ngày 29/3/2023, Giám đốc Sở T có Quyết định số 156/QĐ-TNMT về việc cấp đổi GCNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DD 509784 cho Công ty cổ phần T5 tại xã H và xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.

Việc Sở T cấp đổi GCNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền cho Công ty cổ phần T5 thực hiện theo quy định của Luật Đất đai 2013 và Nghị định, Thông tư hướng dẫn thi hành. Cụ thể như sau:

Tại Điều 99 Luật Đất đai 2013 có quy định trường hợp sử dụng đất được cấp GCNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất:

“1. Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho những trường hợp sau đây:

k) Người sử dụng đất đề nghị cấp đổi hoặc cấp lại Giấy chứng nhận bị mất”.

Tại khoản 1 Điều 76 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ có quy định việc cấp đổi Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng:

“1. Việc cấp đổi Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng đã cấp được thực hiện trong các trường hợp sau:

a) Người sử dụng đất có nhu cầu đổi Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng hoặc các loại Giấy chứng nhận đã cấp trước ngày 10 tháng 12 năm 2009 sang loại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;

b) Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng đã cấp bị ố, nhòe, rách, hư hỏng”

Do đó, Công ty cổ phần T5 đủ điều kiện cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo khoản 1 Điều 76 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ. Việc Sở T cấp đổi GCNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho Công ty cổ phần T5 thực hiện đúng theo quy định của pháp luật đất đai.

Việc Sở T cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DD 509784, ngày 29/3/2023 cho Công ty cổ phần T5 tại xã H và xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ đảm bảo đúng quy định tại Điều 99 Luật đất đai 2013; khoản 1 Điều 76 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.

Giữ nguyên Quyết định số 156/QĐ-TNMT ngày 29/3/2023 của Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh P về việc về việc cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DD509784 ngày 29/3/2023 cho Công ty cổ phần T5 tại xã H và xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ

Việc ông Dương Văn H2 (Khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ) đề nghị hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD 509784, số vào sổ giấy chứng nhận: CT 096400 do Sở T, tỉnh Phú Thọ cấp cho Công ty cổ phần T5 ngày 29/03/2023 là không có cơ sở.

Bà Trần Thị B trình bày: Bà nhất trí như lời trình bày của bị đơn và yêu cầu Tòa án làm rõ việc nếu toàn bộ diện tích đất của gia đình bà đang sử dụng và canh tác thì trả lại diện tích đất trên cho gia đình bà. Còn nếu diện tích đất trên của Nhà nước giao cho Công ty T5, thì gia đình bà trả lại cho Công ty T5 và yêu cầu Công ty T5 hỗ trợ gia đình bà về chi phí san lấp mặt bằng, công tôn tạo đất, di dời cây cối và tháo dỡ chuồng trại.

Tại phiên tòa phúc thẩm bà B cũng không đồng ý với kết quả định giá tài sản ngày 18/11/2025 vì bà cho rằng không phù hợp với giá thị trường.

Tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tại cấp sơ thẩm thể hiện

Quyền sử dụng đất thửa số 407, tờ bản đồ số 73, diện tích 24.751,8m².Diện tích đo đạc thực tế theo bản trích đo hiện trạng sử dụng đất kèm theo.

Vật, kiến trúc trên đất:01 nhà tạm, xây năm 1989, có chiều dài 7 x rộng 3,9m = 27,3m². Nhà làm bằng gỗ, mái lợp broximang đã hết khấu hao sử dụng, không định giá. 01 chuồng gà, 01 chuồng bò đã hết khấu hao sử dụng, không định giá.

Cây trên đất: 10 cây Bưởi đường kính 10-15cm x 621.900đ = 6.219.000đ; 10 cây hồng đường kính 02-5cm x 255.500đ = 2.555.000đ; 06 cây vải đường kính 15-20cm x 957.900₫ = 5.747.400đ; 04 cây vải đường kính 05-10cm x 357.900₫ = 1.431.600đ; 60 cây mít đường kính 15-20cm x 957.900đ = 57.474.000đ; 05 cây hồng xiêm từ 03 năm - 05 năm x 71.000đ = 355.000đ; 10 cây Xoài đường kính 15-20cm x 957.900₫ = 9.579.000đ; 10 cây Sấu đường kính 25-30cm x 1.130.000đ = 11.300.000đ; 40 cây Trám đường kính 05-10cm x 141.000₫ = 5.640.000đ; 700 cây Đào x 14.000₫ = 9.800.000đ; 800 cây Dứa x 3.500₫ = 2.800.000đ; 06 cây Bơ đường kính 15,9cm x 426.000đ = 2.556.000đ; 10 bụi Măng bát độ x 13 cây/bụi = 130 cây x 10.000₫ = 1.300.000₫; 300 cây Bạch Đàn đường kính 05-10 cm x 18.100đ = 5.430.000đ; 200 cây Bạch Đàn đường kính 15-30 cm x 59.500đ = 11.900.000đ; 500 cây Tràm đường kính 15-30 cm x 59.500đ = 29.750.000đ; 500 cây gỗ sưa đỏ: x 3.300đ = 1.650.000đ; 300 cây Tùng từ 01-03 năm x 7.000₫ = 2.100.000đ; 200 cây Đàn Hương 02 năm x 5.800đ = 1.160.000đ.Tổng giá trị là 168.746.400đ.

Ngoài những số liệu đã kê khai, đã được thẩm định giá, phía ông P đại diện nguyên đơn, phía ông H2 đều xác định không còn bỏ sót một loại tài sản nào cả. Còn một số loại cây còn nhỏ không có giá trị, các đương sự không có yêu cầu gì.

