TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 229/2024/HSST Ngày : 15/11/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
---
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Huỳnh Hoàng Phương;
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Võ Kim Hường;
2/ Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh;
Thư ký phiên tòa: bà Trần Thị Ngọc Thuý là Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Linh là Kiểm sát viên;
Hôm nay, ngày 15 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thanh phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 221/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 268/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: PHẠM DƯƠNG NGỌC L; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1992 tại tỉnh Long An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ B, ấp K, xã M, huyện C, tỉnh Long An; Chỗ ở: 1 L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Sửa xe; Con ông Phạm Văn T, sinh năm 1968 và bà Phan Thị Thu C, sinh năm 1978; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/8/2024;
- Họ và tên: TRẦN QUỐC M; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1978 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Hoa; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 2 L, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 2 L, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Thợ sửa chữa điện lạnh; Con ông Trần Tô H (đã chết) và bà Trần N, sinh năm 1954; Vợ: Phạm Thị Tú U, sinh năm 1980; Con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/8/2024;
- Họ và tên: VŨ MẠNH H1; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1977 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 3 H, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 3 H, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Vũ Công K (đã chết) và bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1957; Vợ: Phạm Thị Hương L1, sinh năm 1983; Con: Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú;
- Họ và tên: NGÔ HẢI D; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1998 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 4 Â, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 4 Â, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Mua bán phụ tùng xe; Con ông Ngô Hữu H2, sinh năm 1971 và bà Tạ Thị H3, sinh năm 1969; Vợ: Phạm Châu Tâm N2, sinh năm 1998; Con: Có 01 con sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú;
- Họ và tên: PHAN QUỐC C1; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1965 tại thành phố Đà Nẵng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: A Ỷ, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: A Ỷ, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Phan Đức V (đã chết) và bà Trương Thị N3 (đã chết); Vợ: Mai Kim T1, sinh năm 1967; Con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 1987, nhỏ nhất sinh năm 1996; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú;
- Họ và tên: NGUYỄN PHI L2; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1993 tại tỉnh Vĩnh Long; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: C L, phường Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long; Chỗ ở: 8 B, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông Nguyễn Văn Út E, sinh năm 1968 và bà Mai Thị T2, sinh năm 1965; Vợ: Nguyễn Thị Hồng O, sinh năm 1989; Con: chưa có; Nhân thân: ngày 23/12/2016 bị Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, chấp hành xong hình phạt ngày 11/7/2018 (đã xoá án tích); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú;
- Họ và tên: NGUYỄN ĐÌNH T3; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1983 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 6 Đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 4 Kênh T, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Huỳnh Văn R (đã chết) và bà Nguyễn Thị H4, sinh năm 1951; Vợ: Đinh Thị Huyền N4, sinh năm 1986; Con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú;
- Họ và tên: TRẦN ANH T5; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1966 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: B Â, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: B Â, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ học vấn: 02/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Trần Văn H5 (đã chết) và bà Nhâm Thị Đ (đã chết); Vợ: Lâm Thị Ngọc T4, sinh năm 1970; Con: có 01 con sinh năm 1998; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú;
- Họ và tên: NGUYỄN HUY H6; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1988 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: C chung cư H, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: C chung cư H, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Nhân viên giao hàng; Con ông Nguyễn Văn L3 (đã chết) và bà Nguyễn Thị H7, sinh năm 1970; Vợ: Nguyễn Thị Mai E1, sinh năm 1992; Con: có 01 con sinh năm 2012; Nhân thân: Ngày 23/12/2008 bị Toà án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 (ba) năm tù giam về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/6/2010 (đã xoá án tích); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú;
(các bị cáo có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 26/7/2024, Trần Anh T5 gọi điện thoại rủ Trần Quốc M tổ chức đá gà ăn tiền tại trước số D Â, phường P, quận T, M chuẩn bị 01 con gà điều đỏ, còn T5 chuẩn bị 01 con gà xám đỏ, M đồng ý. Sau đó, M gọi điện thoại cho Vũ Mạnh H1 rủ đi đá gà ăn tiền và nhờ Mạnh H1 băng cựa sắt, thả gà rồi M sẽ trả tiền công cho H1 là 100.000 đồng, Mạnh H1 đồng ý. Trên đường đi đến địa điểm trên, M thấy Phạm Dương Ngọc L đang ở tiệm sửa xe tại số B L, phường P, quận T nên đã rủ Ngọc L cùng đi đá gà ăn tiền đồng thời nói với Ngọc L chốt đá sổ (tức là trực tiếp ăn thua với chủ gà bên kia) số tiền là 3.000.000 đồng, trường hợp chủ gà bên kia nâng tiền độ lên thì M sẽ chịu số tiền cược (cá độ) được nâng lên. Ngọc L đồng ý và đi cùng M đến địa điểm đá gà. Lúc này, Ngô Hải D, Nguyễn Phi L2 đang ở nhà số D Â, phường P, quận T thấy nhóm của M và nhóm của T5 đang tụ tập đá gà ăn tiền nên đến tham gia cùng.