Biên bản xác minh tại UBND xã H thể hiện:

Căn cứ hồ sơ địa chính tại UBND xã H đang quản lý và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 1998 cho đến nay. Trên diện tích đất của Hợp tác xã T6 (nay là Công ty cổ phần T5) đã được UBND tỉnh P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có sơ đồ bản vẽ kèm theo. Toàn bộ vị trí đất cấp cho Hợp tác xã T6 (Công ty cổ phần T5) thì không cấp chồng lấn cho bất cứ hộ dân nào. Không có việc cấp đất chồng lấn trên diện tích đất của Công ty cổ phần T5 (Hợp tác xã T6 cũ) đã được UBND tỉnh P phê duyệt ngày 07/11/2001.Qua quá trình làm việc, anh Dương Văn H2 cho rằng diện tích đất gia đình nhà anh H2 được cấp chồng chéo lên phần diện tích đất của Công ty cổ phần T5 (Hợp tác xã T6 cũ) là không đúng vì trên diện tích đất của Công ty cổ phần T5 (Hợp tác xã T6 cũ) không có bất cứ diện tích đất của hộ dân nào được cấp chồng chéo lên.Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A984089 hộ ông Dương Văn H2 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B136875 ông Dương Văn H2 không nằm trên diện tích đất của Công ty cổ phần T5.

Diện tích 802m² trong đó 300m² đất ở, 502m² đất vườn thuộc thửa đất số 23, tờ bản đồ 40B, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B 136875, cấp ngày 02/5/1998 cấp cho ông Dương Văn H2. Diện tích đất này hộ nhà ông H2 đang sử dụng, không bị cấp chồng lấn lên diện tích đất của Công ty cổ phần T5. Vị trí diện tích đất này nằm tách biệt cách con đường giao thông liên xóm với diện tích đất của Công ty cổ phần T5. Diện tích 262m² (Đất RTCRM) thuộc thửa đất số 27, tờ bản đồ 40B, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A 984089, cấp ngày 02/5/1998 cấp cho hộ ông Dương Văn H2. Diện tích đất này hộ nhà ông H2 đang sử dụng, không bị cấp chồng lấn lên bất cứ diện tích đất nào, không bị cấp chồng lấn lên diện tích đất của Công ty cổ phần T5. Vị trí diện tích đất này nằm cùng phía với thửa đất số 23 của gia đình ông H2, nằm tách biệt, cách con đường giao thông liên xóm với diện tích đất của Công ty cổ phần T5 tại khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.

Diện tích đất 300m² (Đất T lâu dài), 92m² (Đất vườn) thuộc thửa đất số 21, tờ bản đồ 40B, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A 984089, cấp ngày 02/5/1998 cấp cho hộ ông Dương Văn H2. Diện tích đất này hộ nhà ông H2 đang sử dụng, không bị cấp chồng lấn lên bất cứ diện tích đất nào, không bị cấp chồng lấn lên diện tích đất của Công ty cổ phần T5. Vị trí diện tích đất này nằm tách biệt, cách diện tích đất của Công ty cổ phần T5, con đường giao thông liên xóm tại khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DS- ST ngày 22 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ đã quyết định:

Căn cứ khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 157, 165, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Điều 172, 173, 174, 175, 176 Bộ luật dân sự 1995. Điều 163, 164,166, 169, 357, 468 Bộ luật dân sự 2015. Điều 3, 4, 19, 20, 22, 36, 73, 79 Luật Đất đai 1993. Điều 166, 170,174, 203 luật đất đai 2013. Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần T5.

  1. Buộc ông Dương Văn H2 và bà Trần Thị B phải trả lại diện tích đất lấn chiếm cho Công ty cổ phần T5 là 1.874,3m² đất tại thửa đất số 407, tờ bản đồ số 73 có địa chỉ khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, có chỉ giới 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 43, 42, 41, 40, 39, 21 theo bản trích đo hiện trạng sử dụng đất ngày 26/9/2024 do Công ty cổ phần K1 đo đạc. (Có bản trích đo hiện trạng sử dụng đất kèm theo).
  2. Buộc ông Dương Văn H2 và bà Trần Thị B phải chặt hạ, tháo dỡ và di dời toàn bộ cây trồng, công trình xây dựng gồm 01 nhà tạm, 01 chuồng gà, 01 chuồng bò; Các cây trên đất gồm: Cây bưởi: 10 cây đường kính 10-15cm. Cây hồng: 10 cây đường kính 02-5cm; Cây vải: 10 cây, trong đó 06 cây đường kính 15-20cm; 04 cây đường kính 05-10cm; Cây mít: 60 cây đường kính 15-20cm; Cây hồng xiêm: 05 cây từ 03 năm - 05 năm; Cây xoài 10 cây đường kính 15-20cm; Cây sấu 10 cây đường kính 25-30cm; Cây trám 40 cây đường kính 05-10cm; Cây đào: 700 cây; Dứa: 800 cây; Bơ: 06 cây đường kính 15,9cm; Măng bát độ: 10 bụi x 13 cây/bụi = 130 cây; Bạch đàn: 500 cây, trong đó 300 cây đường kính 05-10 cm, 200 cây đường kính 15-30 cm; Tràm: 500 cây đường kính 15-30 cm; Gỗ sưa đỏ: 500 cây; T1: 300 cây từ 01-03 năm; Đàn hương: 200 cây 02 năm và các tài sản khác trên diện tích đất lấn chiếm nêu trên để trả lại đất cho Công ty cổ phần T5.
  3. Ghi nhận sự tự nguyện của Công ty cổ phần T5 về việc tự nguyện hỗ trợ cho gia đình ông H2 số tiền 100.000.000đ để di dời cây cối, tháo dỡ chuồng trại.

Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền và nghĩa vụ khác của đương sự theo quy định của pháp luật.

Kháng cáo: Ngày 23/01/2025 ông Dương Văn H2 - Là bị đơn kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số: 02/2025/DS-ST ngày 22/01/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 2- Phú Thọ) và đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử lại theo trình tự phúc thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần T5.

Tại phiên toà phúc thẩm: Ông Dương Văn H2 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và không cung cấp tài liệu chứng cứ mới.

Tại phiên tòa phúc thẩm luật sư bảo vệ quyền và lợi ích cho bị đơn là ông Dương Văn H2 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn kháng cáo của ông H2, sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần T5.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự. Không châp nhận kháng cáo của ông Dương Văn H2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DS- ST ngày 22 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 2- Phú Thọ).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện VKSND tỉnh; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Kháng cáo của ông Dương Văn H2 là bị đơn trong hạn luật định, hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét nội dung kháng cáo theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung kháng cáo của ông Dương Văn H2 - Là bị đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và trình bày của Ủy ban nhân dân tỉnh P trong quá trình tố tụng xác định: Về nguồn gốc đất tranh chấp: Diện tích đất tranh chấp 1.874,3m² có nguồn gốc là đất do Ủy ban nhân dân tỉnh P cho Hợp tác xã T6 thuê đất để sản xuất kinh doanh: Cụ thể, theo Quyết định số 384 ngày 02/6/1979 của Ủy ban nhân dân tỉnh V duyệt cấp cho Hợp tác xã 10.000m² đất để khai thác cao lanh và quyết định số 17/XD ngày 14/5/1979 của Ủy ban nhân dân tỉnh V giao cho Hợp tác xã Q diện tích Đồi Nhà Ngam 9 mẫu 4 sào 5 thước và Đồi Nhà Mụ diện tích 16 mẫu 02 sào để phục vụ sản xuất phèn chua và xây dựng nhà xưởng tại đây. Trong Sổ mục kê và trong bản đồ địa thể hiện chủ sử dụng toàn bộ diện tích đất tranh chấp là Hợp tác xã T6 điều đó phù hợp với Quyết định số 3887 ngày 07/11/2001 của Ủy ban nhân dân tỉnh P giao quyền sử dụng 31.937,5m² tại thôn L, xã H, thị xã P cho Hợp tác xã T6 thuê để sản xuất kinh doanh trong thời hạn 30 năm tính từ ngày 01/01/1996 và ngày 07/11/2001 đã được Ủy ban nhân dân tỉnh P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số S534773, mục đích sử dụng: dịch vụ - sản xuất kinh doanh. Tại Quyết định số 37 ngày 07/01/2004 của UBND thị xã P giải thể Hợp tác xã T6 để thành lập Công ty cổ phần T5 có tiền thân từ Hợp tác xã T6. Từ đó đến nay Công ty cổ phần T5 vẫn trực tiếp quản lý, sử dụng đối với toàn bộ diện tích đất này. Năm 2022 Ủy ban nhân dân tỉnh P đã thu hồi 485,4m² đất của Công ty cổ phần T5 và Ủy ban nhân dân tỉnh P đã điều chỉnh ranh giới, diện tích đất cho Công ty cổ phần T5. Trên cơ sở đó ngày 29/3/2023 Ủy ban nhân dân tỉnh P đã cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Công ty cổ phần T5 là được sử dụng 30.273,1m² đất. Như vậy, có căn cứ xác định diện tích đất tranh chấp hiện nay Hợp tác xã T6 được Ủy ban nhân dân tỉnh C4 thuê từ năm 1996 và được Ủy ban nhân dân tỉnh P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số S534773 ngày 07/11/2001 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của Công ty cổ phần T5.

Phía bị đơn ông Dương Văn H2 cho rằng diện tích đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của gia đình nhà ông H2 vì ông H2 cũng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất tranh chấp. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho gia đình ông H2 chồng lên phần diện tích đất của Công ty cổ phần T5 cũng được cấp giấy chứng nhận. Ông H2 cho rằng nguồn gốc diện tích đất tranh chấp gia đình ông H2 khai hoang và sử dụng canh tác từ những năm 1970, trên đất hiện nay có ngôi nhà gia đình ông H2 xây ở từ năm 1989. Tuy nhiên, ngoài lời khai của ông H2 về nguồn gốc sử dụng đất, trong quá trình giải quyết vụ án gia đình ông H2 không cung cấp được cho Tòa án bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào thể hiện diện tích đất tranh chấp được gia đình ông H2 khai hoang sử dụng từ những năm 1970 và cũng không có chứng cứ nào xác định tài sản trên đất hiện nay ông H2 làm từ năm 1989.

Đối với lời khai của ông H2 về việc cấp chồng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Qua xác minh tại Ủy ban nhân dân xã H, thị xã P thể hiện: Diện tích đất của Hợp tác xã T6 (nay là Công ty cổ phần T5) đã được Ủy ban nhân dân tỉnh P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có sơ đồ bản vẽ kèm theo.Toàn bộ vị trí đất cấp cho Hợp tác xã T6 (Công ty cổ phần T5) thì không cấp chồng lấn cho bất cứ hộ dân nào. Không có việc cấp đất chồng lấn trên diện tích đất của Công ty cổ phần T5 (Hợp tác xã T6 cũ) đã được Ủy ban nhân dân tỉnh P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trích lục bản đồ giải thửa mặt bằng hiện trạng sử dụng đất của Hợp tác xã T6, xã H, thị xã P đã được Ủy ban nhân dân tỉnh P duyệt kèm theo Quyết định số 3887/QĐ – UB ngày 07/11/2001 (BL 81) được thể hiện các thửa đất đang tranh chấp thuộc quyền sử dụng của Công ty cổ phần T5 (Hợp tác xã T6 cũ).