Đối với Trần Anh T5, sau khi hẹn đá gà với M thì T5 đến gặp Nguyễn Huy H6 rủ đi đá gà ăn tiền và nhờ H6 băng cựa sắt, thả gà cho T5 với tiền công là 100.000 đồng, Huy H6 đồng ý và được T5 chở đến địa điểm đá gà. Lúc này, Phan Quốc C1 thấy nhóm Trần Anh T5 và nhóm Trần Quốc M ôm theo túi đựng gà đi trên đường nên đã rủ Nguyễn Đình T3 cùng đi tham gia cá cược đá gà ăn tiền, T3 đồng ý.
Đến khoảng 10 giờ 50 phút cùng ngày, hai nhóm đá gà gặp nhau tại trước số D Â, phường P, quận T. Lúc này, Trần Quốc M làm trọng tài còn T5 và Ngọc L thống nhất độ gà đá sổ (hai bên chủ gà cược với nhau) với số tiền 3.000.000 đồng mỗi bên. Phạm Dương Ngọc L là người đứng ra gom tiền cược đá sổ bên nhóm gà điều đỏ gồm: Ngọc L tham gia cá độ 2.000.000 đồng, Ngô Hải D tham gia cá độ 500.000, Nguyễn Phi L2 tham gia cá độ 500.000 đồng. Nếu gà điều đỏ thắng thì Ngọc L sẽ thu 5% trên số tiền thắng cược của những người tham gia để trả phí tiền gà cho M. Bên nhóm gà xám đỏ, Trần Anh T5 đứng ra nhận kèo cá cược và bỏ ra 3.000.000 đồng để cược với nhóm của Ngọc L. Sau khi hai bên thống nhất thì Vũ Mạnh H1 ôm gà điều đỏ của M ra băng cựa sắt; Nguyễn Huy H6 ôm gà xám đỏ của T5 ra băng cựa sắt chuẩn bị thả gà để đá thì Nguyễn Huy H6, Phan Quốc C1, Nguyễn Đình T3 mỗi người bỏ ra số tiền 1.000.000 đồng đặt cược cho gà xám đỏ của Trần Anh T5. T5 đồng ý và thống nhất sẽ thu 5% tiền trên số tiền thắng cược của các con bạc nếu gà xám đỏ của T5 thắng. Sau đó, T5 báo với Trần Quốc M nâng tiền cược đá gà lên là 6.000.000 đồng mỗi bên. Do đã được M trao đổi trước đó là nếu số tiền độ được nâng lên trên 3.000.000 đồng thì M sẽ góp tiền vào nên L đồng ý nâng tiền độ theo ý bên nhóm T5. Đến khoảng 11 giờ 10 phút cùng ngày, khi Huy H6 và Mạnh H1 chuẩn bị thả gà thì bị Công an quận T cùng Công an phường P, quận T kiểm tra hành chính đưa những người liên quan về Công an phường P làm rõ.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Phạm Dương Ngọc L; Trần Quốc M; Vũ Mạnh H1; Nguyễn Phi L2; Ngô Hải D; Phan Quốc C1; Nguyễn Đình T3; Trần Anh T5; Nguyễn Huy H6 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
* Vật chứng thu giữ:
- Một (01) con gà điều đỏ và một (01) con gà xám đỏ, các bị cáo dùng để đá gà ăn tiền. Cơ quan điều tra đã giao cho Chi nhánh D1 (Trung tâm H8) xử lý theo quy định;
- 02 cặp băng cựa dùng đá gà bằng kim loại, các bị cáo dùng để đá gà ăn tiền;
- Thu giữ của Nguyễn Phi L2: Số tiền 500.0000 đồng, Phi L2 dùng đánh bạc (Bút lục 109);
- Thu giữ của Trần Quốc M: Số tiền 3.000.000 đồng, M dùng để đánh bạc (Bút lục 116);
- Thu giữ của Phạm Dương Ngọc L: Số tiền 2.000.0000 đồng, Ngọc L dùng để đánh bạc (Bút lục 110);
- Thu giữ của Ngô Hải D: Số tiền: 500.0000 đồng, D dùng để đánh bạc (Bút lục 110);
- Thu giữ của Trần Anh T5: Số tiền 3.000.0000 đồng, T5 dùng để đánh bạc (Bút lục 117);
- Thu giữ của Nguyễn Huy H6: Số tiền 1.000.0000 đồng, H6 dùng để đánh bạc (Bút lục 113);
- Thu giữ của Phan Quốc C1: Số tiền 1.000.0000 đồng, C1 dùng để đánh bạc (Bút lục 114);
- Thu giữ của Nguyễn Đình T3: Số tiền 1.000.0000 đồng, C1 dùng để đánh bạc (Bút lục 115);
Các vật chứng trên hiện đã nhập kho theo phiếu nhập kho vật chứng số: 181/PNK ngày 02/8/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T (Bút lục A).