Ông H2 trình bày diện tích đất tranh chấp gia đình ông được cấp giấy chứng nhận, tuy nhiên không cung cấp được cho Tòa án tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc gia đình ông H2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất tranh chấp. Ông H2 chỉ cung cấp cho Tòa án Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A984089 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B136875 ông Dương Văn H2 được cấp, tuy nhiên các thửa đất ông H2 được cấp không trùng với thửa đất của Công ty cổ phần T5 được cấp giấy chứng nhận.

Quá trình giải quyết vụ án ông Dương Văn H2 và Trần Thị B đều có quan điểm : “……… Còn nếu diện tích đất trên (diện tích đất tranh chấp) của Nhà nước giao cho Công ty T5, thì gia đình tôi trả lại cho Công ty T5 và yêu cầu Công ty T5 hỗ trợ gia đình tôi về chi phí san lấp mặt bằng, công tôn tạo đất, di dời cây cối và tháo dỡ chuồng trại...” (BL 76); Tại bản tự khai ngày 16/7/2024 của ông Dương Văn H2 (BL 32) và bà Trần Thị B (BL 33) thể hiện: “...nay Công ty T5 khởi kiện yêu cầu vợ chồng tôi trả lại diện tích mà chúng tôi đã khai hoang và sử dụng, vì đây là trên đất khai hoang, nếu chúng tôi không biết là do nhà nước quản lý hay do Công ty cổ phần T5 quản lý, nếu nhà nước thu hồi chúng tôi sẽ trả diện tích đất nêu trên cho nhà nước. Nếu thuộc đất của Công ty thì chúng tôi sẽ trả lại đất cho Công ty nhưng Công ty phải bồi thường những tài sản cây cối, chuồng trại, nhà cửa mà chúng tôi đã sử dụng từ năm 1989 cho đến nay theo giá quy định của nhà nước”. Tại Biên bản hòa giải ngày 30/5/2024 tại Trụ sở Ủy ban nhân dân xã H, thị xã P (cũ) tỉnh Phú Thọ ông Dương Văn H2 có lời khai: “... Đề nghị hỗ trợ để tháo dỡ chuồng trại cây trồng (Trừ cây đào để cuối năm thu hoạch trả lại đất) số tiền là: 300.000.000₫ (Ba trăm triệu đồng)”. Bản thân ông H2, bà B đều có ý kiến diện tích đất đang tranh chấp nếu của nhà nước thì sẽ trả nhà nước, còn nếu của Công ty cổ phần T5 thì sẽ trả cho Công ty T5.

Ngoài ra, tài liệu do Ủy ban nhân dân phường P cung cấp, cũng như tài liệu chứng cứ do Công ty cổ phần T5 giao nộp có trong hồ sơ thể hiện: Trên thửa đất của Công ty cổ phần T5 được Ủy ban nhân dân tỉnh P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng có một số hộ dân mượn sử dụng đất để trồng nhờ các loại cây cối như Bạch đàn, M, X, T2, V, Đ1, C1... như hộ ông Dương Văn H4, bà Nguyễn Thị C2. Diện tích đất ông H4 mượn sử dụng nằm trên cùng trục đường thẳng với phần diện tích đất tranh chấp giữa Công ty cổ phần T5 với gia đình ông H2. Trên diện tích đất của Công ty cổ phần T5 hộ gia đình ông Dương Văn H4 có sử dụng diện tích đất khoảng 5000m² đất và hiện nay hộ ông Dương Văn H4 đã nhận khoản tiền Công ty Cổ phần T5 hỗ trợ 17.000.000đ để chặt dọn cây trồng trả lại đất cho Công ty cổ phần T5. Phần diện tích đất bà Dương Thị C3 mượn của Công ty T5 canh tác khoảng 2000m² đến 3000m², nay bà C3 cũng đã nhận hỗ trợ bồi thường 5.000.000đồng và thu dọn trả lại mặt bằng cho Công ty cổ phần T5.

Từ những nhận định đánh giá trên có đủ căn cứ xác định Công ty cổ phần T5 là chủ sử dụng hợp pháp được Ủy ban nhân dân tỉnh cho thuê thửa đất số 407, tờ bản đồ số 73 và năm 2001 Ủy ban nhân dân tỉnh P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Hợp tác xã T6 và năm 2023 cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Công ty cổ phần T5 phù hợp với quy định của pháp luật, nên không có căn cứ để Hội đồng xét xử hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2001 Ủy ban nhân dân tỉnh P cấp cho Hợp tác xã T6 và năm 2023 cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Công ty cổ phần T5.

Đối với kháng cáo đề nghị Tòa án xem xét lại trình tự thủ tục nhận đơn khởi kiện ngày 08/10/2024 là không hợp pháp do người khởi kiện là Công ty cổ phần T5 nhưng bên dưới ký tên người khởi kiện là Sư Mạnh P và không đóng dấu của Công ty. Qua xem xét tài liệu có trong hồ sơ cho thấy, trong hồ sơ có 02 đơn khởi kiện có cùng nội dung như nhau nhưng có 01 đơn khởi kiện đóng dấu của Công ty cổ phần T5 và 01 đơn không đóng dấu của Công ty cổ phần T5. Như vậy, Tòa án thụ lý vụ án là đúng quy định của pháp luật.

Đối với tài sản trên đất: Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và định giá ngày 26/9/2024 của Tòa án cấp sơ thẩm đã được ông H2, bà B ký và 02 người đều nhất trí không có ý kiến gì. Ngày 26/9/2024 Công ty cổ phần T5 rút yêu cầu khởi kiện và Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 19/2024/QĐST - DS ngày 30/9/2024. Sau đó ngày 11/10/2024 Công ty cổ phần T5 tiếp tục khởi kiện và Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ thụ lý lại vụ án. Quá trình thụ lý giải quyết lại vụ án, ngày 20/12/2024 bà Trần Thị B và ông H2 có bản tự khai (BL số 76,77) và cùng ngày tại biên bản hòa giải ông H2, bà B đều có ý kiến đồng ý với biên bản xem xét thẩm định tại chỗ tài sản và định giá tài sản ngày 26/9/2024 và đồng thời đều có ý kiến không yêu cầu xem xét thẩm định tại chỗ lại tài sản và định giá lại tài sản (BL số 74,75). Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá thể hiện trên diện tích đất Công ty cổ phần T5 được cấp giấy chứng nhận có một phần diện tích đất do gia đình ông H2 sử dụng trên đó có 01 gian nhà tạm, 01 chuồng gà và 01 chuồng bò và cây cối làm lộc trên đất. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm phía ông H2 đã có đơn trình bày và thống kê toàn bộ công trình và cây cối trên toàn bộ thửa đất của Công ty cổ phần T5. Ngày 26/9/2024 Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản và tiến hành định giá toàn bộ tài sản trên đất được ông Dương Văn H2 thống kê theo đơn đề nghị (BL 38a). Các tài sản gồm có: 01 nhà tạm, 01 chuồng bò, 01 chuồng gà do ông H2 trình bày được làm năm 1989 đã hết khấu hao, ngoài ra các tài sản khác cây cối trên đất gồm: Cây trên đất: 10 cây Bưởi đường kính 10-15cm x 621.900đ = 6.219.000đ; 10 cây hồng đường kính 02-5cm x 255.500đ = 2.555.000đ; 06 cây vải đường kính 15-20cm x 957.900₫ = 5.747.400đ; 04 cây vải đường kính 05-10cm x 357.900₫ = 1.431.600đ; 60 cây mít đường kính 15-20cm x 957.900đ = 57.474.000đ; 05 cây hồng xiêm từ 03 năm - 05 năm x 71.000₫ = 355.000đ; 10 cây Xoài đường kính 15-20cm x 957.900₫ = 9.579.000đ; 10 cây Sấu đường kính 25-30cm x 1.130.000đ = 11.300.000đ; 40 cây Trám đường kính 05-10cm x 141.000đ = 5.640.000đ; 700 cây Đào x 14.000đ = 9.800.000đ; 800 cây Dứa x 3.500đ = 2.800.000đ; 06 cây Bơ đường kính 15,9cm x 426.000₫ = 2.556.000đ; 10 bụi Măng bát độ x 13 cây/bụi = 130 cây x 10.000₫ = 1.300.000đ; 300 cây Bạch Đàn đường kính 05-10 cm x 18.100đ = 5.430.000đ; 200 cây Bạch Đàn đường kính 15-30 cm x 59.500₫ = 11.900.000đ; 500 cây Tràm đường kính 15-30 cm x 59.500₫ = 29.750.000đ; 500 cây gỗ sưa đỏ: x 3.300đ = 1.650.000₫; 300 cây Tùng từ 01-03 năm x 7.000₫ = 2.100.000₫; 200 cây Đàn Hương 02 năm x 5.800đ = 1.160.000đ. Tổng giá trị là 168.746.400đ.

Quá trình giải quyết tại Tòa án cấp phúc thẩm ông Dương Văn H2 không đồng ý với Biên bản thẩm định và định giá ngày 26/9/2024 của Tòa án cấp sơ thẩm với lý do: khi xét xử Tòa án cấp sơ thẩm đã lấy kết quả thẩm định của vụ án đã được đình chỉ. Ông H2, bà B đề nghị thẩm định, định giá lại tài sản với lý do: Tại thời điểm xét xử phúc thẩm này cây cối của ông lớn hơn nên đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để thẩm định tại chỗ và định giá lại đối với công trình trên đất và cây cối trên đất đang tranh chấp theo như yêu cầu khởi kiện của Công ty T5 có diện tích là: 1.874,3m² tại thửa đất 407, tờ bản đồ số 73, có địa chỉ: tại Khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ (Nay là phường P, tỉnh Phú Thọ), theo biên bản thẩm định lại ngày 27/10/2025 và biên bản định giá ngày 18/11/2025 gồm: Đất phi nông nghiệp: 270.000đ/m2 x 1.874,3m² = 506.061.000đ.

Công trình trên đất theo ông H2, bà B trình bày được xây dựng năm 1989: gồm: 01 chuồng gà lợp Proximăng đã cũ (hết khấu hao; 01 ngôi nhà gỗ lợp P1 đã cũ, vách bằng nan tre: Hết khấu hao; 01 chuồng gà lợp Proximăng (chuồng T3) đã cũ: Hết khấu hao.