Tại phiên toà, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Tại bản cáo trạng số 240/CT-VKS ngày 09 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Phạm Dương Ngọc L, Trần Anh T5, Trần Quốc M, Vũ Mạnh H1, Nguyễn Phi L2, Ngô Hải D, Phan Quốc C1, Nguyễn Đình T3 và Nguyễn Huy H6 về tội “Đánh bạc” theo Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo theo như cáo trạng và đề nghị:
- Áp dụng Điều 17; Điều 35; Điều 50; Khoản 1 Điều 321; điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đề nghị xử phạt mỗi bị cáo Phạm Dương Ngọc L, Trần Quốc M, Vũ Mạnh H1, Ngô Hải D, Phan Quốc C1, Nguyễn Đình T3, Trần Anh T5 số tiền từ 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng đến 60.000.000 (sáu mươi triệu) đồng;
- Áp dụng Điều 17; Điều 35; Điều 50; Khoản 1 Điều 321; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đề nghị xử phạt mỗi bị cáo Nguyễn Phi L2 và Nguyễn Huy H6 số tiền từ 60.000.000 (sáu mươi triệu) đồng đến 80.000.000 (tám mươi triệu) đồng;
Các bị cáo Phạm Dương Ngọc L, Trần Anh T5, Trần Quốc M, Vũ Mạnh H1, Nguyễn Phi L2, Ngô Hải D, Phan Quốc C1, Nguyễn Đình T3 và Nguyễn Huy H6 nói lời sau cùng: các bị cáo rất hối hận về việc làm của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để các bị cáo có cơ hội sửa sai, làm lại cuộc đời;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với kết luận điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của những người liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 10 phút ngày 26/7/2024, tại trước số D Â, phường P, quận T, các bị cáo Phạm Dương Ngọc L, Trần Quốc M, Vũ Mạnh H1, Nguyễn Phi L2, Ngô Hải D, Phan Quốc C1, Nguyễn Đình T3, Trần Anh T5 và Nguyễn Huy H6 đã có hành vi đánh bạc ăn tiền bằng hình thức cá cược đá gà với số tiền đánh bạc là 12.000.000 (mười hai triệu) đồng thì bị phát hiện cùng tang vật. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội danh và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
Hành vi phạm tội của các bị cáo gây mất trật tự trị an xã hội. Hậu quả của các hành vi nêu trên là nguy hiểm cho xã hội, nó không chỉ xâm hại đến trật tự công cộng ở tại địa phương mà còn ảnh hưởng rất lớn đến tài sản của công dân vì đánh bạc là tệ nạn xã hội, thường là nguyên nhân dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng khác. Các bị cáo là người đã thành niên, đủ khả năng nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật nghiêm cấm và sẽ bị trừng trị nhưng do tham lam, hám lợi nên các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội bất chấp mọi hậu quả kể cả sự trừng trị của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm mục đích cải tạo, giáo dục các bị cáo từ bỏ con đường phạm pháp, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa các tệ nạn trong xã hội, giữ gìn trật tự công cộng, bảo vệ sức khỏe của nhân dân và xây dựng nếp sống văn minh lành mạnh.