Cây cối trên đất : Vải: 06 cây (Trong đó: 01 cây chu vi 75cm (đường kính 24 cm) x 1.257.900 = 1.257.900đ; 01 cây chu vi 06cm (đường kính 02cm) x 111.000 = 111.000đ; 02 cây chu vi 47cm (đường kính 14,97cm) x 567.900 = 1.315.800đ; 01 cây chu vi 87cm (đường kính 28cm) x 1.557.900 = 1.557.900đ; 01 cây chu vi 70cm (đường kính 22cm) x 1.257.900 =1.257.900đ; 01 cây chu vi 83cm (đường kính 26cm) x 1.557.900 = 1.557.900đ; 01 cây sấu ta có chu vi 103cm (đường kính 33 cm) x 1.414.000 = 1.414.000đ. Xoài : 04 cây (Trong đó: 01 cây chu vi 86cm (đường kính 27cm) x 1.557.900 = 1.557.900đ;01 cây chu vi 70 cm (đường kính 22cm) x 1.257.900 = 1.257.900đ; 01 cây chu vi 48 cm (đường kính 15,3cm) x 957.000 = 957.000đ; 01 cây chu vi 118cm (đường kính 38cm) x 2.057.900 = 2.057.900đ. Mít : 11 cây (Trong đó:01 cây chu vi 66cm (đường kính 21cm) x 1.257.900 = 1.257.900đ; 01 cây chu vi 50cm (đường kính 16cm) x 957.000 = 957.000đ; 01 cây chu vi 30cm (đường kính 9,6cm) x 357.900 = 357.900đ; 01 cây chu vi 43cm (đường kính 14cm) x 657.900 = 657.900đ; 01 cây chu vi 46cm (đường kính 14.6cm) x 657.900 = 657.900đ; 01 cây chu vi 74cm (đường kính 24cm) x 1.257.900 = 1.257.900đ; 01 cây chu vi 88 cm (đường kính 28cm) x 1.557.900 = 1.557.900đ; 03 cây chu vi 32 cm (đường kính 10.2cm) x 657.900 = 1.973.700đ. Quất hồng bì: 03 cây chu vi 05 - 10cm (đường kính 1,5 – 3,1cm) x 71.000 = 213.000đ. H5 ăn quả (Loại bình thường): 02 cây chu vi 05 - 10cm (đường kính 1,5 – 3,1cm) x 559.500 = 559.500đ. Dâu ta: 03 cây chu vi 15cm (đường kính 4.8cm) x 71.000 =213.000đ. Nhãn ta: 01 cây chu vi 73cm (đường kính 23cm) x 1.257.000 = 1.257.000đ. Tai chua:01 cây chu vi 04cm (đường kính 01cm) x 35.000 = 35.000đ. Cóc 01 cây chu vi 105cm (đường kính 33cm) x 1.414.000 = 1.414.000đ. Na ta 01 cây chu vi 33cm (đường kính 11cm) x 360.5000 = 360.5000đ. Hồng xiêm: 02 cây (Trong đó: 01 cây chu vi 20cm (đường kính 06cm) x 142.000 = 142.000đ; 01 cây chu vi 70cm (đường kính 22cm) x 567.000 = 567.000đ. Hoa hải đường : 08 cây (Trong đó: 01 cây chu vi 07cm (đường kính 02cm) x 7.000 = 7.000đ; 07 cây chu vi 10cm (đường kính 03 cm) x 7.000 = 49.000đ.Chay: 01 cây chu vi 28cm (đường kính 09cm) x 142.000 = 142.000đ. M1 vàng 06 cây chu vi 10cm (đường kính 03cm) x 7.000 = 42.000đ. Mộc:07 cây chu vi 05cm (đường kính 02cm) x 7.000 = 49.000đ. Dứa: 158 cây x 3.500 = 553.000đ. Trám đen: 05 cây chu vi 15cm (đường kính 4.8cm) x 71.000 = 355.000đ. Đinh lăng lai: 56 cây chu vi 10cm (đường kính 03cm) x 7.000 = 392.000đ. Mít giống: 05 cây x 111.400 = 557.000đ. Phi lao: 07 cây chu vi 28cm (đường kính 09cm) x 33.300 = 233.100đ. Xà cừ: 04 cây chu vi 10cm (đường kính 03cm) x 27.400 = 109.600đ. Bàng Đài Loan (giống): 70 cây x 27.400 = 1.918.000đ. Xà cừ (giống) : 150 cây x 27.400đ = 4.110.000đ. Đào : 275 cây x 14.000 = 3.850.000đ. Sưa: 26 cây chu vi 20cm (đường kính 06cm) x 33.300 = 865.800đ. Trám :05 cây chu vi 10cm (đường kính 03cm) x 71.000 = 355.000đ Sắn: 71 cây (diện tích 85m²) x 7.000đ = 595.000đ. Lát (giống): 159 cây x 27.400₫ = 4.356.600đ. Bằng lăng tím (giống): 35 cây x 27.400 = 959.000đ. Bạch đàn: 02 cây chu vi 10cm (đường kính 03cm) x 12.400 = 24.800đ. Đàn hương: 08 cây chu vi 15cm (đường kính 4.8cm) x 27.400 = 219.200đ. Thanh Long 01 cây x 85.700₫ = 85.700đ. Tổng cộng giá trị các tài sản trên diện tích đất tranh chấp 1.874,3m² theo định giá là: 49.387.800đ (Bốn mươi chín triệu, ba trăm tám mươi bảy nghìn, tám trăm đồng).

Hội đồng xét xử nhận thấy: Mặc dù đất thuộc quyền sử dụng của Công ty cổ phần T5, tuy nhiên gia đình ông H2, bà B sử dụng, canh tác Công ty cổ phần T5 đồng ý không có ý kiến gì, nay Công ty cổ phần Thành T4 yêu cầu ông H2, bà B thu dọn tài sản trên đất trả lại diện tích đất thuộc quyền sử dụng của Công ty cổ phần T5 thì Công ty có trách nhiệm thanh toán toàn bộ giá trị tài sản, cây cối trên diện tích đất tranh chấp cho ông H2, bà B mới đảm bảo quyền lợi cho ông H2, bà B. Bản án sơ thẩm quyết định buộc Công ty cổ phần T5 hỗ trợ cho gia đình ông H2, bà B là không phù hợp với quy định của pháp luật. Theo kết quả định giá của Hội đồng định giá ngày 18/11/2025 toàn bộ tài sản trên đất tranh chấp với tổng số tiền là: 49.387.800₫ (Bốn mươi chín triệu, ba trăm tám mươi bảy nghìn, tám trăm đồng). Do vậy, buộc Công ty cổ phần T5 có trách nhiệm thanh toán cho ông H2, bà B số tiền 49.387.800₫ . Tại phiên tòa đại diện Công ty cổ phần T5 có ý kiến ngoài số tiền Công ty có trách nhiệm thanh toán cho ông H2, bà B theo định giá, phía Công ty tự nguyện hỗ trợ thêm cho gia đình ông H2, bà B số tiền 50.612.200đồng. Xét thấy, tự nguyện của Công ty cổ phần T5 với pháp luật, nên được chấp nhận. Mặc dù sau khi thẩm định và định giá lại số tài sản trên diện tích đất tranh chấp so với kết quả thẩm định, định giá tại cấp sơ thẩm không thống nhất. Tuy nhiên, số tiền Công ty cổ phần T5 phải thanh toán cho gia đình ông H2 theo kết quả định giá ngày 18/11/2025 với số tiền Công ty C5 hỗ trợ cho ông H2 50.612.200 đồng tổng là 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng) bằng với số tiền 100.000.000đồng mà bản án sơ thẩm đã quyết định. Nên không cần sửa bản án sơ thẩm. Kháng cáo của ông H2 không được chấp nhận.

[2].Về chi phí tố tụng: Đối với chi phí đo đạc lại do ông Dương Văn H2 đã ký kết với Công ty TNHH L - Chi nhánh B1 (Có bản Hợp đồng giao nộp cho Tòa án) hết số tiền 7.500.000đồng (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng). Kháng cáo không được chấp nhận, nên ông H2 phải chịu (xác nhận đã nộp)

Đối với chi phí thẩm định, định giá lại là: Ông Dương Văn H2 đã nộp 10.000.000₫ (Mười triệu đồng), đã chi phí thẩm định lại, định giá lại là : 4.900.000₫ (Bốn triệu chín trăm nghìn đồng). Trả lại cho ông H2 5.100.000đ (Năm triệu một trăm nghìn đồng). Xác nhận ông Dương Văn H2 đã nhận đủ số tiền 5.100.000đ (Năm triệu một trăm nghìn đồng) và không khiếu nại hay thắc mắc gì. Kháng cáo không được chấp nhận nên ông H2 phải chịu (xác nhận đã nộp đủ).

[3].Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo không được chấp nhận nên ông Dương Văn H2 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định. Tại phiên tòa luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông H2 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông H2, sửa bản án sơ thẩm, bác yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần T5, tuy nhiên đề nghị không có căn cứ, nên không được chấp nhận.

Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự. Không châp nhận kháng cáo của ông Dương Văn H2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DS- ST ngày 22 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ (nay là TAND khu vực 2- Phú Thọ).