[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có;
- - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo Ngọc L, M, Mạnh H1, D, C1, T3, T5 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với các bị cáo L, M, Mạnh H1, D, C1, T3 và T5; áp dụng quy định tại các điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với các bị cáo Phi L2 và Huy H6. Ngoài ra, các bị cáo đều là lao động chính trong gia đình, hiện đang nuôi vợ và con nhỏ còn độ tuổi đi học, các bị cáo Huy H6, Quốc M có hoàn cảnh khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương do đó các bị cáo còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Trong vụ án này, các bị cáo Huy H6, Mạnh H1 giữ vai trò hạn chế, là đồng phạm giúp sức trong việc băng cựa gà nên hình phạt dành cho các bị cáo có phần nhẹ hơn so với các bị cáo khác;
Trong vụ án này, bị cáo Phi L2 đã bị kết án về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” vào năm 2016 và bị cáo Huy H6 đã từng bị kết án về tội “Cướp giật tài sản” vào năm 2006 tuy nhiên đã được xoá án tích, căn cứ Khoản 2 Điều 2 của Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 thì các bị cáo cũng được xem là có nhân thân tốt, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), có nơi cư trú và công việc có thu nhập ổn định, các bị cáo hiện là lao động chính trong gia đình có xác nhạn của địa phương, các bị cáo Ngọc L và Quốc M cũng đã bị tạm giam một thời gian nhất định do đó nghĩ không cần thiết tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà nghĩ chỉ cần áp dụng Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt các bị cáo một số tiền nhất định cũng đủ tác dụng cải tạo các bị cáo không tiếp tục phạm tội, đồng thời thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội.
Do các bị cáo Phạm Dương Ngọc L và Trần Quốc M hiện đang bị tạm giam nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) trả tự do cho các bị cáo ngay tại phiên toà nếu các bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
[3] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào Khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì lẽ ra các bị cáo còn có thể bị phạt một khoản tiền bổ sung. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng nên miễn cho các bị cáo;
[4] Về xử lý vật chứng:
Đối với hai (02) cặp băng cựa dùng đá gà bằng kim loại là công cụ các bị cáo dùng để đá gà ăn tiền, hiện không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu huỷ;
Đối với số tiền 12.000.000 (mười hai triệu) đồng thu giữ của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy đây là số tiền sử dụng vào mục đích phạm tội nên tịch thu sung Ngân sách Nhà nước;
(Tình trạng vật chứng theo phiếu nhập kho vật chứng số 181/PNK ngày 02/8/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T).
[5] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Phạm Dương Ngọc L, Trần Anh T5, Trần Quốc M, Vũ Mạnh H1, Nguyễn Phi L2, Ngô Hải D, Phan Quốc C1, Nguyễn Đình T3 và Nguyễn Huy H6 phạm tội “Đánh bạc”;
- * Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; Điều 50; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Xử phạt bị cáo:
- Phạm Dương Ngọc L số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng;
- Áp dụng Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) trả tự do cho bị cáo Phạm Dương Ngọc L ngay tại phiên toà nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác;
- * Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; Điều 50; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Xử phạt bị cáo:
- Trần Quốc M số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng;
- Áp dụng Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) trả tự do cho bị cáo Trần Quốc M ngay tại phiên toà nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác;
- * Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; Điều 50; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Xử phạt bị cáo:
- Vũ Mạnh H1 số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng;
- * Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; Điều 50; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Xử phạt bị cáo:
- Ngô Hải D số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng;
- * Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; Điều 50; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Xử phạt bị cáo:
- Phan Quốc C1 số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng;
- * Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; Điều 50; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Xử phạt bị cáo:
- Nguyễn Đình T3 số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng;
- * Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; Điều 50; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Xử phạt bị cáo:
- Trần Anh T5 số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng;
- * Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; Điều 50; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Xử phạt bị cáo:
- Nguyễn Phi L2 số tiền 60.000.000 (sáu mươi triệu) đồng;
- * Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; Điều 50; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Xử phạt bị cáo:
- Nguyễn Huy H6 số tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng;
- Miễn khoản tiền phạt bổ sung cho các bị cáo;
- * Áp dụng Điều 106, Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Tịch thu tiêu huỷ hai (02) cặp băng cựa dùng đá gà bằng kim loại;
- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 12.000.000 (mười hai triệu) đồng;
- (Tình trạng vật chứng theo phiếu nhập kho vật chứng số 181/PNK ngày 02/8/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T).
- Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Kể từ ngày các bị cáo phải thi hành trách nhiệm dân sự như nêu trên cho đến khi thi hành xong, các bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi chậm thi hành án tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo quy định tại Điều 357 và 468 Bộ luật dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định pháp luật;
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Huỳnh Hoàng Phương |
Bản án số 229/2024/HSST ngày 15/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự tội "đánh bạc"
- Số bản án: 229/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự Tội "Đánh bạc"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Phạm Dương Ngọc L, Trần Anh T5, Trần Quốc M, Vũ Mạnh H1, Nguyễn Phi L2, Ngô Hải D, Phan Quốc C1, Nguyễn Đình T3 và Nguyễn Huy H6 phạm tội “Đánh bạc”