Căn cứ khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 157, 165, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Điều 172, 173, 174, 175, 176 Bộ luật dân sự 1995. Điều 163, 164,166, 169, 357, 468 Bộ luật dân sự 2015. Điều 3, 4, 19, 20, 22, 36, 73, 79 Luật Đất đai 1993. Điều 166, 170,174, 203 luật đất đai 2013. Khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần T5.
  2. Buộc ông Dương Văn H2 và bà Trần Thị B phải trả lại diện tích đất lấn chiếm cho Công ty cổ phần T5 là 1.874,3m² đất tại thửa đất số 407, tờ bản đồ số 73 có địa chỉ khu H, xã H, thị xã P (nay là phường P, tỉnh Phú Thọ, có chỉ giới 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 43, 42, 41, 40, 24, 21 theo bản trích đo hiện trạng sử dụng đất ngày 27/10/2025 do Công ty TNHH L - Chi nhánh B1. (Có bản trích đo hiện trạng sử dụng đất kèm theo).
  3. Buộc ông Dương Văn H2 và bà Trần Thị B phải chặt hạ, tháo dỡ và di dời, thu hoạch toàn bộ: Công trình trên đất gồm: 01 chuồng gà lợp Proximăng đã cũ (theo trình bày của ông H2, bà B xây dựng 1989): hết khấu hao; 01 ngôi nhà gỗ lợp P1 đã cũ, vách bằng nan tre (theo trình bày của ông H2, bà B xây dựng năm 1989): Hết khấu hao; 01 chuồng gà lợp Proximăng (chuồng Trâu) đã cũ (theo trình bày của ông H2, bà B xây dựng 1989): Hết khấu hao và toàn bộ cây cối trên đất gồm : Vải: 06 cây (Trong đó: 01 cây chu vi 75cm (đường kính 24 cm) x 1.257.900 = 1.257.900đ; 01 cây chu vi 06cm (đường kính 02cm) x 111.000 = 111.000đ; 02 cây chu vi 47cm (đường kính 14,97cm) x 567.900 = 1.315.800đ; 01 cây chu vi 87cm (đường kính 28cm) x 1.557.900 = 1.557.900đ; 01 cây chu vi 70cm (đường kính 22cm) x 1.257.900 =1.257.900đ; 01 cây chu vi 83cm (đường kính 26cm) x 1.557.900 = 1.557.900đ; 01 cây Xấu ta có chu vi 103cm (đường kính 33 cm) x 1.414.000 = 1.414.000đ. Xoài : 04 cây (Trong đó: 01 cây chu vi 86cm (đường kính 27cm) x 1.557.900 = 1.557.900đ;01 cây chu vi 70 cm (đường kính 22cm) x 1.257.900 = 1.257.900đ; 01 cây chu vi 48 cm (đường kính 15,3cm) x 957.000 = 957.000đ; 01 cây chu vi 118cm (đường kính 38cm) x 2.057.900 = 2.057.900đ. Mít : 11 cây (Trong đó:01 cây chu vi 66cm (đường kính 21cm) x 1.257.900 = 1.257.900đ; 01 cây chu vi 50cm (đường kính 16cm) x 957.000 = 957.000đ; 01 cây chu vi 30cm (đường kính 9,6cm) x 357.900 = 357.900đ; 01 cây chu vi 43cm (đường kính 14cm) x 657.900 = 657.900đ; 01 cây chu vi 46cm (đường kính 14.6cm) x 657.900 = 657.900đ; 01 cây chu vi 74cm (đường kính 24cm) x 1.257.900 = 1.257.900đ; 01 cây chu vi 88cm (đường kính 28cm) x 1.557.900 = 1.557.900đ; 03 cây chu vi 32cm (đường kính 10.2cm) x 657.900 = 1.973.700đ. Quất hồng bì: 03 cây chu vi 05 - 10cm (đường kính 1,5 – 3,1cm) x 71.000 = 213.000đ. H5 ăn quả (Loại bình thường): 02 cây chu vi 05 - 10cm (đường kính 1,5 – 3,1cm) x 559.500 = 559.500đ. Dâu ta: 03 cây chu vi 15cm (đường kính 4.8cm) x 71.000 =213.000đ. Nhãn ta: 01 cây chu vi 73cm (đường kính 23cm) x 1.257.000 = 1.257.000đ. Tai chua:01 cây chu vi 04cm (đường kính 01cm) x 35.000 = 35.000đ. Cóc 01 cây chu vi 105cm (đường kính 33cm) x 1.414.000 = 1.414.000đ. Na ta 01 cây chu vi 33cm (đường kính 11cm) x 360.5000 = 360.5000đ. Hồng xiêm: 02 cây (Trong đó: 01 cây chu vi 20cm (đường kính 06cm) x 142.000 = 142.000đ; 01 cây chu vi 70cm (đường kính 22cm) x 567.000 = 567.000đ. Hoa hải đường : 08 cây (Trong đó: 01 cây chu vi 07cm (đường kính 02cm) x 7.000 = 7.000đ; 07 cây chu vi 10cm (đường kính 03 cm) x 7.000 = 49.000đ.Chay: 01 cây chu vi 28cm (đường kính 09cm) x 142.000 = 142.000đ. M1 vàng 06 cây chu vi 10cm (đường kính 03cm) x 7.000 = 42.000đ. Mộc:07 cây chu vi 05cm (đường kính 02cm) x 7.000 = 49.000đ. Dứa: 158 cây x 3.500 = 553.000đ. Trám đen: 05 cây chu vi 15cm (đường kính 4.8cm) x 71.000 = 355.000đ. Đinh lăng lai: 56 cây chu vi 10cm (đường kính 03cm) x 7.000 = 392.000đ. Mít giống: 05 cây x 111.400 = 557.000đ. Phi lao: 07 cây chu vi 28cm (đường kính 09cm) x 33.300 = 233.100đ. Xà cừ: 04 cây chu vi 10cm (đường kính 03cm) x 27.400 = 109.600đ. Bàng Đài Loan (giống): 70 cây x 27.400 = 1.918.000đ. Xà cừ (giống) : 150 cây x 27.400đ = 4.110.000đ. Đào : 275 cây x 14.000 = 3.850.000đ. Sưa: 26 cây chu vi 20cm (đường kính 06cm) x 33.300 = 865.800đ. Trám :05 cây chu vi 10cm (đường kính 03cm) x 71.000 = 355.000đ Sắn: 71 cây (diện tích 85m²) x 7.000đ = 595.000đ. Lát (giống): 159 cây x 27.400₫ = 4.356.600đ. Bằng lăng tím (giống): 35 cây x 27.400 = 959.000đ. Bạch đàn: 02 cây chu vi 10cm (đường kính 03cm) x 12.400 = 24.800đ. Đàn hương: 08 cây chu vi 15cm (đường kính 4.8cm) x 27.400 = 219.200đ. Thanh Long 01 cây x 85.700₫ = 85.700đ. Tổng cộng: 49.387.800₫ (Bốn mươi chín triệu, ba trăm tám mươi bảy nghìn, tám trăm đồng) và các tài sản khác trên diện tích đất tranh chấp 1.874,3m² các bên không đề nghị thẩm định, định giá.
  4. Công ty cổ phần T5 có trách nhiệm thanh toán cho ông Dương Văn H2 và bà Trần Thị Bích S tiền 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng). Trong đó có 49.387.800₫ (Bốn mươi chín triệu, ba trăm tám mươi bảy nghìn, tám trăm đồng) tiền bồi thường tài sản, cây cối trên diện tích 1.874,3m² đất và 50.612.200đồng (Năm mươi triệu sáu trăm mười hai nghìn hai trăm đồng) tiền Công ty cổ phần T5 hỗ trợ.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, mà người phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ thanh toán, thì ngoài số tiền phải trả, người phải thi hành án còn phải trả lãi cho đến khi thi hành án xong đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự.

  1. Về chi phí tố tụng:

Chi phí thẩm định, định giá, đo đạc lại tài sản: Ông Dương Văn H2 phải chịu 7.500.000 đồng (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng) chi phí thuê đo đạc lại (xác nhận đã nộp). Ông Dương Văn H2 phải chịu chi phí thẩm định, định giá lại tài sản: 4.900.000₫ (Bốn triệu chín trăm nghìn đồng). Xác nhận ông Dương Văn H2 đã nộp đủ.

  1. Về án phí:

Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Dương Văn H2 và bà Trần Thị Bích P2 chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho Công ty cổ phần T5 số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai số: 0005411 ngày 10/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Thọ (nay là phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Phú Thọ).

Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Dương Văn H2 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Xác nhận ông H2 (do bà Trần Thị Bích N1 thay) đã nộp 300.000đ tiền tạm ứng án phí theo số biên lai số 0002737 ngày 12/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Thọ (nay là phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Phú Thọ).

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự.

  1. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - TAND, VKS khu vực 2 - Phú Thọ;
  • - Phòng THADS khu vực 2 - Phú Thọ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thu Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 229/2025/DS - PT ngày 25/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 229/2025/DS - PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất giữa Công ty TT và ông H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger